1. Hiểu như thế nào về hoạt động khiêu dâm?

Theo Nghị định thư không bắt buộc bổ sung Công ước về quyền trẻ em, khiêu dâm có thể được hiểu là "bất kỳ hành vi nào, bằng bất kỳ phương tiện nào, mà trẻ em tham gia vào các hoạt động tình dục một cách rõ ràng, thật, hoặc mô phỏng, hoặc bất kỳ hình thức nào liên quan đến các bộ phận sinh dục của trẻ em với mục đích tình dục".

Khái niệm này cũng được ghi nhận trong một số văn bản pháp luật của Việt Nam, như Khoản 5 Điều 3 Nghị định số 178/2004/NĐ-CP ngày 15/10/2004 của Chính phủ, quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Phòng chống mại dâm, khiêu dâm là "hành vi sử dụng cử chỉ, hành động, hình ảnh, âm thanh gây kích thích ham muốn tình dục"; và Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 09/2010/TT-BVHTTDL ngày 24/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, quy định chi tiết thi hành một số quy định tại Nghị định số 75/2010/NĐ-CP ngày 12/7/2010 của Chính phủ, quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động văn hóa, khiêu dâm là "hành vi sử dụng hình ảnh, ngôn ngữ, âm thanh, hành động gợi tình, kích thích dâm ô, ham muốn tình dục trái với truyền thống đạo đức, thuần phong mỹ tục dân tộc Việt Nam, bao gồm: mô tả bộ phận sinh dục, khỏa thân, mô tả khỏa thân hoặc không khỏa thân nhưng kích thích tình dục, mô tả nhu cầu tình dục, thủ dâm dưới mọi hình thức" (tuy nhiên, văn bản này đã hết hiệu lực từ ngày 1/1/2014 và chỉ được sử dụng với mục đích tham khảo).

Mặc dù chưa có định nghĩa chính thức, các văn bản pháp luật hiện hành đã quy định các hành vi bị cấm và có thể bị xử phạt hành chính, bao gồm: bán, cho thuê hoặc phát hành phim, băng, đĩa phim có nội dung khiêu dâm; ghi hình ca múa nhạc, sân khấu có nội dung khiêu dâm; bán tranh, ảnh có nội dung khiêu dâm; sử dụng các phương thức phục vụ có tính chất khiêu dâm tại vũ trường, nhà hàng karaoke, cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng, giải khát hoặc các nơi hoạt động văn hóa và kinh doanh dịch vụ văn hóa công cộng khác... đều là các hành vi bị cấm và có thể bị xử phạt hành chính.

Hành vi khiêu dâm có thể hiểu là hành vi của một người sử dụng cử chỉ và lời nói nhằm mục đích quyến rũ hoặc điều khiển bản năng tình dục của người khác. Có thể phân loại thành các loại sau:

  • Khiêu dâm bằng cử chỉ: Người thực hiện hành vi khiêu dâm (thường là phụ nữ) sẽ mặc quần áo gợi cảm hoặc hở hang, hoặc thực hiện các hành động kích thích tình dục như tự xoa, cởi áo, hoặc tiết lộ cơ thể trong một không gian riêng tư. Những người mạnh mẽ hơn, gợi tình có thể kích thích đối tượng mà họ muốn đạt được bằng cách chạm hoặc tiếp xúc với cơ thể của họ.
  • Hình ảnh, video khiêu dâm: Sử dụng hình ảnh, video (thường thấy ở phụ nữ) trong tư thế nhạy cảm hoàn toàn hoặc một phần, để kích thích tình dục.
  • Khiêu dâm bằng lời nói: Dụ dỗ khán giả bằng những từ ngữ liên quan đến tình dục nghiêm trọng hoặc nhẹ, khiến người đó mất kiểm soát.

 

2. Dụ dỗ vị thành niên hoạt động khiêu dâm cấu thành tội gì?

Theo Điều 147 của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 ngày 27/11/2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 12/2017/QH14 ngày 26/06/2017 có quy định về Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm. Theo đó, hành vi dụ dỗ trẻ vị thành niên tham gia hoạt động khiêu dâm có thể được xem là hành vi phạm tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm, và chi tiết được mô tả như sau:

Về khách thể của tội phạm:

Hành vi sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm đại diện cho việc lợi dụng, dụ dỗ hoặc ép buộc người dưới 16 tuổi phô bày các phần nhạy cảm trên cơ thể.

Đây là một tội phạm xâm phạm vào quyền lợi tình dục, sức khoẻ, nhân phẩm và danh dự của người dưới 16 tuổi, cũng như sự phát triển tâm sinh lý bình thường của trẻ em. Tội phạm này là vi phạm quyền không thể xâm phạm về tình dục, thể chất, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự của người dưới 16 tuổi, cũng như ảnh hưởng đến sự phát triển tự nhiên của trẻ em từ mặt thể chất và tâm lý, và gây ảnh hưởng đến trật tự và an ninh xã hội.

Về mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm là hành vi lôi kéo, dụ dỗ hoặc ép buộc người dưới 16 tuổi tham gia trình diễn hoặc chứng kiến hành vi khiêu dâm dưới mọi hình thức.

Lôi kéo và dụ dỗ đề cập đến việc sử dụng lời nói dụ ngọt và lợi lộc để thuyết phục người khác thực hiện hành vi khiêu dâm hoặc chứng kiến hành vi khiêu dâm.

Theo hướng dẫn áp dụng Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP cho các điều 141, 142, 143, 144, 145, 146, 147 của Bộ luật Hình sự và xử lý vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi, trình diễn khiêu dâm là hành vi sử dụng cử chỉ, hành động, lời nói, chữ viết, ký hiệu, hình ảnh, âm thanh để kích thích tình dục người dưới 16 tuổi, phô bày bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm, khỏa thân, thoát y hoặc mô phỏng các hành động tình dục (bao gồm giao cấu, thủ dâm và các hành vi tình dục khác) dưới mọi hình thức.

Trực tiếp chứng kiến hành vi khiêu dâm là khi người dưới 16 tuổi chứng kiến trực tiếp người khác thực hiện hành vi khiêu dâm dưới mọi hình thức. Các hình thức biểu hiện của trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến hành vi khiêu dâm bao gồm:

  • Trình diễn khiêu dâm trực tiếp trước mặt người dưới 16 tuổi hoặc dụ dỗ người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm;
  • Chiếu trực tiếp cảnh trình diễn khiêu dâm có sự tham gia của người dưới 16 tuổi;
  • Dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc người dưới 16 tuổi tự chụp, quay lại cảnh trình diễn khiêu dâm của mình sau đó phát tán;
  • Dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc người dưới 16 tuổi khỏa thân và truyền tải trực tiếp âm thanh, hình ảnh qua internet (livestream);
  • Trình chiếu các ấn phẩm đồi trụy có sử dụng người dưới 16 tuổi hoặc hình ảnh mô phỏng người dưới 16 tuổi (hoạt hình, nhân vật được tạo ra bằng công nghệ số);
  • Mô tả bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của con người, trừ khi có hướng dẫn tại khoản 2 Điều 5 của Nghị quyết này;
  • Các hình thức biểu hiện khác của trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến hành vi khiêu dâm.

Trẻ em - người dưới 16 tuổi là nạn nhân của tội phạm này.

Điều 417 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Điều 6 Thông tư liên tịch 06/2018/TTLT-VKSNDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH quy định cách xác định tuổi của nạn nhân dưới 16 tuổi như sau:

Để xác định tuổi của người bị hại dưới 16 tuổi, căn cứ vào một trong các giấy tờ, tài liệu sau:

  • Giấy chứng sinh;
  • Giấy khai sinh;
  • Chứng minh nhân dân;
  • Thẻ căn cước công dân;
  • Sổ hộ khẩu;
  • Hộ chiếu.

Trong trường hợp đã áp dụng các biện pháp hợp pháp mà vẫn không xác định được chính xác tuổi của nạn nhân, thì xác định ngày, tháng, năm sinh của họ như sau:

  • Nếu chỉ xác định được tháng mà không xác định được ngày, thì lấy ngày cuối cùng của tháng đó làm ngày sinh.
  • Nếu chỉ xác định được quý mà không xác định được ngày, tháng, thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong quý đó làm ngày, tháng sinh.
  • Nếu chỉ xác định được nửa của năm mà không xác định được ngày, tháng, thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong nửa năm đó làm ngày, tháng sinh.
  • Nếu chỉ xác định được năm mà không xác định được ngày, tháng, thì lấy ngày cuối cùng của tháng cuối cùng trong năm đó làm ngày, tháng sinh.

Trong trường hợp không xác định được năm sinh, phải tiến hành giám định để xác định tuổi.

Tội phạm được coi là hoàn thành kể từ thời điểm có hành vi dụ dỗ, lôi kéo, ép buộc người dưới 16 tuổi thực hiện trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến hành vi trình diễn khiêu dâm.

Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của tội phạm có thể là bất kỳ cá nhân nào từ đủ 18 tuổi trở lên và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Nghị quyết số 06/2019/NQ-HĐTP, một số quy định trong Bộ luật Hình sự về xử lý các vụ án xâm hại tình dục người dưới 18 tuổi loại trừ xử lý hình sự đối với những trường hợp người làm công tác giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế mô tả bộ phận sinh dục, bộ phận nhạy cảm của con người vì mục đích giáo dục, khám, chữa bệnh, chăm sóc y tế.

Chủ thể tội phạm có thể là cá nhân độc lập hoặc có tổ chức. Trong các vụ án có đồng phạm, chủ thể tội phạm có thể bao gồm nhiều người cùng thực hiện tội phạm, hoặc chỉ có một người trực tiếp thực hiện tội phạm trong khi những người khác có thể là người tổ chức (chỉ huy việc thực hiện tội phạm), người xúi giục (lôi kéo, vận động người khác tham gia vào tội phạm) hoặc người giúp sức (chuẩn bị công cụ và hỗ trợ người thực hiện tội phạm).

Chủ thể tội phạm phải từ đủ 18 tuổi trở lên, và tuổi này được quy định riêng biệt trong Điều 147 của Bộ luật Hình sự, không áp dụng quy định về tuổi chịu trách nhiệm chung như tại Điều 12 của Bộ luật Hình sự.

Hơn nữa, chủ thể tội phạm phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bao gồm cả năng lực nhận thức và năng lực kiểm soát hành vi. Trường hợp người phạm tội không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc bị hạn chế năng lực hình sự, có thể loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 21 của Bộ luật Hình sự.

Mặt chủ quan của tội phạm:

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội nhận thức rõ rằng đối tượng của họ là trẻ em dưới 16 tuổi và hành vi phạm tội của họ nhằm mục đích làm cho trẻ em phô bày thân thể mà không liên quan đến quan hệ tình dục hoặc giao cấu. Dấu hiệu mục đích này là cách để phân biệt tội này với tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi hoặc tội dâm ô với người dưới 16 tuổi. Tuy nhiên, người phạm tội có nhận thức về hành vi của mình không nhằm mục đích giao cấu, mà nhằm mục đích thỏa mãn sự thú tính và dục vọng cá nhân của họ. Họ biết rằng hành vi của mình có thể gây tổn hại cho đứa trẻ, nhưng vẫn mong muốn hậu quả xảy ra. 

>> Xem quy định chi tiết tại: Tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm theo Điều 147 BLHS

 

3. Dụ dỗ vị thành niên hoạt động khiêu dâm bị phạt bao nhiêu năm tù?

Điều 147 của Bộ luật hình sự quy định ba khung hình phạt chính và một hình phạt bổ sung áp dụng cho người phạm tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm:

Hình phạt chính:

- Khung hình phạt từ 6 tháng đến 3 năm tù đối với trường hợp người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi thực hiện hành vi khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến hành vi khiêu dâm dưới mọi hình thức.

- Khung hình phạt từ 3 đến 7 năm tù khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: phạm tội có tổ chức; phạm tội hai lần trở lên; phạm tội với hai người trở lên; phạm tội với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh; phạm tội với mục đích thương mại; gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân, và tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; tái phạm nguy hiểm.

- Khung hình phạt từ 7 đến 12 năm tù khi người phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau: gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân, và tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên; làm nạn nhân tự sát.

Hình phạt bổ sung: Người phạm tội cũng có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định trong khoảng thời gian từ 1 đến 5 năm.

Mọi thắc mắc chưa rõ hay có nhu cầu hỗ trợ vấn đề pháp lý khác, quý khách hàng vui lòng liên hệ với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua số hotline: 1900.6162 để Luật Minh Khuê tư vấn trực tiếp..