Lời Mở Đầu

1.   Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm vừa qua, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới, với mức trung bình gần 8% một năm. Thành tựu này là sự tổng hòa của nhiều yếu tố như: sự phát triển của ngành công nghiệp, dịch vụ, sự gia tăng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài.Tuy nhiên, trong xu thế toàn cầu hóa với sự cạnh tranh khốc  liệt, để duy trì mức tăng trưởng như trên, một trong những việc Việt Nam phải làm là phát triển công nghiệp phụ trợ - nhân tố quan trọng thúc đẩy sự đi lên của khu vực sản xuất, cụ thể hơn là nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp sản xuất, đặc biệt là các doanh nghiệp lắp ráp.

Trên thực tế, các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam còn rất yếu kém. Điều này đã hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp lắp ráp, cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Thực trạng trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó phải kể đến việc hệ thống chính sách của Việt Nam chưa có khái niệm về công nghiệp phụ trợ cũng như những chính sách thúc đẩy riêng biệt. Nhưng trước vai trò tối quan trọng của công nghiệp phụ trợ, việc nhận thức đúng đắn và đi sâu nghiên cứu về ngành này là hết sức cần thiết, không chỉ với các cơ quan chức năng mà ngay cả các doanh nghiệp lắp ráp. Một vài năm gần đây, ngành công nghiệp phụ trợ cũng được đề cập nhiều trên các phương tiện thông tin đại chúng, đây có thể coi là một dấu hiệu tích cực cho sự phát triển ngành công nghiệp phụ trợ sau này.

 Bản thân người viết cũng rất quan tâm và theo dõi sát sao từng vấn đề liên quan tới các ngành công nghiệp phụ trợ Việt Nam, do đó em mạnh dạn chọn đề tài “Công nghiệp phụ trợ Việt Nam: Thực trạng và định hướng phát triển”.

>> Luật sư tư vấn luật đầu tư nước ngoài trực tuyến gọi: 1900.6162

2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trên cơ sở tập hợp nhiều quan điểm khác nhau về công nghiệp phụ trợ, người viết đưa ra cái nhìn chung nhất về công nghiệp phụ trợ cũng như quan điểm cụ thể ở Việt Nam, từ đó chỉ ra đặc điểm, vai trò và những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của công nghiệp phụ trợ. Cùng với việc xem xét kinh nghiệm phát triển công nghiệp phụ trợ của một số nước, kết hợp với việc phân tích một cách cụ thể thực trạng công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam thông qua một số ngành điển hình, người viết đưa ra những nhận định, đánh giá chung, từ đó nêu lên định hướng phát triển công nghiệp phụ trợ của chính phủ Việt Nam và các giải pháp phát triển ngành công nghiệp này.

3.   Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động trong ngành này ở Việt Nam.

Để có được cái nhìn bao quát, người viết đã thu thập số liệu từ năm 2000 cho tới nay để tiến hành nghiên cứu.

4.   Phương pháp nghiên cứu

4.1.    Phương pháp thu thập dữ liệu

Vì đây là vấn đề còn khá mới mẻ ở Việt Nam, nên việc thu thập những dữ liệu sơ cấp còn hết sức khó khăn, người viết chủ yếu sử dụng những dữ liệu thứ cấp từ một số tổ chức và cá nhân như Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp, Diễn đàn phát triển Việt Nam, Bộ Công nghiệp, Bộ Thương mại, các chuyên gia trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ...

4.2. Phương pháp phân tích dữ liệu

Việc phân tích dữ liệu được thực hiện với nhiều phương pháp:

Phương pháp so sánh được sử dụng trong việc so sánh số liệu đạt được của năm này so với năm khác, từ đó thấyđược xu hướng phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ.

Phương pháp chuyên gia nhằm tham khảo các ý kiến chuyên gia về công nghiệp phụ trợ để đưa ra các nhận định, rút ra các kết luận có tính chính xác hơn.

5.      Bố cục khóa luận

Bài viết được chia thành 3 chương:

Chương I: Tổng quan về công nghiệp phụ trợ.

Chương II: Thực trạng phát triển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam. Chương III: Định hướng và các giải pháp phát triển công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam.

Trước khi đi vào nội dung cụ thể, em xin gửi tới lời cảm ơn chân thành nhất tới thầy hướng dẫn Tiến sĩ Bùi Ngọc Sơn đã trực tiếp giúp đỡ em thực hiện đề tài này.     

Do vấn đề còn khá mới mẻ, chưa có đầy đủ thông tin và số liệu thống kê chính thức, dẫn đến còn nhiều thiếu sót trong việc tổng hợp và đánh giá vấn đề. Em mong được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và các bạn để hoàn thiện đề tài này.

CHƯƠNG I

 TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ

I. Khái niệm về công nghiệp phụ trợ

1.   Những cách hiểu về “công nghiệp phụ trợ” trên thế giới

Thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” (CNPT) được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm cả nước phát triển và đang phát triển. Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa có một cách hiểu chung nhất đối với thuật ngữ này. Tùy theo từng hoàn cảnh, mục đích sử dụng mà mỗi quốc gia đều có cách định nghĩa riêng về CNPT.

CNPT không phải là điều gì mới mẻ đối với các nước công nghiệp phát triển. Nó xuất hiện từ khi xã hội có sự phân công lao động ở trình độ cao. CNPT chính là tổng hợp các ngành công nghiệp vệ tinh phục vụ cho các ngành công nghiệp chính. Nước Mỹ, một nước có nền công nghiệp  phát triển bậc nhất thế giới đã đưa ra khái niệm về CNPT như sau: “CNPT là các ngành cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện và thực hiện quá trình hỗ trợ việc sản xuất các nguyên vật liệu và linh kiện đó nhằm phục vụ việc lắp ráp các sản phẩm công nghiệp cuối cùng”(9).

Tuy nhiên, thuật ngữ CNPT lại khôngbắt nguồn từ các nước đi đầu trong các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật ở Âu Mỹ mà ở Nhật Bản, một nước đi sau luôn đạt được những thành tựu lớn trong phát triển công nghiệp. Ngay trong giai đoạn phát triển thần kỳ, Nhật Bản đã xây dựng cơ cấu kinh tế “hai tầng” chú trọng ngay từ đầu khâu cung ứng nguyên vật liệu đầu vào. Nhật Bản đã thành lập các doanh nghiệp vệ tinh vừa và nhỏ trong nước có khả năng cung cấp và hỗ trợ các doanh nghiệp lớn các sản phẩm cấp thấp hơn hoặc các sản phẩm sơ chế…để góp phần tạo ra thế chủ động trong sản xuất cho các doanh nghiệp này. Nhưng một câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao thuật ngữ này lại xuất hiện ở Nhật Bản vào những năm 80 chứ không phải các quốc gia khác. Nguyên nhân xuất phát từ việc tăng giá của đồng Yên so với đồng Đô la sau hiệp định Plaza vào tháng 9 năm 1985, đã ảnh hưởng rất lớn tới các doanh nghiệp xuất khẩu của Nhật Bản. Các doanh nghiệp này phải giảm thiểu hoạt động xuất khẩu và phải chuyển hoạt động sản xuất sang các nước có nguồn lao động rẻ hơn. Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải nhập khẩu linh phụ kiện từ các nhà cung cấp Nhật Bản vì ngành công nghiệp này chưa phát triển tại các nước đang phát triển, đặc biệt là ASEAN 4. Do vậy, thuật ngữ CNPT được sử dụng để chỉ tình trạng thiếu công nghiệp sản xuất phụ tùng linh kiện tại các nước này. Đến năm 1985, lần đầu tiên MITI (Bộ Thương mại Quốc tế và Công nghiệp, sau đổi tên thành METI - Bộ Kinh tế Công nghiệp và Thương mại Nhật Bản) sử dụng thuật ngữ này trên trang Sách trắng về hợp tác quốc tế. Tuy nhiên, nó không được định nghĩa rõ ràng mà chỉ được hiểu là bao gồm các doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần tăng cường cơ sở hạ tầng công nghiệp ở các nước Châu Á trong trung và dài hạn hay là các doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất phụ tùng và linh kiện. Mục đích của MITI vào thời điểm đó là nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại các quốc gia ASEAN, đặc biệt là ASEAN 4 (bao gồm Malaysia, Indonesia, Philipin và Thái Lan. Năm 1993, METI đã chính thức đưa ra định nghĩa về CNPT trong chương trình hành động phát triển CNPT ở Châu Á. CNPT được định nghĩa như sau: “ CNPT là ngành công nghiệp sản xuất những vật dụng cần thiết như nguyên liệu thô, phụ tùng và hàng hóa tư bản…cho công nghiệp lắp ráp (gồm ô tô, điện, điện tử)”(9). Mục đích của METI lần này là nhằm giải quyết những bất cập tại ASEAN 4 như cơ sở hạ tầng chưa đầy đủ, thiếu công nhân lành nghề, vấn đề về thâm hụt thương mại và xúc tiến hợp tác công nghiệp giữa Nhật Bản và các quốc gia này. 

Trên đây là những cách hiểu về công nghiệp phụ trợ ở các nước có nền công nghiệp phát triển, vậy thuật ngữ này được hiểu như thế nào ở các nước có nền công nghiệp đang phát triển. Lấy ví dụ điển hình là Thái Lan, một trong những nước có nền CNPT phát triển nhất trong khu vực Đông Nam Á, Cục phát triển công nghiệp phụ trợ nước này (BSID) định nghĩa: “CNPT là các ngành cung cấp các linh phụ kiện máy móc và các dịch vụ kiểm tra cho các ngành công nghiệp cơ bản” (7).

Xem xét cách định nghĩa của ba nước tiêu biểu có thể thấy rằng mặc dù từ ngữ có thể khác nhau, nhưng vẫn có những điểm tương đồng trong cách hiểu về CNPT như sau:

Thứ nhất, đó là ngành công nghiệp, nghĩa là có sự kết hợp nhân tố con người và máy móc trong môi trường làm việc có tính chuyên môn hóa cao và trình độ nhất định.

Thứ hai, sản phẩm của CNPT là các sản phẩm trung gian và các tư liệu sản xuất. Lấy ví dụ như trong quá trình sản xuất các sản phẩm điện tử gia dụng thì các bộ phận sản xuất như: các bộ phận bằng nhựa và kim loại được gọi là các sản phẩm trung gian. Còn máy móc công cụ được dùng để sản xuất ra các bộ phận trung gian đó gọi là tư liệu sản xuất. Điều này để phân biệt với sản phẩm tự nhiên vì sản phẩm tự nhiên là các nguyên vật liệu thô có sẵn trong tự nhiên.

Xét về tổ chức kinh doanh, ngành CNPT phát triển ở ba loại hình doanh nghiệp: Thứ nhất là các nhà cung cấp linh kiện bộ phận và công cụ máy móc được đặt ở nước ngoài để tận dụng các ưu đãi đầu tư và phát huy tính kinh tế trong chuyên môn hóa. Thứ hai là các nhà cung cấp linh kiện bộ phận và các công cụ máy móc của nước ngoài đặt ở thị trường nội địa. Thứ ba là các nhà cung cấp linh kiện bộ phận và công cụ máy móc ở trong nước mà thường là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Khách hàng của các ngành CNPT là các nhà lắp ráp trong nước và nước ngoài đặt ở thị trường trong nước và các nhà lắp ráp nước ngoài đặt ở thị trường nước ngoài (trường hợp xuất khẩu linh kiện bộ phận máy móc). Các nhà lắp ráp nước ngoài thường là các công ty đa quốc gia.

2.  Quan niệm của Việt Nam về công nghiệp phụ trợ

Kể từ khi thuật ngữ “Công nghiệp phụ trợ” được nhắc đến trong Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản, chính thức thông qua vào năm 2003, nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trong việc thu hút dòng vốn FDI, người ta mới bàn luận nhiều về ngành công nghiệp này. Tuy vậy, khái niệm về CNPT vẫn còn mơ hồ, thậm chí các cơ quan nhà nước hữu quan cũng chưa thực sự hiểu rõ về bản chất của ngành CNPT. Thêm vào đó, hiện nay trong hệ thống luật pháp vẫn chưa có định nghĩa về CNPT.

Như vậy, từ việc xem xét các định nghĩa về CNPT của các quốc gia trên thế giới, người viết rút ra những nhận định chung về CNPT để làm cơ sở cho việc phân tích những vấn đề liên quan tới CNPT sau này:

Thứ nhất, ngành CNPT cần được coi là một cơ sở công nghiệp hoạt động với nhiều chức năng để phục vụ một số lượng lớn các ngành lắp ráp, chứ không nên coi nó đơn giản chỉ là ngành thu thập ngẫu nhiên những linh kiện sản xuất không liên quan.

Thứ hai, ngành CNPT không chỉ sản xuất linh kiện mà quan trọng không kém là thực hiện quá trình sản xuất hỗ trợ việc sản xuất các bộ phận nhựa và kim loại, ví dụ như cán, ép, dập khuôn…

Mô hình dưới đây biểu thị những nhận định trên:

 Hình 1: Ngành công nghiệp phụ trợ, gồm linh kiện và chế biến

Nguồn: Kyoshiro Ichikawa - Cục Xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản tại Hà Nội - "Báo cáo điều tra xây dựng tăng cường ngành CNPT ở Việt Nam (2004) "

II. Đặc điểm của công nghiệp phụ trợ

1.   Phạm vi của Công nghiệp phụ trợ phụ thuộc vào chính sách

Như đã phân tích ở trên, tùy vào trình độ phát triển, mục tiêu chính sách mà mỗi quốc gia đều có những cách hiểu riêng về CNPT. Có thể nói chính sách quyết định phạm vi của CNPT, tức là bao gồm những ngành nào và những sản phẩm nào. Phạm vi của CNPT được chia như sau:

·  Phạm vi chính: những ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện và công cụ để sản xuất các phụ tùng, linh kiện này.

·  Phạm vi mở rộng 1: những ngành công nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện và công cụ để sản xuất các phụ tùng, linh kiện này và các dịch vụ sản xuất như hậu cần, kho bãi, phân phối và bảo hiểm.  

·  Phạm vi mở rộng 2: những ngành công nghiệp cung cấp toàn bộ hàng hóa đầu vào gồm phụ tùng, linh kiện, công cụ máy móc và cả các nguyên vật liệu như thép, hóa chất...cho ngành công nghiệp lắp ráp.

Mô hình sau cụ thể những phạm vi của CNPT

Hình 2:  Phạm vi của công nghiệp phụ trợ

Nguồn: Nguyễn Thị Xuân Thúy, Diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF) -  "Công nghiệp hỗ trợ: Khái niệm và sự phát triển (2006)"

Theo quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020 của Bộ Công nghiệp, nước ta chủ yếu tập trung vào ưu tiên phát triển một số ngành CNPT mũi nhọn cho các ngành dệt may, gia dày, điện tử - tin học, sản xuất và lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo. Sản phẩm của các ngành CNPT theo quy hoạch trên không chỉ là những linh kiện máy móc, công cụ mà gồm cả các nguyên vật liệu như hóa chất, sản phẩm của quá trình chế biến như dập, ép, đúc, khuôn…Như vậy quy mô CNPT ở Việt Nam gần giống với quy mô mở rộng 2.

2.   Sản phẩm của CNPT có thể được dùng trong nước hoặc xuất khẩu

Sản phẩm của CNPT không chỉ đơn thuần phục vụ hay hỗ trợ các ngành công nghiệp nội địa. Đối với các nước có ngành CNPT phát triển, sản phẩm của ngành CNPT sau khi đảm bảo cung cấp cho công nghiệp trong nước có thể xuất khẩu sang các nước khác. Trong ASEAN, Thái Lan là nước dẫn đầu trong việc xuất khẩu các sản phẩm của CNPT. Trái lại, do ngành CNPT ở nước ta còn kém phát triển, hàng năm nước ta phải nhập khẩu một lượng lớn linh phụ kiện để phục vụ cho các nhà lắp ráp trong nước. Theo Bộ thương mại, 9 tháng đầu năm 2007, trong cơ cấu nhập khẩu, nguyên vật liệu sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, đặc biệt là các ngành dệt may, da giầy, điện tử, gỗ… phải nhập nguyên phụ liệu từ 70% -90% (17). Một vấn đề đặt ra ở đây là khả năng cạnh tranh của sản phẩm CNPT xuất khẩu đối với các sản phẩm nội địa. Khả năng cạnh tranh này phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhân công rẻ, có tay nghề, một hệ thống logistic hiệu quả để giảm thiểu chi phí và nâng cao chất lượng của sản phẩm xuất khẩu. Có như vậy, sản phẩm xuất khẩu mới chiếm lĩnh được thị trường nội địa.

3.   CNPT là ngành đòi hỏi nhiều vốn và trình độ công nghệ cao

Với chí phí cố định cao và hiệu quả theo quy mô ngày càng tăng, CNPT cần nhiều vốn hơn cả ngành lắp ráp sản phẩm. Trong khi, quá trình lắp ráp sản phẩm cần nhiều lao động thì việc sản xuất các linh kiện, bộ phận, công cụ lại cần nhiều máy móc và ít lao động hơn. Hơn nữa những máy móc này không thể chia nhỏ được (tức là không thể mua được từng phần). Một khi đã đầu tư lắp đặt hệ thống máy móc thì chi phí vốn cho nhà máy sẽ luôn ở một mức cố định cho dù hệ thống máy này được vận hành liên tục 24h/ngày hay chỉ vận hành trong thời gian nhất định. Còn lao động trong ngành CNPT phần lớn là các nhà vận hành máy móc, những kiểm soát viên về chất lượng sản phẩm, các kỹ thuật viên và các kỹ sư.  Do đặc điểm này mà các ngành CNPT ở các nước đang phát triển có xu hướng kém tính cạnh tranh hơn do họ không có khả năng tài chính và lao động có trình độ để tận dụng và vận hành tốt các thiết bị. Thậm chí chính phủ các nước đang phát triển lại coi ngành CNPT là ngành có công nghệ thấp trong khi trên thực tế nó lại là ngành cần nhiều vốn và đòi hỏi công nghệ cao.

4.   CNPT bao phủ một phạm vi rộng trong các ngành chế tạo

Hầu hết các sản phẩm công nghiệp đều được làm từ nhựa, kim loại và đều trải qua quá trình chế tạo ban đầu như cán, ép, đúc… và đều phải sử dụng các máy móc như: máy cán thép, khuôn đúc…Ngành CNPT lại gồm các nhà cung cấp các sản phẩm đó. Do vậy mà CNPT bao phủ một phạm vi rộng trong các ngành chế tạo. Thực tế, các ngành công nghiệp điện tử, ô tô, xe máy đều có chung ngành CNPT như cán ép nhựa, cán ép kim loại. Các sản phẩm điện tử gia dụng và xe máy đều sử dụng các bộ phận nhựa được sản xuất thông qua một quá trình tương tự nhau. Các sản phẩm điện tử xe máy, ô tô đều phải sử dụng các thiết bị ép kim loại. Do đó có thể nói rằng CNPT là nguồn tạo năng lực cạnh tranh cho nhiều ngành công nghiệp.

III. Vai trò của công nghiệp phụ trợ

1.   Vai trò

1.1.    Hỗ trợ ngành công nghiệp nội địa phát triển

         Đây có thể coi là vai trò dễ nhận thấy nhất của CNPT. Để minh họa cho vai trò này, ta lấy ví dụ điển hình là Nhật Bản, quốc gia có nền công nghiệp phát triển vào bậc nhất thế giới. Nhật Bản từ một đất nước nghèo nàn, bị tàn phá nặng nề sau thế chiến lần thứ hai, đã phát triển như vũ bão, trở thành hiện tượng “thần kỳ” Nhật Bản với những thành tựu lớn trong công nghiệp, không thua kém những nước có nền khoa học phát triển Âu Mỹ. Có được điều này chính là nhờ việc Nhật Bản chú trọng vào việc phát triển ngành công nghiệp phụ trợ, cụ thể hơn là việc thành lập các doanh nghiệp “vệ tinh” vừa và nhỏ trong nước có khả năng cung cấp và hỗ trợ các doanh nghiệp lớn.

1.2.      Nâng cao khả năng cạnh tranh cho hàng công nghiệp xuất khẩu

           Khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu phụ thuộc vào 3 yếu tố cơ bản: chi phí, chất lượng và  thời gian (khả năng cung cấp hàng nhanh chóng). Trong đó, chi phí có thể coi là nhân tố quan trọng hàng đầu. Chi phí của một sản phẩm bao gồm chi phí nguyên vật liệu đầu vào, chi phí nhân công, chí phí sản xuất và chi phí cho hoạt động logistic…Tùy vào đặc điểm từng ngành nghề, từng sản phẩm mà tỷ lệ giữa các chi phí có thể khác nhau. Tuy nhiên, xét đến sản phẩm công nghiệp thì chi phí về nguyên vật liệu đầu vào, linh kiện, phụ tùng lại là lớn nhất.

            Lấy ví dụ về hàng điện tử tiêu dùng, chi phí nhân công thường chỉ chiếm khoảng 10% tổng chi phí, trong khi đó chi phí về linh kiện lại chiếm tới 70% tổng chi phí.

            Như vậy, việc giảm chi phí về linh kiện sẽ hiệu quả hơn so với chi phí nhân công. Trong khu vực ASEAN, các quốc gia hầu như đều sở hữu nguồn nhân công giá rẻ. Do đó, cách tốt nhất để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu trong điều kiện giá nhân công tương đồng như vậy là giảm thiểu chi phí về nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng. Và để làm được điều này mỗi quốc gia cần phát triển mạnh mẽ nền CNPT, tạo khả năng canh tranh cho hàng xuất khẩu.

1.3.    Đón nhận chuyển giao công nghệ và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

            Phát triển CNPT là điều kiện thiết yếu để một quốc gia có thể tăng cường đón nhận chuyển giao công nghệ và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Các công ty nước ngoài, chủ yếu là các công ty đa quốc gia thường chọn những nơi có nền CNPT phát triển nhằm cắt giảm chi phí trong khâu nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng.

            Bên cạnh đó, CNPT phát triển sẽ thúc đẩy việc chuyển giao công nghệ từ các công ty đa quốc gia. Đi cùng với họ là máy móc, công nghệ hiện đại được chuyển giao sang nước tiếp nhận đầu tư. Như vậy, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, CNPT phát triển sẽ góp phần quan trọng trong đổi mới sản xuất, nâng cao nghiên cứu ứng dụng công nghệ hiện đại của một quốc gia.

2.   Sự cần thiết của việc phát triển CNPT ở Việt Nam

2.1.      Thu hút vốn đầu tư nước ngoài

            Vốn đầu tư nước ngoài đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng trưởng nền kinh tế của Việt Nam tăng trưởng  tế gần. Một trong những yếu tố các nhà đầu tư nước ngoài quan tâm khi đến Việt Nam là khả năng cung cấp tại chỗ các loại sản phẩm, phụ tùng, chi tiết, linh kiện phục vụ lắp ráp sản phẩm.

            Việt Nam là một trong những điểm đầu tư hấp dẫn trong khu vực Đông Á nhưng để duy trì và tăng cường hơn nữa nguồn vốn FDI chảy vào trong nước, Việt Nam không thể chỉ dựa mãi vào nguồn nhân công giá rẻ - một yếu tố khó có thể cạnh tranh với Trung Quốc, mà phải tập trung vào việc phát triển ngành CNPT.

2.2.      Thúc đẩy Công nghiệp hóa

            “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế - xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao”(1) Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ 8 đã đưa ra mục tiêu “ra sức phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp”. Để đạt mục tiêu trên đòi hỏi phải đưa ra chiến lược phát triển công nghiệp phù hợp, xử lý tốt mối quan hệ giữa các ngành công nghiệp. Nếu được phát triển hợp lý, CNPT có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đạt được mục tiêu trên.

IV. Những nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển của CNPT

1.    Quy mô cầu

            Quy mô cầu lớn là một điều thiết yếu để phát triển ngành CNPT. Điều này xuất phát từ thực tế rằng ngành CNPT là ngành đòi hỏi nhiều vốn và công nghệ hiện đại. Để giảm thiểu chi phí trên một đơn vị sản phẩm, các doanh nghiệp phải tính đến lợi thế kinh tế nhờ quy mô (ecnonomy of scale). Đó là lý do tại sao các nhà đầu tư muốn đảm bảo một thị trường có dung lượng lớn (hoặc ít ra có tiềm năng dung lượng lớn trong tương lai) trước khi ra quyết định đầu tư.

2.   Thông tin

            Tình trạng thiếu thông tin sẽ cản trở giao dịch giữa nhà sản xuất trong nước và nhà lắp ráp FDI. ở Việt Nam, các nhà lắp ráp FDI muốn tìm kiếm các nhà cung cấp nội địa nhưng họ gặp phải vấn đề là không biết tìm các nhà cung cấp này ở đâu. Nhiều doanh nghiệp Nhật Bản phải sử dụng danh bạ điện thoại và các mối quan hệ cá nhân để tìm ra các nhà cung cấp tiềm năng. Một công ty cho biết họ phải tới 100 doanh nghiệp để tìm ra một nhà cung cấp có năng lực. Điều này sẽ làm tiêu tốn thời gian và tiền bạc của các doanh nghiệp FDI. Hơn thế nữa, các nhà cung cáp nội địa cho đến nay vẫn chưa quan tâm tới việc xây dựng mối quan hệ với các doanh nghiệp FDI và còn thiếu tự tin khi hợp tác kinh doanh cùng họ.

3.   Tiêu chuẩn chất lượng

            Sự chênh lệch về tiêu chuẩn chất lượng giữa nhà cung cấp nội địa và các doanh nghiệp lắp ráp cũng là một yếu tố cản trở tới sự phát triển của CNPT. Lấy ví dụ ở Việt Nam, hiện nay đang tồn tại sự “khập khiễng”giữa nhà cung cấp nội địa và các doanh nghiệp lắp ráp Nhật Bản. Sự khập khiễng này được thể hiện ở chỗ các doanh nghiệp Việt Nam luôn phàn nàn các hãng của Nhật Bản quá khắt khe trong tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm, trong khi đó các hãng Nhật Bản lại cho rằng sản phẩm của Việt Nam chất lượng dưới mức yêu cầu. Điều đó dẫn tới một thực trạng trong khi phía công ty lắp ráp thiếu hụt trầm trọng các loại linh kiện và phải bù đắp bằng cách nhập khẩu thì các nhà sản xuất trong nước lại không dám bỏ vốn đầu tư để mua công nghệ sản xuất linh kiện phụ trợ đạt tiêu chuẩn của công ty lắp ráp vì họ sợ không được đặt hàng một cách ổn định.

4.   Nguồn nhân lực

            CNPT là ngành đòi hỏi nguồn nhân lực có trình độ cao. Hiện nay đa phần cho rằng nguồn nhân lực có trình độ cao còn quan trọng hơn máy móc hiện đại. Các chuyên gia Nhật Bản cho biết nếu chỉ đơn thuần dựa vào máy móc dây chuyền thì sẽ không tạo ra khả năng cạnh tranh quốc tế vì các quốc gia đều có thể sở hữu chúng. Do vậy, điểm làm nên điều khác biệt chính là đội ngũ nhân công có tay nghề cao vì họ chính là những người trực tiếp vận hành, cải tiến máy móc, phát minh ra những phương pháp mới nhằm nâng cao hiệu quả công việc. Có thể nói rằng, sự thành công của các doanh nghiệp trong ngành CNPT phụ thuộc rất lớn vào đội ngũ kỹ sư và chuyên gia.

5.   Chính sách của chính phủ

5.1.      Chính sách thuế

            Việc giảm thuế quan và những ưu đãi về thuế là công cụ chính sách quan trọng trong việc thúc đẩy CNPT phát triển.

            Giảm thuế quan sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh về mặt chi phí của các nhà lắp ráp và có thể biến quốc gia thành cơ sở xuất khẩu những thành phẩm. Hơn thế nữa, không phải quốc gia nào cũng sở hữu đầy đủ các loại nguyên liệu thô, do đó việc giảm thuế nhập khẩu các nguyên liệu thô sẽ góp phần giảm chi phí cho các doanh nghiệp phụ trợ.

            Một yếu tố khác để thúc đẩy CNPT là những ưu đãi về thuế. Những ưu đãi về thuế nên áp dụng cho cả các doanh nghiệp FDI và các nhà cung cấp nội địa mà không phân biệt quốc tịch. Các ưu đãi như miễn và giảm thuế doanh nghiệp, khấu trừ thuế cho việc mua máy móc…sẽ thúc đẩy đầu tư vào khu vực phụ trợ.

5.2.      Chính sách hỗ trợ khác

            Bên cạnh những chính sách về thuế, những chính sách hỗ trợ khác như: hỗ trợ công nghệ, hỗ trợ tài chính, hỗ trợ đào tạo … cũng góp phần đẩy nhanh tốc độ phát triển của ngành CNPT. Lấy ví dụ như Nhật Bản hay Thái Lan, chính phủ các nước này đều có những chương trình cụ thể như thành lập quỹ tài chính đầu tư vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, thành lập các trung tâm máy móc thiết bị, thành lập các ủy ban và tổ chức để hỗ trợ CNPT. Do đó, hai quốc gia này gặt hái được  nhiều thành công trong việc phát triển CNPT. Trái lại, nền CNPT Việt Nam còn non kém vì chưa có những chính sách khuyến khích hỗ trợ.    

V. Kinh nghiệm phát triển CNPT ở một số nước

            Việc nghiên cứu thực tiễn phát triển CNPT của các nước là vô cùng quan trọng để Việt Nam có thể đưa ra bước đi phù hợp cho mình. Trong phạm vi phần này chỉ xin giới thiệu mô hình phát triển CNPT ở một số nước thành công điển hình

1.   Kinh nghiệm phát triển CNPT của Nhật Bản

            Nhật Bản là quốc gia có nền công nghiệp phát triển nhất khu vực Đông Á. Các tập đoàn lớn của Nhật Bản như: Mitsubishi, Honda, Toshiba…đang khẳng định vị thế trên thị trường thế giới. Để có thành quả như hiện nay một phần là nhờ chính phủ Nhật Bản đã đưa ra chiến lược phát triển công nghiệp phù hợp, đặc biệt là việc quan tâm phát triển các ngành CNPT giúp đưa đất nước Nhật Bản từ chỗ phụ thuộc vào nước ngoài, công nghiệp yếu kém trở thành quốc gia tự chủ về kinh tế với trình độ công nghệ hiện đại nhất thế giới. Để phục vụ nhà máy lắp ráp, Nhật Bản có hàng nghìn các doanh nghiệp vệ tinh khác sản xuất các linh kiện phụ tùng hỗ trợ cho doanh nghiệp đó. Hiện ở Nhật Bản có nhiều tên tuổi tầm cỡ thế giới nhưng các công ty này chỉ chiếm 1% mà thôi và công việc chủ yếu vẫn là lắp ráp, sản xuất cuối cùng, còn 90% doanh nghiệp cấp thấp hơn sản xuất các linh kiện cho những công ty này là các doanh nghiệp vừa và nhỏ.

            Đặc biệt, chính phủ Nhật Bản còn có những chính sách nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhật Bản luôn quan tâm đến doanh nghiệp vừa và nhỏ và luôn đánh gía họ rất cao trong việc thúc đẩy ngành CNPT phát triển. Từ năm 1936, đã có quỹ tài chính đầu tư vốn cho doanh nghiệp loại này. Chỉ mất 3 ngày, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể vay vốn. Ngoài ra, chính phủ Nhật Bản còn thành lập những đơn vị bảo lãnh tín dụng có khả năng bảo lãnh cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi họ vay vốn cho các doanh nghiệp tư nhân khác. Bên cạnh những hỗ trợ về tài chính, chính phủ Nhật Bản còn hỗ trợ về công nghệ. ở Nhật Bản hiện có tới 110 trung tâm hỗ trợ máy móc thiết bị để giúp đỡ các công ty nhỏ với khả năng tài chính có hạn có thể tiếp cận với máy móc thiết bị mới. Ngoài ra chính phủ Nhật Bản còn xây dựng 47 trung tâm hỗ trợ công nghệ. Nhật Bản còn quan tâm tới việc xúc tiến các liên kết giữa các nhà cung cấp linh kiện, thường là các doanh nghiệp nhỏ với các công ty lớn bằng việc thiết lập cơ sở dữ liệu về CNPT. Các địa phương đều có cơ sở dữ liệu riêng với sự tham gia của các quan chức chính quyền, các doanh nghiệp, các nhà nghiên cứu. Các cơ sở dữ liệu này có chất lượng cao cung cấp thông tin chi tiết về các nhà cung cấp và rất dễ tiếp cận.

            Vấn đề nhân lực cũng là một trong những chiến lược của Nhật Bản. Nhật Bản đã thiết lập hệ thống mang tên “meister” ở cấp quốc gia, tỉnh thành phố và công ty. Meister là thuật ngữ theo tiếng Đức dành cho người lao động có kỹ thuật cao trong các ngành chế tạo. Như vậy, chính sách phát triển nguồn nhân lực được phối hợp thực hiện ở tất cả các cấp nhằm khuyến khích lao động có trình độ kỹ thuật tốt ngày càng hoàn thiện chất lượng và họ được xã hội thừa nhận. Những kinh nghiệm từ việc nghiên cứu chính sách của Nhật Bản sẽ vô cùng có ích cho việc quy hoạch phát triển CNPT ở Việt Nam hiện nay.

2.   Kinh nghiệm phát triển CNPT ở Thái Lan

            Ở Thái Lan, từ lâu người ta đã nhận ra là cần phải khuyến khích sự phát triển của CNPT và nhu cầu cấp bách này càng trở nên rõ ràng hơn khi Thái Lan theo đuổi chiến lược hướng ra xuất khẩu. Thái Lan đã tận dụng lợi thế việc các công ty Nhật Bản ồ ạt đầu tư sang các nước ASEAN để phát triển CNPT trong nước. Với chính sách thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài có chọn lọc, Thái Lan đã đưa ra nhiều ưu đãi về thuế, thành lập các khu tự do thương mại cho các dự án đầu tư vào phát triển các ngành công nghiệp trọng điểm.

            Bên cạnh các chính sách ưu đãi cho phát triển CNPT, Thái Lan còn thành lập các ủy ban hỗ trợ về vấn đề này và các tổ chức chuyên lo phát triển xây dựng và hình thành mối liên kết công nghiệp trong nước. Năm 1985, Thái Lan đã thành lập Phòng phát triển CNPT (BSID) trong Uỷ ban xúc tiến công nghiệp (DIP) thuộc Bộ Công nghiệp với sự hỗ trợ của Nhật Bản. Mục tiêu chính của BSID là hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước hoạt động trong các ngành CNPT như phối hợp với Nhật Bản tổ chức các khóa đào tạo, nâng cao trình độ tay nghề cho các lao động trong các doanh nghiệp này, và đưa ra quy hoạch tổng thể cho phát triển CNPT. Uỷ ban đầu tư Thái Lan (BOI) đã thành lập bộ phận liên kết công nghiệp (BUILD) để thúc đẩy hợp tác giữa các công ty trong nước và các công ty nước ngoài trong ngành CNPT. Bộ phận này chịu trách nhiệm cung cấp thông tin về cơ sở dữ liệu các nhà cung cấp. Uỷ ban xúc tiến công nghiệp DIP cũng đưa ra chương trình phát triển các nhà cung cấp quốc gia (NSDP) và bắt đầu thực hiện nó.

            Hiện nay Thái Lan đã có đến 19 ngành CNPT ở 3 cấp: lắp ráp, cung cấp thiết bị phụ tùng và linh kiện, dịch vụ. Riêng trong ngành công nghệ ô tô với mục tiêu trở thành Detroite Châu Á, Thái Lan đã có đến 2000 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, trong đó gần 400 nhà sản xuất chuyên về phôi đúc hoặc rèn khiến từ chỗ từng bước nội địa hóa phụ tùng nay Thái Lan đã xuất khẩu cả ô tô với linh kiện được sản xuất tại chỗ. Mặc dù có 15 nhà máy lắp ráp, nhưng Thái Lan có đến 1800 nhà cung ứng. Chính phủ Thái Lan từ việc quy định về tỷ lệ nội địa hóa (1996): 40% với xe tải nhỏ, 54% với xe tải khác đã tiến đến yêu cầu động cơ diesel phải được sản xuất trong nước. Hiện nay, khi đã hội đủ năng lực nền tảng của CNPT, Thái Lan có chính sách buộc các nhà đầu tư nước ngoài đã ổn định trong sản xuất kinh doanh phải thay đổi theo chiến lược để tuân thủ tỷ lệ nội địa hóa trên. Điều này kéo theo những dự án đầu tư mở rộng nhà xưởng sản xuất ngay tại chỗ đồng thời kéo theo các công ty, tập đoàn lớn từ chính nước họ sang đầu tư ở Thái Lan để mở thêm các cơ sở CNPT. Hiện nay, Thái Lan đang đứng đầu các nước ASEAN về phát triển CNPT. 

3.   Kinh nghiệm phát triển CNPT ở Malaysia

            Cũng giống như Thái Lan, Malaysia theo đuổi chiến lược khuyến khích FDI có chọn lọc để thúc đẩy phát triển CNPT. Tuy nhiên, ở Malaysia có những điển hình thành công nổi bật khác có ích cho việc học hỏi kinh nghiệm, giúp phát triển CNPT ở Việt Nam. Trước hết, phải kể đến việc thành lập và đi vào hoạt động của trung tâm phát triển kĩ năng Penang (PSDC) đã đóng góp quan trọng vào sự phát triển của CNPT. PSDC đã cung cấp chương trình nâng cao trình độ công nghiệp cho các lao động trong các công ty và những người vừa tốt nghiệp. Nó còn đưa ra sáng kiến về chương trình cung cấp toàn cầu (GSP) giúp giảm khoảng cách thông tin giữa các công ty đa quốc gia và các nhà cung cấp linh kiện trong nước. Với một lượng lớn FDI đổ vào Penang trong những năm 1980, đặc biệt trong ngành công nghiệp điện tử, nhu cầu lao động có trình độ để có thể vận hành được các dây chuyền sản xuất hiện đại càng trở nên bức thiết. Để đáp ứng yêu cầu của các công ty đa quốc gia, chính quyền tỉnh Penang đã thành lập trung tâm PSDC vào năm 1989. PSDC cung cấp các khóa đào tạo về kỹ thuật và quản trị kinh doanh cho một số lượng lớn nhân viên của các công ty cũng như những người đã tốt nghiệp các trường trung học. PSDC còn cung cấp công nghệ hiện đại thường xuyên được cập nhật, điều này mang lại lợi ích cho các ngành CNPT trong nước. Các chương trình ở Penang đào tạo tại các công ty thành viên soạn thảo và luôn được cập nhật để phù hợp với nhu cầu thị trường. PSDC còn là nơi các công ty đa quốc gia và các nhà cung cấp trong nước gặp gỡ trao đổi thông tin cả chính thức lẫn không chính thức thông qua các khóa đào tạo kỹ thuật. Do tác động kết hợp của việc nâng cao công nghệ và giảm khoảng cách thông tin, PSDC đã góp phần vào sự phát triển của các liên kết. Tỷ lệ mua sắm nội địa của công ty Sony EMCS tại Penang đã đạt trung bình khoảng 30%-40%, tỷ lệ này đã xấp xỉ mức trung bình của thế giới về tỷ lệ mua sắm nội địa các công ty đầu tư Nhật Bản (40,3% trong năm 2003). Mô hình này có thể mang lại bài học quý giá cho Việt Nam trong việc thực hiện các chương trình phát triển CNPT hiện nay và trong tương lai.

            Như vậy, việc xem xét những vấn đề cơ bản của CNPT như: khái niệm, đặc điểm, vai trò, các nhân tố ảnh hưởng…trong chương này là hết sức cần thiết. Bởi lẽ, từ những vấn đề cơ bản mang tính chất lý luận, người viết có thể soi rọi vào thực tiễn phát triển các ngành CNPT ở Việt Nam, phát hiện ra những vấn đề còn vướng mắc của các ngành này, từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp phát triển cho CNPT ở Việt Nam trong thời gian tới.

CHƯƠNG II

THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ VIỆT NAM

I. Vị trí của CNPT Việt Nam trong mối tương quan với các nước khác

1.   Vị trí

Trước hết, nếu so sánh trình độ phát triển công nghiệp của Việt Nam hiện nay so với các quốc gia Châu Á, các chuyên gia cho rằng trình độ đó tương đương với Trung Quốc hồi những năm 80 của thế kỷ trước hoặc Malaysia  hồi những năm 70. Còn nếu so sánh với Hàn Quốc thì trình độ phát triển công nghiệp Việt Nam phải lùi lại thêm 10 năm, tức tương đương với trình độ phát triển công nghiệp của Hàn Quốc những năm 60. Còn nếu so sánh với Nhật Bản càng kém xa, chỉ tương đương những năm 20. Có thể những so sánh trên chỉ mang tính chất tương đối, nhưng mục đích của các chuyên gia khi đưa ra những phát biểu này là nhằm nhấn mạnh một thực trạng rằng: CNPT Việt Nam còn yếu kém. Bởi lẽ ngành CNPT được ví như chân núi, tạo phần cứng để hình thành nên thân núi và đỉnh núi - chính là ngành công nghiệp sản xuất và lắp ráp sản phẩm công nghiệp hoặc tiêu dùng. Thông thường, ngành CNPT phát triển trước, làm cơ sở để ngành công nghiệp chính yếu như ô tô, xe máy, điện tử, dệt may, giày da…phát triển. Do đó, sự yếu kém của ngành công nghiệp Việt Nam cũng xuất phát từ sự yếu kém của ngành CNPT.

            Trên thực tế, có rất nhiều nguồn thông tin nói rằng các ngành công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam không tồn tại hoặc chỉ ở mức độ sơ khai. Tuy nhiên, kết quả điều tra 78 cơ quan và doanh nghiệp Việt Nam (19 Bộ, cơ quan Chính phủ Việt Nam, 26 doanh nghiệp Việt Nam, 33 doanh nghiệp có liên quan đến nước ngoài) của Cục xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản JETRO gần đây về tình hình xây dựng và phát triển CNPT ở Việt Nam cho thấy các nhận định đó đều không hoàn toàn xác thực. Sẽ xác thực hơn khi nói rằng CNPT Việt Nam đang bắt đầu phát triển.  Để dễ hình dung, ta chia sự phát triển của CNPT  thành các giai đoạn khác nhau thì Việt Nam đang ở giai đoạn đầu, Thái Lan ở giai đoạn giữa còn Nhật Bản đạt tới trình độ phát triển cao nhất.

            Phát triển CNPT là điều kiện thiết yếu để một quốc gia có thể tăng cường đón nhận chuyển giao công nghệ và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Căn cứ trên điều kiện này, Việt Nam vẫn chưa thực sự hấp dẫn nhà đầu tư, bởi lẽ ngành CNPT còn phát triển chậm chạp, chưa đáp ứng yêu cầu của các nhà đầu tư cũng như chưa sẵn sàng cho một trào lưu đổ vốn đầu tư vào nền sản xuất công nghiệp khi nền kinh tế thực sự mở cửa. Để minh chứng cho điều này, ta đơn cử một ví dụ cụ thể về sự chậm trễ trong khả năng cung ứng của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng Việt Nam. Thông thường phải mất tối thiểu 3 năm các doanh nghiệp Nhật Bản mới có thể được các nhà sản xuất linh kiện phụ tùng Việt Nam cung cấp đầy đủ các loại linh kiện phụ tùng phù hợp sau khi kí hợp đồng. Đây là một khoảng thời gian quá dài đối với các nhà sản xuất Nhật Bản. Không chỉ chậm trễ về mặt thời gian giao hàng, các doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng của Việt Nam còn bán với mức giá cao hơn so với phụ tùng cùng loại nhập khẩu từ các nước Đông Nam Á khác. Điều đó cho thấy khả năng cạnh tranh của ngành CNPT Việt Nam kém hơn so với các nước láng giềng. Và nếu các nhà sản xuất Việt Nam không vượt lên được tình trạng này thì rõ ràng, một thực tế sẽ xảy ra là các nhà đầu tư sẽ lựa chọn một quốc gia Đông Nam á khác làm mảnh đất dừng chân để rót vốn đầu tư của họ chứ không phải là Việt Nam.

2. Nguyên nhân

            Sở dĩ CNPT Việt Nam còn nhiều vấn đề tồn tại, khả năng cạnh tranh của CNPT Việt Nam còn kém hơn các nước trong khu vực xuất phát từ 2 nguyên nhân chủ yếu. Thứ nhất, nhận thức của bản thân các doanh nghiệp Việt Nam về tầm quan trọng của CNPT còn chưa cao. Từ trước đến nay, các doanh nghiệp quốc doanh, chủ thể chính trong lĩnh vực này lại thường hoạt động theo kiểu trọn gói (sản xuất từ A đến Z). Do đó, họ hầu như không có khái niệm về ngành CNPT. Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ nhận thức của Nhà nước. Hiện nay, trong hệ thống luật pháp, vẫn chưa có định nghĩa về ngành CNPT, dẫn đến việc trong các qui định pháp quy không hề có chính sách khuyến khích đầu tư và phát triển ngành CNPT.

II.       Thực trạng chung của các ngành CNPT

Do ở thời kì đầu của sự phát triển, CNPT Việt Nam còn gặp phải nhiều vấn đề khó khăn, những hạn chế; song bên cạnh đó, không thể phủ nhận những thành tựu nhất định mà chúng ta đạt được.

1.   Những vấn đề tồn tại

            Có thể nói rằng ngành CNPT Việt Nam còn rất non yếu. Theo ước tính của Bộ Công nghiệp, ngành CNPT hiện lệ thuộc đến gần 80% vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Trong cơ cấu nhập khẩu, nguyên vật liệu sản xuất chiếm tỷ trọng lớn, đặc biệt là các ngành dệt may, gia dày, điện tử, gỗ… phải nhập nguyên phụ liệu tới 70-90%(17).Thực trạng này là do các doanh nghiệp Việt Nam không muốn đầu tư nhà xưởng vì lâu thu hồi vốn, họ chỉ thích nhập về bán lại thu lợi nhuận.

            Trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua, Việt Nam đã tiếp cận khá thuận lợi nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên các doanh nghiệp Việt Nam đang bỏ lỡ một cơ hội lớn là trong khi các nguồn vốn đầu tư nước ngoài chảy vào mạnh thì khả năng hấp thụ, tiếp thu chuyển giao công nghệ từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lại hạn chế. Lý do chính là Việt Nam thiếu vắng hẳn một nền CNPT. Có quá ít doanh nghiệp Việt Nam làm CNPT, nếu có thì chủ yếu tham gia khâu đóng gói, bao bì. Hiện tại, phần lớn các nhà cung cấp linh kiện phụ tùng cho các công ty nước ngoài chủ yếu là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Khoảng cách về tiêu chuẩn chất lượng giữa các nhà doanh nghiệp trong và ngoài nước khá lớn. Doanh nghiệp trong nước có quy mô nhỏ và vừa nên khả năng đáp ứng về yêu cầu chất lượng kém.

            Các doanh nghiệp quốc doanh trong ngành CNPT vẫn duy trì phong cách làm ăn tự cung tự cấp. Thực tế, Việt Nam có rất ít thông tin liên kết thầu phụ công nghiệp. Vì vậy, không tìm kiếm được những thông tin về khả năng giao thầu của doanh nghiệp lớn, nhất là doanh nghiệp nước ngoài và ngược lại, các doanh nghiệp nước ngoài cũng ít thông tin về doanh nghiệp Việt Nam. Thêm nữa, các doanh nghiệp nước ngoài thực sự ngần ngại khi phải ký kết hợp đồng thương mại với các nhà thầu phụ Việt Nam do môi trường pháp lý chưa thực sự thuận lợi. Vấn đề chính là nỗi lo sợ khi bị phá vỡ hợp đồng. Các nhà cung ứng Việt Nam thiếu hiểu biết về các khía cạnh pháp lý của hợp đồng. Bên cạnh đó, việc liên kết doanh nghiệp có ý nghĩa về mặt nâng cao khả năng cạnh tranh trong nội bộ ngành, sử dụng lợi thế cạnh tranh của khu vực, khai thác chuỗi giá trị để tạo nên sản phẩm mang tính cạnh tranh cao. ở nhiều nước, việc liên kết này có thể hình thành thông qua việc phát triển các cụm công nghiệp. Trên thực tế, ở Việt Nam các cụm công nghiệp được hình thành thiếu quy hoạch tổng thể, chủ yếu để giải quyết vấn đề mặt bằng sản xuất hơn là việc tạo nên chuỗi giá trị thông qua việc liên kết doanh nghiệp, kể cả sử dụng các dịch vụ tài chính và phi tài chính để khai thác lợi thế cạnh tranh.      

2.   Những thành tích đạt được

            Tuy ngành CNPT Việt Nam còn tồn tại những điểm yếu kém nhưng không thể phủ nhận một thực tế là nước ta đang từng bước phát triển CNPT. Thành tích đạt được còn chưa nhiều song cũng là cơ sở và động lực để phát triển ngành CNPT về lâu về dài. Ngành CNPT Việt Nam đang bắt đầu phát triển được thể hiện qua các yếu tố sau: sự phát triển của ngành công nghiệp, luồng đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng lên, việc cải cách doanh nghiệp nhà nước đang được tiến hành nhanh chóng…Việc thu hút nguồn vốn FDI đã được đề cập ở phần trên nên người viết chỉ đi sâu vào phân tích sự phát triển của ngành công nghiệp và công cuộc cải cách doanh nghiệp nhà nước.

            Trong những năm vừa qua, công nghiệp được xem là một trong những lĩnh vực phát triển mạnh, có mức tăng trưởng cao. Chỉ tính riêng quý I/2007, kim ngạch xuất khẩu cả nước tăng hơn 18 % cùng kỳ. Trừ mặt hàng xe đạp và phụ tùng, hầu hết các mặt hàng trong danh mục hàng công nghiệp xuất khẩu chủ lực như hàng điện tử và linh kiện máy tính, sản phẩm nhựa, dây và cáp điện…đều có mức tăng trưởng trên 20% trở lên(22)

            Về việc cải các doanh nghiệp nhà nước: hiện nay Việt Nam có khoảng 6000 doanh nghiệp nhà nước. Tùy thuộc vào chất lượng, khả năng và phương thức quản lý, các doanh nghiệp nhà nước đang bắt đầu phân hóa thành những doanh nghiệp thành công và doanh nghiệp thất bại. Một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động có hiệu quả cao đã thực hiện việc cổ phần hóa và tự chủ về quản lý. Thậm chí nhiều lãnh đạo làm việc một thời gian dài trong các công ty nhà nước này đã bắt đầu nhận thức và hòa nhập vào những cơ hội kinh doanh mới. Đây là những doanh nghiệp đóng vai trò trụ cột trong việc xây dựng các ngành CNPT.

            Bên cạnh đó một số doanh nghiệp nhà nước có quy mô lớn đã bắt đầu bỏ hình thức sản xuất tích hợp theo chiều dọc trước đây và chuyển sang hình thức chuyên môn hóa sản phẩm và quy trình mà họ có khả năng cạnh tranh. Thậm chí, một số doanh nghiệp nhà nước đã nỗ lực xây dựng một mạng lưới sản xuất dựa trên việc chuyên môn hóa.

            Ví dụ nhà máy Diesel Sông Công (DISOCO) ở miền Bắc chuyên sản xuất động cơ diesel cho tàu thủy và máy nông nghiệp. Đây từng là một nhà máy lớn có cấu trúc sản xuất tích hợp theo chiều dọc đối với nhiều sản phẩm được sản xuất trong dây chuyền lớn của mình, ví dụ như cán, đúc, xử lý mặt kim loại, nung và lắp ráp. Tuy nhiên, hiện nay, nhà máy này tập trung vào việc cán ép kim loại, trong khi một doanh nghiệp ngay gần bên, đó là Công ty Phụ tùng Máy móc số 1(FUTU 1), thực hiện công đoạn cải thiện chức năng của máy móc. Kết quả là hai doanh nghiệp nhà nước này hợp tác với nhau dựa trên quá trình chuyên môn hóa. Bên cạnh đó, DISOCO hy vọng rằng công việc cán ép kim loại này không chỉ phục vụ hoạt động kinh doanh của nó, mà còn có thể nhận được đơn đặt hàng từ các nhà lắp ráp xe máy của Nhật Bản. Để thực hiện được điều này, doanh nghiệp đã đầu tư trang thiết bị mới và cải thiện công nghệ sản xuất. Sự thay đổi như thế chưa từng xảy ra trong các doanh nghiệp Nhà nước có quy mô lớn trong qúa khứ. Mặt khác, FUTU 1 cũng sử dụng máy móc có độ chính xác cao để cung cấp linh phụ kiện cho một nhà máy lắp ráp xe máy Nhật Bản. Không như các doanh nghiệp Nhà nước truyền thống, xưởng sản xuất của nhà máy này rất sạch sẽ và được bố trí hợp lý và hoạt động sản xuất được diễn ra với cường độ cao.

            Ở Việt Nam đã có những thành công điển hình nhờ đầu tư phát triển CNPT, trong đó phải kể đến ngành đóng tàu Việt Nam. Trong mấy năm gần đây, nhờ chủ trương hỗ trợ phát triển ngành cơ khí của Nhà nước, ngành đóng tàu Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin đã ký kết hợp đồng trị giá đến 6 tỷ USD, đủ việc làm từ nay đến năm 2012. Ngoài các đơn hàng gia công cho khách hàng nước ngoài, trong năm 2006, Vinashin đã ký hợp đồng đóng tàu 150.000 tấn chở dầu cho Tập đoàn Dầu khí(20). Có được những thành công trên chính là nhờ chiến lược tập trung đầu tư bài bản các dự án công nghiệp phụ trợ cho ngành công nghiệp đóng tàu. Do công nghiệp đóng tàu là ngành công nghiệp tổng hợp nhiều ngành khác, sử dụng sản phẩm của nhiều ngành nên Vinashin tập trung vào hai ngành CNPT là cơ khí chế tạo và đầu tư các nhà máy cán thép. Thời gian qua, Vinashin đã đầu tư 3 nhà máy sản xuất chế tạo các thiết bị phụ trợ để từng bước nâng dần tỷ lệ nội địa hóa trong ngành đóng tàu. Bên cạnh đó, Vinashin tiến hành xây dựng hai nhà máy cán thép, trong đó nhà máy cán thép Cái Lân có công suất 500.000 tấn/năm, đạt tiêu chuẩn quốc tế để cung ứng cho công nghiệp đóng tàu. Đồng thời, xây dựng nhà máy cán thép hình, thép mỏng tại Nam Định để chủ động nguồn thép và phôi thép. Các sản phẩm CNPT khác như sản xuất chế tạo phụ kiện điện, dây cáp điện, tời, thiết bị thủy lực, nắp hầm hàng…cũng được đầu tư.  

III.    Thực trạng phát triển một số ngành CNPT ở Việt Nam hiện nay

            Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, ngành CNPT ở nước ta chỉ mới thành công ở lĩnh vực sản xuất xe máy và điện gia dụng. Những ngành còn lại chỉ đạt đến mức độ gia công giai đoạn cuối của sản phẩm. Vì thế mà CNPT Việt Nam còn phụ thuộc rất nhiều vào sản phẩm linh kiện từ nước ngoài. Nội dung phần này sẽ nói lên thực trạng của CNPT trong một số ngành như xe máy, điện - điện tử, ô tô, dệt may và da giày.

1.   Công nghiệp phụ trợ ngành xe máy

1.1.      Tình hình chung về ngành xe máy

Theo thống kê về các doanh nghiệp lắp ráp xe máy của Hiệp hội Xe đạp-Xe máy Việt Nam, hiện nay đã có 52 doanh nghiệp lắp ráp trong nước và 7 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Trong 59 doanh nghiệp tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh xe máy, tổng sản lượng sản xuất của các doanh nghiệp trong nước lại đạt thấp hơn các công ty liên doanh FDI, chất lượng sản phẩm cũng kém hơn, tổng số vốn đầu tư lại nhỏ, chỉ mới khoảng 100 triệu USD, trong khi chỉ riêng hãng Honda Việt Nam, trong 10 năm lại đây đã đầu tư đến gần 200 triệu USD cho sản xuất và kinh doanh (29­). Trên thị trường hiện nay, với tổng công suất lắp ráp đạt 800.000 xe/năm, ba thương hiệu lớn của Nhật Bản là Honda, Yamaha và Suzuki hiện chiếm trên 60% thị phần xe máy ở Việt Nam (29).

Nhưng khác với công nghiệp ô tô, ngành công nghiệp xe máy Việt Nam đã có những lợi thế nhất định. Đó là việc có được một thị trường đủ lớn để tạo động lực phát triển với khoảng 2 triệu xe/năm. Số lượng xe máy của cả nước hiện nay là 20 triệu xe(29). Theo dự báo của Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp thuộc Bộ công nghiệp, đến năm 2020 tại hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ xe máy trên tổng số các phương tiện giao thông chiếm từ 30% đến 35%. Đặc biệt, nhu cầu về xe máy tại các vùng nông thôn Việt Nam sẽ tăng mạnh do đời sống người dân ngày được nâng cao. Bên cạnh đó tiềm năng xuất khẩu là rất lớn khi trong nước đạt tới trạng thái bão hòa. Theo báo cáo của Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp thuộc Bộ Công nghiệp, dự báo thị trường xuất khẩu các loại xe dưới 175cc giá thành thấp như sau: trong giai đoạn từ nay đến năm 2020, thị trường Trung Quốc, Lào, Campuchia, Châu Phi… là những thị trường tiềm năng do có những tương đồng về khí hậu, địa hình với Việt Nam, công nghệ xe máy chưa phát triển, thị hiếu tiêu dùng không nhiều khác biệt. Như vậy, các doanh nghiệp trong nước vẫn còn nhiều cơ hội để phát triển mạnh mẽ.

1.2.      Chính sách phát triển CNPT trong lĩnh vực xe máy

1.2.1.      Chính sách nội địa hóa

            Nội địa hóa được hiểu là quá trình sản xuất ra các sản phẩm để thay thế cho nhập khẩu. Xét về bản chất, nội địa hóa không thể tách rời với nâng cao năng lực công nghệ sản xuất trình độ sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước. Đẩy nhanh nội địa hóa sản xuất cũng có nghĩa là đặt những bước đi đầu tiên, hướng các doanh nghiệp quan tâm cách tiếp cận mới, điều chỉnh lại cơ cấu sản phẩm và đầu tư cho phù hợp với trình độ công nghệ mới trên thế giới. Mặt khác, cũng cần thấy rằng việc Nhà nước quản lý và qui định tỷ lệ nội địa hóa đối với các doanh nghiệp cũng là biện pháp tối ưu để nâng cao tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước, bảo hộ nền sản xuất còn non trẻ. Hơn nữa thực tế cho thấy việc lắp ráp chế tạo loại sản phẩm xe máy đòi hỏi trình độ công nghệ cao, đồng thời yêu cầu chuyên môn hóa sâu về chế tạo các chi tiết, phụ tùng… Do đó chính sách quy định về tỷ lệ nội địa hóa cao đối với các doanh nghiệp lắp ráp xe máy cũng chính là một biện pháp hiệu quả để đẩy nhanh quá trình phát triển ngành CNPT trong nước, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của ngành công nghiệp chính.

            Tuy nhiên việc đẩy mạnh nội địa hóa xe máy gặp phải nhiều khó khăn bởi mỗi loại xe có kiểu phụ tùng khác nhau. Vì vậy việc đầu tư cho sản xuất phụ tùng sẽ có sản lượng thấp, chi phí lớn, kém hiệu quá. Việc sản xuất phụ tùng thời gian qua chủ yếu là vận dụng năng lực sẵn có. Trang thiết bị được cải tiến sản xuất linh kiện xe máy không phải là thiết bị chuyên dùng. Vật liệu phục vụ cho sản xuất không ổn định về chủng loại, xuất xứ dẫn đến sản phẩm có chất lượng không cao. Chưa có phân công chuyên môn hóa dẫn đến tình trạng nhiều doanh nghiệp cùng sản xuất một mặt hàng như khung xe, chân chống, vành, ống xả…

             Kể từ khi Hiệp định Việt - Nhật chính thức có hiệu lực vào ngày 20/12/2004, qui định về tỷ lệ nội địa hóa đã được bãi bỏ. Trong quá trình hội nhập toàn cầu không nên lấy nội địa hóa 100% làm mục tiêu. Không đất nước nào có thể chỉ sản xuất hoàn toàn trong nước theo kiểu kết hợp theo chiều dọc như một nền kinh tế đóng. Để tồn tại và chiến thắng trong cạnh tranh toàn cầu, cần phải kết hợp các đầu vào tốt nhất từ khắp mọi nơi trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam. Việc xác định đúng các đầu vào cần được nội địa hóa sẽ đẩy nhanh đáng kể quá trình công nghiệp hóa, ngược lại nếu xác định sai sẽ dẫn đến lãng phí thời gian và nguồn lực.

1.2.2.      Chính sách về thuế nhập khẩu linh phụ kiện

            Một nhân tố ảnh hưởng đến ngành công nghiệp xe máy Việt Nam là chính sách của Chính phủ. Việc cấm nhập xe máy hoàn chỉnh kể từ giữa năm 1990 và một loạt chính sách nhằm khuyến khích sản xuất linh kiện trong nước từ năm 2000 đã có những tác động đáng chú ý. Công cụ chủ yếu để thực hiện những chính sách này là thuế và hạn ngạch nhập khẩu. Bên cạnh đó, những yêu cầu về bảo vệ môi trường, giao thông cũng có tác dụng hạn chế việc nhập khẩu linh kiện cũng như để điều khiển nền sản xuất trong nước. Những chính sách này cũng có tác dụng làm tăng cường mối liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành.

-    Giai đoạn đầu: Từ năm 2000 trở về trước

            Ban đầu cách qui định về thuế nhập khẩu đối với linh kiện, phụ tùng xe máy tương tự như trong ngành công nghiệp ô tô. Không những thế, từ năm 2000 trở về trước, việc nhập khẩu xe nguyên chiếc và linh kiện lắp ráp dạng CKD, IKD còn yêu cầu phải có giấy phép của Bộ Thương mại. Đến đầu năm 2000, cơ chế này mới được nới lỏng: chỉ có xe máy nguyên chiếc và linh kiện lắp ráp đồng bộ CBU (Complete Build Up), CKD là cần có giấy phép này. Sau đó theo cơ chế điều hành xuất nhập khẩu năm 2000, các doanh nghiệp lắp ráp trong nước được phép nhập khẩu theo năng lực sản xuất mà không cần giấy phép của Bộ Thương mại.

- Giai đoạn 2: Từ năm 2000 trở lại đây

            Để khắc phục tình trạng trên, chính phủ đã ban hành thuế nhập khẩu theo tỷ lệ nội địa hóa thay cho CKD, IKD. Chính phủ Việt Nam áp dụng thuế suất lũy tiến tỷ lệ nghịch với tỷ lệ nội địa hóa. Thuế lũy tiến đã có ảnh hưởng mạnh tới các nhà sản xuất xe máy trong việc xây dựng mạng lưới các nhà cung cấp linh kiện. Hạn ngạch nhập khẩu linh kiện cũng là một công cụ đáng chú ý trong việc kiểm soát ngành công nghiệp xe máy và bảo vệ nền sản xuất nội địa ở Việt Nam. Hạn ngạch nhập khẩu được xác định cho tổng công ty, dựa trên vốn, năng lực sản xuất và tỷ lệ nội địa hóa mà công ty đạt được.

            Như vậy có thể thấy là tỷ lệ % nội địa hóa càng cao thì thuế suất càng giảm, còn nếu doanh nghiệp nào không đăng ký tỷ lệ nội địa hóa thì không được nhập khẩu linh kiện. Có thể thấy trước đây doanh nghiệp phải chịu thuế suất từ 60% nay chỉ còn 3-5%. Ngoài động cơ bộ phận Việt Nam chưa sản xuất được nên mức thuế còn ưu đãi, còn các phụ tùng còn lại đều phải chịu mức thuế suất rất cao. Cụ thể là:

Bảng 1: Thuế nhập khẩu đối với một số phụ tùng xe máy

STT

Tên phụ tùng

Thuế suất (%)

1

Các chi tiết cao su của xe gắn máy

40

2

Lò xo của xe gắn máy

5

3

Chốt của xe 2 bánh gắn máy

40

4

Từng dụng cụ hoặc cả bộ dụng cụ, đồ nghề của xe

40

5

Khóa yên và khóa điện

40

6

Giá bắt ắc quy của xe

40

7

ắc quy của xe gắn máy

50

Nguồn: Quyết định số 66/QĐ - BTC ban hành ngày 25/5/2002

            Qua đó có thể thấy Chính phủ không khuyến khích việc nhập khẩu linh kiện, phụ tùng mà trong nước có thể sản xuất được. Quyết định này đã thúc đẩy được các liên doanh lắp ráp xe máy tích cực đẩy mạnh việc tìm kiếm nguồn cung trong nước, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa để giảm thuế, do đó kích thích được các doanh nghiệp sản xuất CNPT phát triển theo.

1.3.      Thực trạng phát triển CNPT ngành xe máy

            Ngành xe máy có thể xem là đạt được tỷ lệ nội địa hóa cao nhất trong các ngành. Với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, tỷ lệ nội địa hóa đạt được xấp xỉ 60-70%(16), các doanh nghiệp trong nước tỷ lệ đạt có thấp hơn nhưng so với các ngành khác như ô tô, dệt may…, có thể coi đây là một tiến bộ trong việc phát triển ngành CNPT.

            Sau khi qui định về tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu được bãi bỏ, nhiều ý kiến cho rằng doanh nghiệp sẽ tập trung vào lắp ráp mà không đầu tư vào sản xuất linh kiện để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa. Tuy nhiên, thực tế ngành công nghiệp xe máy Việt Nam đã chứng minh điều ngược lại. Quy định tỷ lệ nội địa hóa tối thiểu là 20%, nhưng trên thực tế tỷ lệ nội địa hóa mà đa số doanh nghiệp đạt được cho tới nay thấp nhất là 60%. Đối với một vài loại xe như Super Dream, tỷ lệ này đạt tới 77% (28). Điều này là dễ hiểu, vì thuế suất thuế nhập khẩu linh kiện còn ở mức tương đối cao từ 30-50% nên doanh nghiệp phải tập trung đầu tư chiều sâu, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa để giảm giá thành sản phẩm. Dự kiến, tỷ lệ nội địa hóa sẽ tăng nữa, vì nhiều doanh nghiệp FDI sẵn sàng cho cuộc cạnh tranh mới này.

Bảng 2: Tỷ lệ nội địa hóa của một số kiểu xe máy

Tên hãng

Loại xe

Tỷ lệ nội địa hóa

HONDA

Wave ỏ

64,48

Future

76,76

Super Dream

74,86

YAMAHA

Sirius R5 hu3

51,58

Jupiter

57,10

Nouvo

74,25

VMEP

Magic S

51,20

Angle Hi

77,07

SUZUKI

Viva

45,76

Best

48,26

Nguồn: Kết quả điều tra của Đoàn kiểm tra liên bộ thành lập theo quyết định số 26/QĐ - BKH ngày 09/01/2003

                 Đối với các doanh nghiệp sản xuất xe máy trong nước, tỷ lệ nội địa hóa sản phẩm cũng tăng đáng kể do được đầu tư, bổ sung máy móc thiết bị và nhà xưởng sản xuất. Theo ước tính của Viện nghiên cứu chiến lược chính sách công nghiệp thuộc  Bộ công nghiệp năm 2004, doanh nghiệp đạt tỷ lệ nội địa hóa cao nhất là công ty Likasohaka (65%), tiếp theo là công ty Vinagimex (47,05%), công ty TNHH lắp ráp động cơ xe máy (43,81%) và công ty Tiến Lộc (42,77%) (28).

            Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu đạt được, ngành CNPT xe máy còn tồn tại nhiều vấn đề. Sản phẩm của các doanh nghiệp hoạt động trong ngành CNPT cho xe máy chỉ là các chi tiết linh kiện sản xuất với kỹ thuật công nghệ đơn giản như: giảm xóc, đồng hồ báo xăng, bộ dây điện, yên xe. Chưa có doanh nghiệp nào sản xuất các bộ phận chính quan trọng đòi hỏi kỹ thuật, công nghệ cao như động cơ, hộp…Trước tình hình này, Bộ công nghiệp đã có tờ trình chính phủ về việc đề nghị cho 6 dự án sản xuất phụ tùng xe máy được vay vốn đầu tư ưu đãi từ quỹ đầu tư phát triển. Tổng số vốn dự án đầu tư thiết bị công nghệ của dự án này khoảng 13,5 triệu USD. Các chủ đầu tư dự án gồm: Công ty cơ khí Thăng Long (sản xuất cụm khung, trục lái), càng sau và ống xả vành xe máy), Công ty cơ khí Giải Phóng (sản xuất giảm xóc xe máy), Công ty cơ khí Đồng Tháp (sản xuất may ơ xe máy), Công ty cơ khí Mai Động (sản xuất bộ nhôm xe máy), Công ty thiết bị Long Biên (sản xuất cần số, cần khởi động, chân chống). Đây là tín hiệu đáng mừng cho việc phát triển ngành CNPT xe máy Việt Nam.   

            Về số lượng các nhà sản xuất linh kiện nội địa: Bắt đầu là vào năm 1993, công ty Sanyang Motor (SYM) thuộc tập đoàn Chinfon của Đài Loan vào Việt Nam xây dựng nhà máy lắp ráp xe máy đầu tiên tại Việt Nam. Sự xuất hiện của SYM đã thu hút gần 20 nhà đầu tư Đài Loan đến Việt Nam đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất linh phụ kiện và phụ tùng. Cùng với nhu cầu tiêu thụ xe máy tăng lên nhanh chóng và sự có mặt của các công ty lắp ráp xe máy khác, CNPT phục vụ cho ngành lắp ráp xe máy ở Việt Nam bắt đầu phát triển. Cho đến nay có thể nói công nghiệp phụ trợ thành công nhất ở nước ta là CNPT trong lĩnh vực xe máy.

            Đến năm 2003, số doanh nghiệp tham gia lắp ráp và sản xuất phụ tùng có khá hơn: 8 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, ngoài ra có 52 doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp xe máy trong nước (trong đó có 31 doanh nghiệp tham gia sản xuất phụ tùng), ngoài ra có khoảng gần 500 cơ sở sản xuất phụ tùng khác . Đối tác tham gia đầu tư là các hãng công nghiệp xe máy của Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc. Sự phát triển của khu vực có vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian qua cho thấy các doanh nghiệp chủ yếu nhập phụ tùng từ nước ngoài để sản xuất và lắp ráp xe hoàn chỉnh. Về cơ bản các doanh nghiệp này còn rất dè dặt trong quan hệ với các nhà sản xuất phụ tùng nội địa do chưa tin tưởng vào năng lực sản xuất phụ tùng của các cơ sở trong nước. Các hoạt động bổ trợ và làm gia tăng giá trị của sản xuất phụ tùng còn rất hạn chế. Cụ thể là các ngành cơ khí, nhựa, hóa chất…chưa phát triển đủ để đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp sản xuất, chưa có một số trung tâm nghiên cứu chuyên ngành về công nghiệp xe máy, ít chú trọng đầu tư nghiên cứu và triển khai, các nhà lắp ráp xe máy còn nặng nề về hớt váng do nhu cầu lớn và lợi nhuận siêu ngạch đối với ngành kinh doanh này, đồng thời không quan tâm thích đáng tới dịc vụ sau bán hàng. Đến năm 2004, Việt Nam có khoảng 230 doanh nghiệp đang sản xuất linh kiện phụ tùng cung cấp cho các doanh nghiệp lắp ráp xe máy, trong đó có hơn 80 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đã tự cung cấp đước từ 40-70% nhu cầu phụ tùng lắp ráp xe máy trong nước . Phấn đấu đến năm 2010 có thể cung cấp 80-90% nhu cầu phụ tùng lắp ráp xe máy.    

2.   Công nghiệp phụ trợ ngành ô tô

2.1.    Tình hình chung về ngành ô tô

            Trong 10 năm qua, công nghiệp ô tô trong nước chủ yếu được phản ánh qua hoạt động của 11 liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài, ngoài ra còn có hơn 30 doanh nghiệp nội địa đang hoạt động với tổng công suất thiết kế lên tới hơn 400.000 xe/năm. Đến năm 2007, sau khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, tổng công suất thiết kế của ngành ô tô Việt Nam có thể lên tới 500.000 xe/năm(13). Trong số các doanh nghiệp đang hoạt động, Hiệp hội các nhà sản xuất ô tô Việt Nam (VAMA) qui tụ 16 doanh nghiệp (gồm 11 doanh nghiệp FDI và 5 doanh nghiệp nội địa), công suất thiết kế 234.000xe/năm, có thể coi là lực lượng nòng cốt.

Bảng 3: Danh sách thành viên của VAMA

STT 

Tên nhãn hiệu

Năm thành lập

Vốn đầu t­/vốn pháp định

1

Công ty TNHH Ford

Ford

5/9/1995

102/72

2

Công ty Hino Việt Nam

Hino

18/6/1996

17,031/8,111

3

Công ty Isuzu Việt Nam

Isuzu

19/10/1995

50/15

4

Công ty ôtô Mekong

Fiat, Sanyong, Iveco

22/6/1991

36,996/20

5

Công ty LD Mercedes Benz Việt Nam

Mercedes Benz

1995

70/25

6

Công ty Toyota Việt Nam

Toyota

5/9/1995

89,609/49,14

7

Công ty Vietindo Daihatsu

Daihatsu

14/4/1995

32/30,549

8

Công ty ôtô Việt Nam Daewoo

Daewoo, GM-Daewoo

14/12/1993

32/10

9

Liên doanh ôtô Hòa Bình

Kia, Mazda, BMW

19/8/1991

58/18

10

Công ty Viêt Nam Suzuki

Suzuki

21/4/1995

34,2/11,7

11

Công ty LDSX ô tô Ngôi Sao

Mitsubishi

23/4/1994

53/16

12

Tổng công ty cơ khí giao thông Sài Gòn

Samco

13

Công ty ô tô Trường Hải

Kia, Daewoo, Foton, Thaco

14

Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp Việt Nam

Veam

15

Tập đoàn than Việt Nam

Kamaz, Kraz

16

Doanh nghiệp t­ư nhân Xuân Kiên

Vinaxuki

Nguồn: www.vietbao.vn, “VAMA kết nạp thêm 5 thành viên” - 24/8/2005

            Nhưng cần phải nhấn mạnh rằng, toàn bộ lực lượng trên mới chỉ làm việc lắp ráp ô tô chủ yếu từ nguồn linh kiện nhập khẩu, chứ chưa hề chế tạo ô tô. Tuyệt đại bộ phận sản lượng đầu ra được nhằm vào tiêu thụ nội địa, thị trường ô tô Việt Nam lại rất nhỏ bé nên trong những năm qua các nhà sản xuất ô tô Việt Nam chỉ tiêu thụ được khoảng 30.000 - 50.000 xe/năm, luôn đạt dưới 1/3 công suất thiết kế(21). Do vậy hầu hết các doanh nghiệp đều nằm chịu lỗ để chờ thời. Thực trạng đó đã đẩy ngành công nghiệp ô tô đi vào vòng luẩn quẩn: Thị trường nội địa chưa đủ lớn để kích thích chế tạo linh kiện tại chỗ, do vậy các doanh nghiệp phải nhập khẩu linh kiện, động cơ được nhập khẩu nguyên chiếc CBU (Complete Build Up), phần vỏ xe thì nhập  dạng CKD, tỷ lệ linh kiện chế tạo nội địa tính chung chưa đến 10%, giá thành sản phẩm cao, khó tiêu thụ, mức tăng trưởng chậm chạp. Như vậy có thể nói ngành công nghiệp ô tô còn rất non trẻ, mới chỉ dừng ở công nghiệp “lắp ráp” ô tô.

2.2.      Chính sách phát triển CNPT trong lĩnh vực ô tô

2.2.1.      Chính sách nội địa hóa

            Qui định về tỷ lệ nội địa hóa đối với doanh nghiệp sản xuất và lắp ráp ô tô: Chậm nhất từ năm thứ 5 kể từ khi bắt đầu sản xuất, chủ dự án phải sử dụng linh kiện, phụ tùng sản xuất tại Việt Nam với tỷ lệ ít nhất là 5 % giá trị xe và tỷ lệ này phải được tăng dần theo từng năm để đến năm thứ 10 đạt mức thấp nhất là 30% giá trị xe.

Về phương pháp xác định tỷ lệ nội địa hóa đối với các ngành công nghiệp ô tô:  Quyết định số 27/2004/QĐ-BKHCN ban hành ngày 1/10/2004 có quy định chi tiết về cách tính tỷ lệ nội địa hóa. Theo đó, tỷ lệ nội địa hóa của ô tô là số điểm của linh kiện nội địa hóa so với tổng số điểm của ô tô hoàn chỉnh. Trong đó, linh kiện nội địa hóa là linh kiện được sản xuất, chế tạo trong nước thay thế phần nhập khẩu; còn toàn bộ phụ tùng, linh kiện của một chiếc ôtô được quy thành 100 điểm, trong đó chia ra nhiều cụm, tiểu cụm. Mỗi cụm, tiểu cụm được tính giá trị tương ứng với một số điểm nhất định. Chẳng hạn, một chiếc ô tô từ 5 chỗ ngồi được chia thành 10 cụm cấu tạo chính đối với khoảng 140 tiểu cụm phụ tùng, tiểu cụm có số điểm cao nhất là khung chỉ chiếm 5% giá trị xe.

Có thể nói rằng, cách tính này đã buộc các doanh nghiệp lắp ráp và chế tạo ô tô phải tìm nguồn linh kiện trong nước, qua đó thúc đẩy ngành CNPT phát triển. Tuy nhiên, phương pháp này cũng còn bộc lộ nhiều bất cập. Thứ nhất là việc xác định một cách chính xác số điểm cho một số rất nhỏ các phụ tùng (khoảng trên 100 phụ tùng) trong tổng số 30000 phụ tùng cấu thành nên một chiếc xe là rất khó chính xác. Thứ hai, phương pháp này sử dụng một thang điểm cố định trong khi công nghệ lại luôn thay đổi. Điểu này đã dẫn đến trường hợp nếu nhà sản xuất áp dụng tiến bộ công nghệ làm giá trị phụ tùng tăng lên so với cả chiếc xe thì điểm số vẫn không có gì thay đổi (như bộ phận động cơ ở mẫu xe này có giá trị bằng 10% xe nhưng ở mẫu xe khác lại lên đến 20% mà việc quy định về điểm số tính thuế linh kiện vẫn không thay đổi).

Bảng 4: Yêu cầu về tỷ lệ nội địa hóa đối với ngành công nghiệp ô tô

Loại xe

Yêu cầu tỷ lệ nội địa hóa

Năm 2005

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Năm2010

Xe thông dụng (xe tải cỡ nhỏ và trung bình, xe chở khách, xe con 4-9 chỗ ngồi)

40%

45%

50%

55%

60%

Xe chuyên dùng

40%

45%

50%

55%

60%

Xe cao cấp

20-25%

30-35%

40-45%

Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020 (2004)

2.2.2.      Chính sách về thuế nhập khẩu linh kiện, phụ kiện

Trong bất kì xã hội nào, thuế luôn đóng vai trò quan trọng trong chính sách quản lý kinh tế vĩ mô của Nhà Nước. Với hoẠt động nhập khẩu linh, phụ  kiện để lắp ráp ô tô thuế nhập khẩu có ảnh hưởng trực tiếp đến giá nhập khẩu linh phụ kiện do đó ảnh hưởng trực tiếp đến ngành CNPT sản xuất phụ tùng, linh kiện trong nước.

Đối với ngành công nghiệp lắp ráp và chế tạo ôtô:

Các quy định hiện hành: Việc đánh giá thuế nhập khẩu linh kiện lắp ráp ô tô chia làm 3 mức, căn cứ vào mức độ rời rạc của các bộ phận: CKD (CKD1 và CKD2), IKD. Nhìn chung các mức thuế đánh theo từng loại hình lắp ráp có giảm khi mức độ rời rạc của các chi tiết tăng lên. Song với mức thuế như hiện nay, việc nhập khẩu ôtô theo dạng CKD, IKD vẫn còn cao nếu so với mức thuế đánh vào xe nguyên chiếc nhập khẩu.

Theo Bộ Tài Chính, quy định này đã có tác động tích cực, góp phần hỗ trợ ngành công nghiệp ô tô trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển. Tuy nhiên cho đến nay, việc quy định thuế suất nhập khẩu cho bộ linh kiện CKD, IKD lại không còn phù hợp nữa bởi hai lý do:

Thứ nhất chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô đã đặt mục tiêu phát triển công nghiệp phụ tùng làm trọng tâm thay vì chỉ lắp ráp như hiện nay.

Thứ hai, nếu áp dụng quy định hiện hành thì phải gắn với yêu cầu nội địa hóa trong tiêu chuẩn bộ linh kiện, trong khi đó các quy định về nội địa hóa sẽ không còn phù hợp với các điều khoản tại. Hiệp định về các biện pháp đầu tư liên quan đến thương mại (TRIMS) của WTO. Ngoài ra, ngay các nước trong khu vực cũng không quy định thuế suất cho các bộ linh kiện CKD, IKD nữa mà áp dụng đối với từng phụ tùng, linh kiện.

Hiện nay trong quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2010, chính phủ chủ trương không đánh thuế nhập khẩu linh kiện CKD, IKD, miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với sản phẩm chế thử trong thời gian một năm kể từ khi sản phẩm được tiêu thụ trên thị trường.

2.3.      Thực trạng phát triển CNPT cho ngành ô tô

            Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, đến nay Việt Nam có khoảng 70 doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng cho ngành công nghiệp ô tô trong nước. Số doanh nghiệp này thực sự còn quá mỏng quy mô còn nhỏ và thậm chí năng lực còn rất yếu.   

            Theo Bộ Công nghiệp, công nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô tại Việt Nam là ngành mới nổi nên khó khăn còn nhiều, đặc biệt là trong xu thế hội nhập và cạnh tranh hiện nay. Trong hơn 10 năm qua, Nhà nước đã có chủ trương bảo hộ cho các liên doanh sản xuất ô tô, những hãng đưa ra cam kết ban đầu là sẽ nội địa hóa 30 - 40% sau khi đầu tư vào Việt Nam.

          Tuy nhiên trên thực tế, công nghiệp ô tô đạt được tỷ lệ nội địa hóa thấp nhất trong các ngành, trung bình từ 5 -10%. Chỉ có một vài doanh nghiệp đạt tỷ lệ nội địa hóa là 20%(16)

          Diện mạo các doanh nghiệp sản xuất linh kiện cho ô tô trong nước cũng không khả quan hơn. Doanh nghiệp sản xuất phụ tùng ô tô đã ít, quy mô sản xuất lại rất yếu, cộng với chất lượng thậm chí chưa đạt tới tiêu chuẩn trong nước chứ chưa nói đến việc sẽ đáp ứng được các tiêu chuẩn của nước ngoài. Số doanh nghiệp đạt được một vài tiêu chuẩn của quốc tế chỉ đếm trên đầu ngón tay. Một số doanh nghiệp trong nước đã và đang tiếp cận với công nghệ hiện đại để phục vụ thị trường, tuy nhiên hầu hết các doanh nghiệp này lại thiếu vốn, trình độ lao động vận hành công nghệ chuyển giao không có.

          Cũng do linh kiện, phụ tùng sản xuất trong nước khan hiếm nên hầu hết các linh kiện, phụ tùng Việt Nam đang sử dụng phải nhập khẩu trực tiếp từ Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia…Mặc dù nhập khẩu như vậy nhưng không phải điều kiện nhập hàng và chất lượng lúc nào cũng đồng đều và thuận lợi. Các hãng xe như Toyota, Ford, Mazda…có nhà máy tại Việt Nam thời gian qua phải nhập khẩu phụ tùng ở nước ngoài về phục vụ cho lắp ráp cho các nhà máy ô tô của họ. Hãng nào nhập ít cũng phải từ vài trăm triệu USD mỗi năm. Ví dụ như hãng Toyota, năm 2002 đã nhập khẩu linh kiện trị giá 150 triệu USD, năm 2005 nhập đến 460 triệu; hãng Mazda cũng nhập gía trị linh kiện lên tới 280 triệu USD(27).

            Trong khi các doanh nghiệp lắp ráp phải đi nhập linh kiện từ nước ngoài về thì việc sản xuất linh kiện phụ tùng trong nước lại dậm chân tại chỗ. Doanh thu cả năm chưa bằng một số lẻ của các hãng nhập về, cụ thể là năm 2005 doanh thu từ sản xuất linh kiện chỉ đạt tới 2,3 triệu USD (27)

            Nhưng cơ hội vẫn tới với các doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng khi mà ngành ô tô còn nhiều tiềm năng phát triển trong tương lai. Thời gian tới sẽ xuất hiện một làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài trong lĩnh vực sản xuất phụ tùng phụ trợ cho ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Thực tế, hiện nay đã có một số doanh nghiệp nước ngoài tham gia đầu tư sản xuất vào lĩnh vực này như công ty Nissan, DEZEN và một số doanh nghiệp liên doanh với Trung Quốc, Malaysia đã sản xuất phụ tùng các loại xe ô tô như phụ tùng kim loại, ghế ô tô, hệ thống điều hòa không khí và động cơ

3.      Công nghiệp phụ trợ ngành điện - điện tử

3.1.            Tình hình chung ngành điện - điện tử

Theo số liệu thống kê của Bộ Công Nghiệp năm 2003, cả nước có gần 300 doanh nghiệp điện tử với tổng số vốn đầu tư chưa tới 2 tỷ USD, trong đó doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm tới 90% tổng số vốn đầu tư, 70% thị phần điện tử dân dụng và 90% kim ngạch xuất khẩu của ngành công nghiệp điện tử Việt Nam. Về mặt cơ cấu ngành điện - điện tử được chia thành 2 lĩnh vực chính là: lĩnh vực điện tử dân dụng và lĩnh vực điện tử công nghiệp.

Ở nước ta, ngành công nghiệp điện gia dụng là một ngành còn khá non trẻ và chủ yếu là sản xuất để thay thế nhập khẩu. Các ngành điện, điện tử gia dụng bắt đầu phát triển tại Việt Nam vào đầu thập niên 1990. Phần lớn do các công ty Nhật như Sanyo, Toshiba, Hitachi, Matsushita, Sony và JVC, và công ty LG của Hàn Quốc đầu tư sản xuất thay thế nhập khẩu. Trong một thời gian dài, cho đến giữa năm 2003, thuế nhập khẩu sản phẩm nguyên chiếc là 50%, từ tháng 7/2003 giảm xuống còn 20%, những mức thuế đủ để bảo hộ thị trường trong nước trong từng giai đoạn. Tuy nhiên, vì chỉ cung cấp dịch vụ cho thị trường nội địa, một thị trường còn nhỏ, nên quy mô sản xuất quá nhỏ, chỉ bằng trên dưới 10%, có các loại chỉ bằng 2-3% sản lượng của Thái Lan. Ngoài quy mô sản xuất nhỏ, các công ty lắp ráp đồ điện gia dụng ở Việt Nam còn gặp một khó khăn lớn là công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, phải nhập phần lớn linh kiện, bộ phận mà thuế nhập khẩu của các sản phẩm trung gian, phụ trợ này lại rất cao. Hiện nay thuế nhập khẩu các loại này lên tới 50%, thấp nhất cũng 15%. Từ năm 2006, theo chương trình  cắt giảm thuế theo khuôn khổ AFTA, thuế nhập khẩu đánh trên các loại linh kiện, bộ phận nhập từ các nước ASEAN sẽ giảm xuống còn 5%, nhưng các công ty lắp ráp tại Việt Nam đang và sẽ tiếp tục nhập khẩu nhiều loại linh kiện, bộ phận từ Nhật và các nước khác ngoài ASEAN vì ASEAN chưa thể cung cấp toàn bộ các loại linh kiện, bộ phận với phẩm chất và giá thành tương đương với Nhật hoặc các nước khác. Do đó, các công ty lắp ráp đồ điện, điện tử gia dụng một mặt phải tiếp tục nhập khẩu linh kiện, bộ phận với phí tổn cao vì thuế quan cao nhưng mặt khác phải cạnh tranh với sản phẩm nguyên chiếc giá rẻ (vì thuế quan giảm xuống dưới 5%) nhập khẩu từ ASEAN mà chủ yếu là từ Thái Lan. Như vậy chính sách vừa giữ mức thuế quan cao đối với linh kiện, bộ phận nhưng vừa cho tự do nhập khẩu sản phẩm nguyên chiếc trong khuôn khổ AFTA đang đặt ngành điện, điện tử gia dụng của Việt Nam trước một thách thức rất lớn: các công ty đa quốc gia có thể sẽ phải đóng cửa nhà máy tại Việt Nam, chuyển năng lực sản xuất sang Thái Lan nơi có quy mô sản xuất lớn và các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển (phần lớn những công ty đang phát triển đồ điện gia dụng tại Việt Nam cũng là những công ty sản xuất quy mô lớn tại Thái Lan).

Còn đối với lĩnh vực điện tử công nghiệp: đây là lĩnh vực còn mới phôi thai ở Việt Nam. Hiện nay một số thiết bị điện tử được thiết kế theo đơn đặt hàng được lắp ráp từ các linh kiện và chi tiết nhập ngoại nhưng chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu của doanh nghiệp. Theo báo cáo điều tra của Tổ chức Xúc tiến Thương mại tại JETRO về nhu cầu của các doanh nghiệp điện - điện tử công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì nhu cầu mua tại chỗ các sản phẩm nhựa và khuôn ép là rất cao, tiếp đó là nhu cầu về linh kiện điện tử và phụ tùng gia công cơ khí. Mặc dù hiện tại nước ta có khoảng 200 doanh nghiệp đại diện cho ngành sản xuất phụ trợ trong nước sản xuất được các linh kiện bằng nhựa, tuy nhiên hơn một nữa doanh nghiệp này có trình độ kỹ thuật chỉ dừng lại ở mức sản xuất ra những mặt hàng phục vụ đời sống thông thường, có rất ít doanh nghiệp có thể đáp ứng được yêu cầu của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài về chất lượng , tính năng và độ chính xác.

3.2.      Chính sách phát triển CNPT trong lĩnh vực điện - điện tử

Trước năm 2006, Chính phủ áp dụng chính sách thuế theo tỷ lệ nội địa hóa đối với các sản phẩm, phụ tùng thuộc ngành cơ khí - điện - điện tử tại thông tư số 176/1998/TTLT-BTC-BCN-TCHQ và thông tư sửa đổi số 120/2000.

Tuy nhiên từ ngày 1/10/2006, chính sách ưu đãi thuế theo tỷ lệ nội địa hóa đối với các sản phẩm, phụ tùng ngành cơ khí - điện - điện tử (được áp dũng từ năm 1999) đã chính thức bị bãi bỏ.

Hiện tại, khó khăn đặt ra cho các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp hàng điện tử là kể từ ngày 1/1/2006 thuế nhập khẩu các mặt hàng điện điện tử sẽ giảm 15 - 30% (tùy loại) như hiện nay xuống còn 0-5% theo lộ trình cam kết tham gia mậu dịch tự do ASEAN (AFTA) của chính phủ. Mặc dù đã có quy định về viêc giảm thuế nhập khẩu một số mặt hàng linh kiện, phụ tùng điện, điện tử gia dụng nhưng trong các doanh nghiệp trong các ngành điện, điện tử cho rằng điều kiện tối thiểu để họ duy trì hoạt động sản xuất lắp ráp là thuế nhập khẩu phụ tùng, linh kiện giảm xuống còn 0%. Nếu không sản phẩm trong nước sẽ không cạnh tranh nổi với hàng nguyên liệu cùng loại nhập với thuế suất chỉ còn 0-5% từ các nước ASEAN.

3.3.      Thực trạng phát triển CNPT ngành điện - điện tử

            Cho đến nay ngành điện - điện tử đã sản xuất được một số sản phẩm gia công chất lượng tốt, tùy theo nhóm sản phẩm mà tỷ lệ nội địa hóa đạt được là khác nhau. Ví dụ như máy thu hình màu hiện đang có tỷ lệ nội địa hóa khá cao trên 60% (30)Sở dĩ tỷ lệ nội địa hóa của máy thu hình màu lại cao như vậy là do trong thời gian qua nhiều doanh nghiệp đổ xô vào lắp ráp máy thu hình màu do nhu cầu trong nước lớn (có thời điểm thống kê được gần 100 doanh nghiệp, cơ sở). Nhờ đó các doanh nghiệp cung cấp phụ tùng, linh kiện cho máy thu hình màu cũng tăng lên. Trong khi đó các sản phẩm còn lại tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt 25-60%. Nếu tính toàn ngành công nghiệp điện tử (nghĩa là bao gồm cả điện tử gia dụng và điện tử công nghiệp) thì tỷ lệ nội địa hóa lại rất thấp chỉ gần 20%. Điều này càng minh chứng cho sự phát triển mất cân đối, tự phát của công nghiệp điện tử Việt Nam trong thời gian qua. Do vậy vấn đề đặt ra trước mắt là chính phủ phải rà soát lại thực trạng phát triển ngành công nghiệp điện - điện tử để đưa ra một quy hoạch tổng thể mang tính lâu dài, chấm dứt tình trạng mạnh ai nấy làm như hiện nay.

Về số lượng các nhà sản xuất linh kiện nội địa: Theo số liệu thống kê năm 2003 thì Việt Nam có khoảng 300 doanh nghiệp điện tử, trong số đó doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện chỉ chiếm khoảng 21.5% (tức là chỉ gần 65 doanh nghiệp chủ yếu là các doanh nghiệp FDI và sản phẩm chủ yếu để phục vụ xuất khẩu)(31).

Một ví dụ nỗ lực nâng cao tỷ lệ nội địa hóa là công ty Sanyo HA Asean (gọi tắt là Sanyo). Công ty này có trụ sở tại khu công nghiệp Biên Hòa 2 chuyên sản xuất máy giặt, tủ lạnh và điều hòa nhiệt độ cho thị trường nội địa. Sanyo luôn thay đổi mục tiêu nội địa hóa các linh kiện vào thời điểm hiện nay, tỷ lệ sản xuất trong nước đạt khoảng 70% đối với các sản phẩm máy giặt. Mặc dù phần lớn các linh kiện do các công ty FDI cung cấp, Sanyo cũng đặt mua  một phần phụ kiện từ các nhà sản xuất địa phương. Để nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, hiện nay Sanyo đang tìm kiếm các nhà sản xuất nội địa có khả năng cung cấp các linh kiện chuyên dùng cho máy giặt như van tháo nước và đồng hồ. Tuy nhiên, bản thân Sanyo cũng đang tự sản xuất một vài linh kiện bằng nhựa và kim khí do không có nhà sản xuất địa phương, bộ phận quản lý của Sanyo cũng thừa nhận rằng, rất khó có thể mua được các dụng cụ bằng kim khí tại Việt Nam, ví dụ như các phụ tùng về đúc và dập.

Mặc dù trong ngành công nghiệp điện - điện tử nói chung và sản xuất phụ kiện điện - điện tử nói riêng, các doanh nghiệp trong nước hầu như chưa để lại ấn tượng gì. Nhưng nếu biết cách nắm bắt cơ hội thì các doanh nghiệp trong nước vẫn có thể thành công. Chẳng hạn như hai doanh nghiệp trong ngành CNPT tương đối thành công là công ty nhựa DMC - Daiwa (Daiwa) và công ty TNHH sản xuất và thương mại Cát Thái (Cát Thái). Daiwa là công ty cung cấp các linh kiện bằng nhựa cho các công ty đa quốc gia chuyên sản xuất xe máy và thiết bị điện tử. Nhu cầu ổn định về các linh kiện bằng nhựa chất lượng cao của các công ty đa quốc gia đã tạo nên về một môi trường kinh doanh bền vững và mang lại lợi nhuận đáng kể cho Daiwa. Nền tảng thành công của Daiwa không phải là chi phí lao động thấp mà là công nghệ sản xuất cao. Còn Cát Thái một trong những công ty nội địa trong ngành CNPT cũng chuyên cung cấp các linh kiện nhựa cho nhiều công ty đa quốc gia. Cát Thái đã có nhiều nỗ lực trong việc cải tiến công nghệ sản xuất, kiểm định chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu của các bạn hàng Nhật Bản. Mặc dù quy mô sản xuất của Cát Thái còn nhỏ so với tiêu chuẩn về ngành CNPT tại các nước đã phát triển, song những thành công bước đầu cho thấy vẫn còn có những nhà sản xuất linh phụ kiện nội địa hoạt động rất thành công nhờ nắm bắt được những lợi thế mà mình có được .

4.      Công nghiệp phụ trợ ngành dệt may

CNPT cho ngành dệt may còn rất nhiều bất cập nếu như không muốn nói là rất yếu. Năng lực các nhà máy cơ khí chuyên ngành dệt may hiện tại qua nhỏ bé chưa đáp ứng được các nhu cầu phát triển của các doanh nghiệp trong ngành.

Nghiên cứu tình hình CNPT cung cấp cho công ty dệt may Việt Nam (Vinatex) ta có thể đánh giá chung cho toàn ngành CNPT cung cấp cho dệt may. Bởi lẽ, nếu so sánh tổng thể công ty dệt may Việt Nam với toàn ngành dệt may cả nước thì năng lực kéo sợi chiếm 67% (đạt 11000/17000 tấn) kim ngạch xuất khẩu chiếm 24% (trên 1tỷ USD/4.3tỷ USD) chế biến bông chiếm 85% (đạt 12800tấn/15000tấn)(32). Điều này khẳng định Vinatex là đơn vị chủ đạo và là doanh nghiệp lớn nhất trong ngành dệt may cả nước. Tuy nhiên, để phát triển CNPT trong lĩnh vực này còn nhiều vấn đề.

Thứ nhất là về máy móc thiết bị cơ khí cung cấp cho dệt may. Bên cạnh các xưởng cơ khí của các công ty dệt may thuộc Vinatex làm nhiệm vụ sửa chữa thay thế phụ tùng, cơ điện thì còn có 4 công ty cơ khí chuyên ngành sản xuất các phụ tùng, cơ kiện và trang thiết bị phục vụ cho ngành dệt may như công ty cổ phần (CTCP) cơ khí may Gia Lâm, CTCP cơ khí may Nam Định, CTCP cơ khí Hưng Yên và CTCP cơ khí Thủ Đức. Trong thời gian qua, các đơn vị này tuy đã có nhiều cố gắng, nhưng do năng lực hạn chế, thiết bị lạc hậu nên không đáp ứng kịp yêu cầu phát triển rất nhanh của các doanh nghiệp dệy may. Nếu tính cả 4 công ty cơ khí này thì trị giá sản xuất mỗi năm vào khoảng 9 triệu USD tương đương với 4000 tấn phụ tùng, chủ yếu là phụ tùng, trang thiết bị nhỏ lẻ như: máy trải vải, máy kiểm tra vải, hệ thống chiếu sáng, hệ thống làm mát và một số phụ tùng như tủ đựng hồ sơ, ghế ngồi may… phục vụ ngành may là chính mà cũng chỉ mới đáp ứng đứợc 1 phần. Còn phụ tùng cơ kiện cho ngành dệt may, các doanh nghiệp chủ yếu vẫn phải nhập từ nước ngoài tới 70- 80%. Hầu hết các xưởng cơ khí nằm trong các công ty dệt may đến nay đều không phát huy được hiệu quả do không đáp ứng được yêu cầu khắt khe về chất lượng, giá cả  và thời gian giao hàng của các doanh nghiệp dệt. Vì vậy các xưởng cơ khí này thường phải gia công cho các doanh nghiệp ngoài ngành, trong khi các công ty dệt lại phải nhập khẩu phụ tùng, cơ điện từ nước ngoài với trị giá hàng chục triệu USD mỗi năm.

Những nguyên nhân dẫn tới sự yếu kém của CNPT ngành dệt may được các chuyên gia trong ngành đánh giá như sau: Một là do trình độ máy móc thiết bị của các nhà máy cơ khí trong ngành quá lạc hậu, không thể đổi mới nên không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của các doanh nghiệp về chất lượng và thời gian giao hàng. Hai là phụ tùng, cơ điện phục vụ cho ngành dệt may đang nhập lậu từ Trung Quốc vào Việt Nam với giá rẻ. Ba là giá sắt thép trong nước thường xuyên biến động và tăng cao nên sản xuất phụ tùng không hiệu quả. Bốn là phụ tùng cơ kiện của ngành dệt rất phức tạp, yêu cầu khắt khe về chất lượng đòi hỏi phải có tay nghề cao và trang thiết bị hiện đại điều này các doanh nghiệp cơ khí trong ngành chứa đủ vốn để đầu tư. Bên cạnh đó, tâm lý các doanh nghiệp không muốn đổi mới thiết bị cơ khí để sản xuất phụ tùng vì sợ không cạnh tranh nổi với sản phẩm Trung Quốc.

Nguyên phụ liệu cũng đang là vấn đề nan giải của ngành dệt may. Hiện tại ngành đang phải nhập 70-80% nguyên phụ liệu từ nước ngoài. Đặc biệt đối với bông xơ thì tỷ lệ này còn cao hơn. Mỗi năm ngành dệt cần khoảnh 60000 tấn bông xơ, nhưng nguồn bông trong nước chỉ mới sản xuất được từ 13000 đến 16000 tấn, một con số nhỏ bé so với nhu cầu. Do vậy nguyên liệu bông trong tình trạng nhập khẩu 90% số lượng, vải may mặc phải nhập khẩu trên 70%, các nguyên liệu khác như  xơ sợi tổng hợp, thuốc nhuộm được nhập khẩu với số lượng xấp xỉ 100%(33). Có thể nói đây là những điểm yếu kém làm hạn chế khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp dệt may Việt Nam. Và mặc dù kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may lớn (Việt Nam đã có tên trên “bản đồ dệt may thế giới” ) nhưng so với kim ngạch xuất khẩu thiết bị máy móc, nguyên phụ liệu cho ngành công nghiệp dệt may thì giá trị gia tăng của ngành dệt may còn quá thấp.

Chiến lược phát triển CNPT cho ngành dệt may còn đang dừng ở ý tưởng và dự án. Việc tiếp tục nhập khẩu phụ tùng, cơ điện phụ liệu cho ngành dệt may với khối lượng lớn vẫn phải triển khai. Đây là những khó khăn cho các doanh nghiệp dệt may trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế.

5.      Công nghiệp phụ trợ ngành da- giầy

Trước năm 1987 ngành da giầy Việt Nam sản xuất còn nhỏ lẻ, sản phẩm chủ yếu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước. Từ năm 1987 đến năm 1991 toàn ngành da giầy Việt Nam bên cạnh chức năng sản xuất đáp ứng nhu cầu tiêu dùng còn thực hiện các chương trình hợp tác gia công quốc tế. Các nhà máy từ trung ương đến địa phương đều thực hiện gia công bán thành phẩm mũi giày cho Liên Xô cũ theo hiệp định và nghị định thư dài hạn giữa hai chính phủ. Năm 1991 khi Liên Xô và Đông Âu tan rã, do mất thị trường sản phẩm của các nhà máy trong nước không tiêu thụ được, hai phần ba số nhà máy này đều phải đóng cửa số còn lại phải sản xuất cầm chừng, tình hình sản xuất rơi vào đình trệ. Từ năm 1992 - 1995 cùng với sự phát triển của ngành công nghiệp giày thế  giới  và khu vực, ngành công nghiệp giầy Việt Nam đã đón nhận sự chuyển dịch cơ cấu sản xuất từ các nước và lãnh thổ công nghiệp cụ thể như các nước Hàn Quốc, Đài Loan,… Các doanh nghiệp ngành giầy đã nhanh chóng tận dụng thời cơ, cải tạo nhà xưởng hiện có, đầu tư máy móc thiết bị, thu hút các đối tác nước ngòai vào sản xuất giầy tại Việt Nam với nhiều hình thức đa dạng như hợp tác sản xuất gia công,  mua bán sản phẩm và ngành da giầy Việt Nam thực sự bước sang một thời kỳ phát triển mới, giải quyết công ăn việc làm cho hàng chục vạn lao động, có kim ngạch xuất khẩu lớn góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Thời kỳ 1996-1997 là thời kỳ có tốc độ tăng trưởng cao, năm 1999 Việt Nam đứng thứ 8 trong 10 nước sản xuất giầy dép lớn nhất Châu á, chiếm 2.1% tổng sản lượng giầy thế giới.

Cho đến nay cả nước hiện có 233 doanh nghiệp sản xuất giầy dép các loại trong đó có 76 doanh nghiệp nhà nước, 80 doanh nghiệp ngoài quốc doanh và 77 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Tổng năng lực sản xuất giầy dép các loại hàng năm đạt khoảng 420 triệu đôi trong đó doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 48%, doanh nghiệp nhà nước chiếm khoảng 27.25%, doanh nghiệp ngoài quốc doanh chiếm 24.75%(34). Sản lượng sản xuất giầy dép các loại tăng nhanh qua các năm. Từ chỗ chỉ gia công mũ giầy đơn thuần cho các nước  Đông Âu và Liên Xô đến nay các doanh nghiệp da giầy của Việt Nam đã lớn mạnh và với những dây chuyền sản xuất đã hoàn chỉnh với những chủng loại  phong phú, những nhãn mác nổi tiếng thế giới cũng được sản xuất tại Việt Nam như Nike, Reebok, Adidas….

Hiện nay ngành da giày Việt Nam đã sản xuất được trên 360 triệu đôi giầy dép các loại, 22 triệu đôi feet da thành phẩm và trên 30 triệu sản phẩm như túi, cặp các loại(34). Xuất khẩu giầy dép hiện đang đứng thứ 4 thế giới và luôn tăng trưởng qua các năm. Tuy nhiên phương thức hoạt động của các doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép hiện nay sản xuất chủ yếu là gia công xuất khẩu cho nên kim ngạch xuất khẩu thì lớn còn kim ngạch thực thì lại rất ít. Vì gia công lại cho các hãng khác nên có một nghịch lí là Việt Nam mặc dù đứng hàng thứ 4 về xuất khẩu giầy dép nhưng lại không có tên trên bản đồ xuất khẩu. Đặc biệt là nguồn nguyên liệu đầu vào rất hạn chế (khoảng từ 60% đến 80% đầu vào cho sản xuất giầy dép ở Việt Nam là nhập khẩu, tùy theo từng chủng loại sản phẩm). Theo Bộ Công nghiệp mỗi năm nước ta vẫn phải nhập 6 triệu feet vuông da thuộc. Nhà máy thuộc da chưa đáp ứng được 10% nhu cầu và chỉ hoạt động được 25% công suất do thiếu nguyên liệu, hàng năm, Việt Nam chỉ có thể cung cấp 5000 tấn da bò và 100 tấn da trâu nhưng nguồn nguyên liệu nội địa này cũng không được tận dụng mà 60% được xuất khẩu sang Trung Quốc và Thái Lan với giá trị xuất khẩu rất thấp, phần còn lại thì không đủ tiêu chuẩn để sản phẩm xuất khẩu. Vì thế mỗi năm Việt Nam chi từ 170-230 triệu USD để nhập da giả và từ 80-100 triệu USD để nhập da từ Thái Lan, Đài Loan, và Hàn Quốc.

IV.      Đánh giá các ngành CNPT ở Việt Nam

  Sau khi xem xét thực trạng phát triển chung của các ngành CNPT và đi sâu vào phân tích một số ngành tiêu biểu, có thể nhận thấy rằng bên cạnh những vấn đề còn tồn tại về sự yếu kém của ngành CNPT thì không thể phủ nhận những lợi thế, tiềm năng để phát triển CNPT ở Việt Nam. Có thể tóm lược như sau:

1.   Những mặt tồn tại của CNPT Việt Nam

           Thứ nhất, các khó khăn về quy mô cầu: Thị trường Việt Nam cho các nhà lắp ráp, đặc biệt là các nhà sản xuất ô tô còn khá nhỏ

           Thứ hai, khoảng cách chất lượng giữa các công ty cung cấp trong nước và yêu cầu của các nhà lắp ráp FDI còn khá lớn

           Thứ ba, tình trạng thiếu kênh thông tin: sợi dây liên kết giữa các công ty cung cấp trong nước và các nhà lắp ráp còn khá lỏng lẻo, thiếu một cơ sở dữ liệu về các nhà cung cấp nội địa để các doanh nghiệp lắp ráp tìm kiếm.

           Thứ tư, máy móc của các doanh nghiệp cung cấp nội địa còn lạc hậu, chưa đáp ứng được những đòi hỏi về tiêu chuẩn công nghệ đối với ngành CNPT

           Sở dĩ CNPT Việt Nam còn nhiều vấn đề tồn tại, khả năng cạnh tranh của CNPT Việt Nam còn kém hơn các nước trong khu vực xuất phát từ 2 nguyên nhân chủ yếu. Thứ nhất, nhận thức của bản thân các doanh nghiệp Việt Nam về tầm quan trọng của CNPT còn chưa cao. Từ trước đến nay, các doanh nghiệp quốc doanh, chủ thể chính trong lĩnh vực này lại thường hoạt động theo kiểu trọng gói (sản xuất từ A đến Z). Do đó, họ hầu như không có khái niệm về ngành CNPT. Nguyên nhân thứ hai xuất phát từ nhận thức của Nhà nước. Hiện nay, trong hệ thống luật pháp, vẫn chưa có định nghĩa về ngành CNPT, dẫn đến việc trong các qui định pháp quy không hề có chính sách khuyến khích đầu tư và phát triển ngành CNPT.

2.   Những lợi thế để phát triển CNPT Việt Nam

            Thứ nhất, giá nhân công rẻ. Đây là một trong những lợi thế để thu hút các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào Việt Nam, đồng thời cũng là một yếu tố để giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này

           Thứ hai, lao động có tay nghề khéo. Đây là một nhân tố vô cùng quan trọng để xây dựng và phát triển ngành CNPT. Như đã phân tích ở trên, nguồn nhân lực có trình độ cao thậm chí còn được coi có ưu thế hơn so với máy móc hiện đại.

           Bản Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020 được bộ kế hoạch phê duyệt năm 2007 sẽ là tiền đề và định hướng phát triển cho ngành CNPT.

           Như vậy, chương II đã cho thấy một bức tranh tổng quát về thực trạng ngành CNPT Việt Nam. Nghiên cứu thực trạng để từ đó tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu của các ngành CNPT Việt Nam hiện nay; cụ thể hơn, đó là những khó khăn, thách thức hay cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong các ngành này. Nghiên cứu thực trạng cũng nhằm mục đích tìm ra nguyên nhân của sự yếu kém mà ngành CNPT Việt Nam đang gặp phải, để từ đó đưa ra những định hướng và giải pháp tối ưu nhất nhằm xây dựng và phát triển CNPT Việt Nam lên một tầm cao mới. 

CHƯƠNG III

ĐỊNH HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP PHỤ TRỢ VIỆT NAM

I. Định hướng phát triển ngành CNPT của chính phủ Việt Nam

         Trước thực trạng các ngành công nghiệp nói chung và CNPT nói riêng còn yếu kém, Chính phủ Việt Nam đã ban hành một loạt văn bản như các quy hoạch tổng thể cho riêng từngngành công nghiệp nhằm vạch ra những hướng phát triển, thúc đẩy các ngành này đi lên. Cụ thể như sau:

         Ngày 29/8/2007, Bộ trưởng Bộ Công Thương ký Quyết định 002/2007/QĐ - BCT phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xe máy Việt Nam giai đoạn 2006 -2015, có xét đến năm 2020.

         Ngày 6/8/2007, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp đã ký Quyết định số 36/2007/QĐ - BCN phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da - giầy đến năm 2010. 

         Ngày 5/10/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 177/2004/QĐ - TTG về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020.

         Ngày 23/4/2001, Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định số 55/2001/QĐ - TTG phê duyệt chiến lược phát triển và một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010.       

          Đặc biệt, cũng trong năm 2007, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp đã ký Quyết định số 34/2007/QĐ-BCN phê duyệt Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020. Bản quy hoạch này không những nêu lên định hướng phát triển cho toàn ngành CNPT Việt Nam mà còn đặt ra những chỉ tiêu cụ thể cho từng ngành, tiêu biểu là ngành dệt - may, da - giầy, điện tử - tin học, sản xuất và lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo.

         Phần dưới đây sẽ trích dẫn một số nội dung cơ bản của các bản Quy hoạch, từ đó xem xét tính phù hợp của các bản Quy hoạch đối với thực trạng phát triển của các ngành CNPT Việt Nam

1.   Quan điểm phát triển Công nghiệp phụ trợ ở Việt Nam

1.1.      Quan điểm phát triển chung ngành CNPT ở Việt Nam

            Theo bản Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, phát triển CNPT để thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá - mục tiêu mà Việt Nam cần đạt được vào năm 2020. Ngoài ra, phát triển CNPT cũng là một trong những điều kiện kiên quyết để Việt Nam hội nhập quốc tế, đặc biệt là trong xu thế chuỗi cung ứng toàn cầu đang chiếm ưu thế. Một vấn đề quan trọng khác là việc phát triển CNPT không nên dàn trải, mà phải tập trung vào các ngành mũi nhọn để nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam so với các nước trong khu vực:

            Phát triển công nghiệp hỗ trợ là khâu đột phá để phát triển nhanh và bền vững các ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước từ nay đến năm 2020.

            Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong xu thế hội nhập phải gắn với phân công hợp tác quốc tế và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ.

            Phát triển công nghiệp hỗ trợ trên cơ sở chọn lọc, dựa trên tiềm năng, lợi thế so sánh của Việt Nam, với công nghệ tiến tiến có tính cạnh tranh cao, gắn liền với mục tiêu nâng cao giá trị gia tăng trong nước đối với sản phẩm công nghiệp xuất khẩu, và phấn đấu trở thành một bộ phận trong dây chuyền sản xuất quốc tế.

            Phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng phát huy tối đa năng lực đầu tư của các thành phần kinh tế, đặc biệt là các đối tác chiến lược - các công ty, tập đoàn đa quốc gia.

            Phát triển công nghiệp hỗ trợ theo hướng tập trung theo từng nhóm ngành công nghiệp để phát huy tối đa hiệu quả cạnh tranh.   

1.2.      Quan điểm phát triển từng ngành CNPT ở Việt Nam

            Ngành CNPT có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp chính. Mối quan hệ giữa công nghiệp thượng nguồn và công nghiệp hạ nguồn là hết sức mật thiết. Do đó, việc xem xét quan điểm phát triển từng ngành CNPT phải gắn liền với việc xem xét từng ngành công nghiệp chính, từ đó đánh giá được được tính thống nhất, mức độ phù hợp trong việc định hướng phát triển CNPT của Chính phủ Việt Nam.

1.2.1. Quan điểm phát triển CNPT ngành xe máy 

            Trước hết, ta xem xét quan điểm phát triển ngành công nghiệp xe máy. Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xe máy Việt Nam giai đoạn 2006 -2015, có xét đến năm 2020 nhấn mạnh:

Phát triển các cơ sở sản xuất lắp ráp xe máy phải đồng bộ với sự phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ theo hướng hiện đại hóa, nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các cơ sở sản xuất trong ngành, đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu;

            Phát triển ngành công nghiệp xe máy phải gắn liền với việc đảm bảo các tiêu chuẩn, quy định về chất lượng sản phẩm, về an toàn giao thông đường bộ, về bảo vệ môi trường, bảo vệ sở hữu trí tuệ...

            Thứ hai, về quan điểm phát triển CNPT ngành xe máy: Bản Quy hoạch trên cũng nhấn mạnh việc lấy phát triển công nghiệp hỗ trợ làm trọng tâm, tạo tiền đề phát triển các ngành công nghiệp khác.

            Trong bản Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, CNPT cho ngành xe máy không được đề cập cụ thể. Tuy nhiên, bản Quy hoạch này lại đề cập tới ngành có quan hệ mật thiết với ngành xe máy, đó là cơ khí chế tạo. Quan điểm phát triển CNPT ngành cơ khí chế tạo hướng tới việc tập trung phát triển cơ khí nền tảng phục vụ sản xuất, lắp ráp các sản phẩm cơ khí trọng điểm, ban đầu chủ yếu thay thế nhập khẩu, sau hướng tới xuất khẩu và gắn liền với việc phục vụ các ngành kinh tế quốc dân khác.

1.2.2. Quan điểm phát triển CNPT ngành ô tô

         Thứ nhất, ta xem xét quan điểm phát triển ngành ô tô. Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020 nhấn mạnh:

         Công nghiệp ô tô là ngành công nghiệp rất quan trọng cần được ưu tiên phát triển để góp phần phục vụ có hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng tiềm lực an ninh, quốc phòng của đất nước.

         Phát triển nhanh ngành công nghiệp ô tô trên cơ sở thị trường và hội nhập với nền kinh tế thế giới; lựa chọn các bước phát triển thích hợp, khuyến khích chuyên môn hóa - hợp tác hóa nhằm phát huy lợi thế, tiềm năng đất nước; đồng thời tích cực tham gia quá trình phân công lao động và hợp tác quốc tế trong ngành công nghiệp ô tô.

         Phát triển ngành công nghiệp ô tô trên cơ sở tiếp thu công nghệ tiên tiến của thế giới, kết hợp với việc đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu - phát triển trong nước và tận dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện có, nhằm nhanh chóng đáp ứng nhu cầu trong nước về các loại xe thông dụng với giá cả cạnh tranh.

         Thứ hai, về quan điểm phát triển CNPT ngành ô tô, bản Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 nhấn mạnh:

         Các thành phần kinh tếtrong nước tập trung sản xuất linh phụ kiện cho lắp ráp các loại xe tải (trong đó có xe vận tải quân sự) và xe vận chuyển hành khách nhiều chỗ ngồi do công nghệ chế tạo linh kiện, phụ tùng và khả năng lắp lẫn ít phức tạp

         Thu hút đầu tư của các đối tác chiến lược nước ngoài để phát triển hệ thống sản xuất hỗ trợ cho việc lắp ráp các loại xe du lịch.

1.2.3. Quan điểm phát triển CNPT ngành điện tử - tin học

Hiện nayvẫn chưa có quy hoạch phát triển cho ngành điện tử - tin học. Tuy vậy, bản Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 vẫn đề cập tới CNPT ngành điện tử - tin học và coi đây là ngành then chốt. Quan điểm phát triển như sau:  

            Phát huy lợi thế về nguồn nhân lực trẻ, tập trung đầu tư đào tạo nguồn nhân lực để làm chủ công nghệ cao, tạo điều kiện thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển sản xuất linh, phụ kiện cho ngành.

             Xây dựng ngành sản xuất linh phụ kiện điện tử - tin học theo hướng gắn kết và tham gia vào chuỗi sản xuất, cung ứng của các công ty và tập đoàn đa quốc gia

1.2.4. Quan điểm phát triển CNPT ngành dệt - may

Thứ nhất, về quan điểm phát triển ngành dệt may. Chiến lược phát triển và một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010 cho rằng: phát triển ngành dệt may trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; thỏa mãn ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước; tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới.

            Thứ hai, về quan điểm phát triển CNPT ngành dệt - may. Bản Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 nhấn mạnh:

            Phát triển nhanh các sản phẩm hỗ trợ để sản xuất hàng xuất khẩu nhằm nâng cao tính chủ động trong sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm dệt may trên thị trường

            Khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư sản xuất các nguyên phụ liệu cho ngành, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các nhà đầu tư nước ngoài.

1.2.5. Quan điểm phát triển CNPT ngành da - giầy

            Thứ nhất, về quan điểm phát triển ngành da - giầy. Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da - giầy đến năm 2010 nêu lên rằng: Phát triển ngành da – giầy thành một ngành kinh tế quan trọng phục vụ cho tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần giải quyết việc làm cho người lao động, tăng thu ngoại tệ cho đất nước.

            Đảm bảo cho các doanh nghiệp da - giầy phát triển bền vững với công nghệ hiện đại, hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng tiêu chuẩn ISO 9000, quản lý môi trường đáp ứng tiêu chuẩn ISO 14000.

            Thứ hai, về quan điểm phát triển CNPT ngành da - giầy.           BảnQuy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 nhấn mạnh:

            Khai thác mọi nguồn lực và khuyến khích mọi thành phần kinh tế đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành.

            Tăng cường khâu thiết kế mẫu, mốt, phát triển thị trường để giảm dần tỷ trọng hàng gia công.

2. Định hướng phát triển

Dựa trên quan điểm phát triển chung và cụ thể cho từng ngành, các bản Quy hoạch đã vạch ra định hướng phát triển cụ thể, những mục tiêu định tính và định lượng:

2.1. Định hướng phát triển CNPT ngành xe máy

            Trước hết, về định hướng phát triển ngành công nghiệp xe máy: Bản Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xe máy Việt Nam giai đoạn 2006 -2015, có xét đến 2020 nhấn mạnh việc xây dựng và phát triển ngành công nghiệp xe máy để đến năm 2015 Việt Nam trở thành trung tâm thiết kế, sản xuất và lắp ráp xe máy quy mô lớn, có tính cạnh tranh trong khu vực, hội nhập đầy đủ vào thị trường khu vực và quốc tế. Một số mục tiêu cụ thể như: Giai đoạn đến năm 2015, phải đáp ứng 100% nhu cầu xe thông dụng ở khu vực nông thôn, 90% xe máy ở khu vực thành thị. Phấn đấu đạt tỷ lệ sản xuất trongnước dòng xe tay ga trên 60%, dòng xe số thông dụng trên 90%. Sản xuất được các loại xe máy phân khối lớn hơn 125 cm3, xe tay ga cao cấp, xe thể thao, xe máy 3-4 bánh cho người tàn tật, xe địa hình phục vụ du lịch, xe vận chuyển nông sản… phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Phấn đấu năm 2015 các loại xe này đạt trên 30% sản lượng toàn ngành, xuất khẩu xe máy và phụ tùng xe gắn máy đạt khoảng 400 triệu USD. Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ sản xuất xe máy có đủ sức cạnh tranh quốc tế, tham gia tích cực vào hệ thống sản xuất và cung cấp linh phụ kiện xe máy của các tập đoàn xe máy quốc tế.

            Cũng trong bản Quy hoạch này, CNPT cho ngành xe máy được nhắc tới là một trong những giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp xe máy. Cụ thể như sau:

            Tăng cường thu hút đầu tư vào 5 ngành mục tiêu của công nghiệp hỗ trợ là gia công áp lực, đúc, hàn, nhiệt luyện và sản xuất khuôn mẫu;

            Khuyến khích phát triển các chương trình đào tạo liên kết có sự tham gia của cả doanh nghiệp FDI và các nhà cung cấp nội địa.

2.2. Định hướng phát triển CNPT ngành ô tô

Trước hết, về định hướng phát triển ngành công nghiệp ô tô. Theo Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020, xây dựng và phát triển ngành công nghiệp ô tô đến năm 2020 trở thành một ngành công nghiệp quan trọng của đất nước, có khả năng đáp ứng ở mức cao nhất nhu cầu thị trường trong nước và tham gia vào thị trường khu vực và thế giới với sản lượng và cơ cấu sản phẩm như sau:

Bảng 5: Dự kiến sản lượng ô tô các loại đến năm 2020

STT

2005

2010

2020

1

Tổng số ô tô

120.000

239.000

398.000

2

Xe con đến 5 chỗ ngồi

32.000

60000

116.000

3

Xe con từ 6-9 chỗ ngồi

3.000

10000

28.000

4

Xe khách

15000

36000

79.900

+ 10 - 16 chỗ ngồi

9000

21000

44000

+ 17 - 25 chỗ ngồi

2000

5000

11.200

+ 26 - 46 chỗ ngồi

2.400

6000

15.180

+ > 46 chỗ ngồi

1.600

4000

9.520

5

Xe tải

68000

127000

159.800

+ Đến  2 tấn

40000

57000

50000

+>2 tấn - 7 tấn

14000

35000

53.700

+ > 7 tấn - 20 tấn

13.600

34000

52.900

+ > 20 tấn

400

1000

3.200

6

Xe chuyên dụng

2

6000

14.400

Nguồn: Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020(2004)

 Thứ hai, ta xem xét định hướng phát triển CNPT ngành ô tô. Về mục tiêu định tính, công nghiệp hỗ trợ sản xuất và lắp ráp ô tô tập trung phát triển sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ngành ô tô theo cụm công nghệ gồm cabin, khung, vỏ, hệ thống treo, động cơ, cầu, các đăng, hộp số, hệ thống lái cho các loại xe tải, xe khách và xe chuyên dụng. Phát triển có chọn lựa một số loại động cơ, hộp số, bộ truyền động và phụ tùng với số lượng lớn phục vụ lắp ráp ô tô trong nước và tham gia xuất khẩu…; khuyến khích hợp tác sản xuất và chuyển giao công nghệ với các tập đoàn đa quốc gia vào sản xuất linh phụ kiện ôtô. Các công nghệ mới cần được lựa chọn để đảm bảo không lạc hậu tối thiểu sau 15 năm.

Theo quy hoạch, sau năm 2010, Việt Nam sẽ thu hút đầu tư liên doanh sản xuất động cơ diesel tại khu công nghiệp ô tô Củ Chi, tiến tới hình thành khu công nghiệp hỗ trợ cho việc sản xuất động cơ và ô tô tại Tp. HCM, Bình Dương, Tây Ninh…

Về mục tiêu định lượng: Đến năm 2010, hoàn thiện các mẫu xe tải, xe khách với tỷ lệ sử dụng linh phụ kiện sản xuất trong nước là 65%, xe con là 15%; đến năm 2020 cho xe khách là 75%, xe tải là 85% và xe con là 30%. Từng bước tham gia xuất khẩu một số linh kiện, phụ tùng.

         Phấn đấu đạt tỷ lệ sử dụng nguyên liệu trong nước sản xuất các phụ tùng theo vùng công nghệ tính theo % đến năm 2010 và 2020 như sau:

        Cacbin xe tải từ 70% lên 95%; khung xe tải từ 90% lên 95%; khung xe khách từ 80% lên 90%; vỏ xe khách từ 70% lên 80%; hệ thống xe khách từ 70% lên 80%; cụm động cơ từ 50% lên 60%; hộp số và cầu xe từ 60% lên 75%; moay ơ bánh xe, cát đăng từ 60% lên 75%; hệ thống lái và cầu trước từ 60% lên 65%.

2.3. Định hướng phát triển CNPT  ngành điện tử - tin học

Theo Bản Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020:

Về mục tiêu định tính: Xây dựng ngành công nghiệp hỗ trợ cho công nghiệp điện tử theo xu hướng tham gia vào chuỗi sản xuất và cung ứng linh phụ kiện của thế giới và khu vực; trước mắt đáp ứng nhu cầu về linh kiện lắp ráp đơn giản, các chi tiết nhựa, khuôn mẫu, mạch in…; thu hút các tập đoàn đa quốc gia phát triển các cơ sở sản xuất, thiết kế các hệ thống bán dẫn tích hợp cao, vi điều khiển, các thiết bị SoC (System on-a chip), IC thông minh, những sản phẩm tín hiệu hỗn hợp, những vi mạch có bộ nhớ nhanh, bộ nhớ STRAM...; Phát triển các cơ sở sản xuất, thiết kế các hệ thống bán dẫn tích hợp cao, các phần mềm nhúng, các bảng mạch tích hợp dùng cho thiết bị thông tin, máy tính, thiết bị ngoại vi, đồ điện, điện tử gia dụng…

 Về mục tiêu định lượng, công nghiệp hỗ trợ điện tử - tin học phấn đấu đến năm 2010 tỷ trọng cho phí nguyên vật liệu trong nước trong giá thành sản phẩm ước đạt 22-25%.

2.4. Định hướng phát triển CNPT  ngành dệt - may

Trước hết, về định hướng phát triển ngành dệt - may, ta xem xét một số chỉ tiêu chủ yếu sau ( theo Chiến lược phát triển ngành dệt may đến năm 2010):

Về kim ngạch xuất khẩu: Đến năm 2010: 8 đến 9 tỷ đô la Mỹ

Về sử dụng lao động: Đến năm 2010: thu hút 4 đến 5 triệu lao động

Tỷ lệ giá trị sử dụng nguyên phụ liệu nội địa trên sản phẩm dệt may xuất khẩu: Đến năm 2010: trên 75 %

Vốn đầu tư phát triển: Tổng vốn đầu tư phát triển ngành dệt may Việt Nam giai đoạn 2006 – 2010 khoảng 30.000 tỷ đồng, trong đó Tổng công ty Dệt may Việt Nam khoảng 9.500 tỷ đồng. Tổng vốn đầu tư phát triển nguyên liệu trồng bông đến năm 2010 khoảng 1.500

Thứ hai, về định hướng phát triển CNPT ngành dệt may, theo Bản Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020, một số mục tiêu định tính và định lượng như sau:

            Về mục tiêu định tính:Ngànhcông nghiệp hỗ trợ dệt may sẽ tập trung vào phát triển sản xuất các loại vải cho may xuất khẩu, một số loại hóa chất, chất trợ nhuộm các chất làm mềm; các loại chất giặt, tẩy; các loại hồ dệt có nguồn gốc tinh bột; hồ hoàn tất tổng hợp; các loại phụ liệu may khác.

            Về mục tiêu định lượng: Ngành công nghiệp hỗ trợ dệt may nhằm mục tiêu đến năm 2015 đạt khoảng 39% và đến 2020 khoảng 40% nhu cầu vải dệt thoi; đến năm 2010 tự sản xuất trong nước từ 10-70% tùy loại phụ tùng cơ khí dệt may và 40-100% vào năm 2020; năm 2015 đáp ứng 50% nhu cầu nội địa về các sản phẩm xơ, sợi tổng hợp; đến năm 2020 đáp ứng 80% nhu cầu nội địa và tiến tới xuất khẩu sau năm 2020.

2.5. Định hướng phát triển CNPT ngành da - giày

            Thứ nhất, về quan điểm phát triển ngành da - giầy. Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da - giầy đến năm 2010 đã đưa ra một số chỉ tiêu sản xuất, xuất khẩu giầy dép, da và đồ da đến năm 2010 như sau: 

Bảng 6: Một số chỉ tiêu chủ yếu của ngành da – giày đến năm 2010

Sản phẩm chủ yếu

Đơn vị

tớnh

Năm

2000

Năm

2005

Năm

2010

1. Kim ngạch xuất khẩu

1.000 USD

1.468

3.039

6.200

2. Giải quyết lao động

1.000 người

400

540

820

3. Sản phẩm chủ yếu

- Giầy, dộp cỏc loại

1.000  đụi

302.800

499.000

720.000

- Cặp, tỳi cỏc loại

1.000  cỏi

31.000

51.700

80.700

- Da thuộc cỏc loại

1.000 sqft

15.100

47.000

80.000

Nguồn: Bộ Công nghiệp, “Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da - giầy đến năm 2010(2007)”

         Thứ hai, về quan điểm phát triển CNPT ngành da – giầy, bản Bản Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 qui định như sau:

Vềmục tiêu định tính: Ngành công nghiệp hỗ trợ da - giày phối hợp với ngành dệt - may đẩy nhanh khả năng cung ứng các loại vải dệt để sản xuất giầy dép, đặc biệt là giầy dép vải xuất khẩu; sản xuất nguyên vật liệu da và giả da cung cấp cho sản xuất giầy dép xuất khẩu; thu hút đầu tư nước ngoài, nhất là từ khối EU vào sản xuất nguyên liệu mũ giày (giả da PVC, giả da PU...).

Về mục tiêu định lượng: Ngành công nghiệp hỗ trợ da - giày nhằm mục tiêu nâng tỷ lệ sử dụng nguyên phụ liệu trong nước đạt 40% vào năm 2010 và 70-80% vào năm 2020; giảm dần mức nhập khẩu da sơ chế từ nay đến năm 2010, nâng công suất thuộc da đến năm 2010 tăng thêm 40 triệu sqft và sau năm 2015 tự chủ được khuôn mẫu và phụ tùng thay thế thông thường.

2.6. Định hướng phát triển CNPT ngành cơ khí chế tạo

Ngoài ra, bản Bản Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 còn đưa ra những định hướng phát triển cụ thểcho CNPT ngành cơ khí chế tạo như sau:

Về mục tiêu định tính, công nghiệp hỗ trợ cơ khí chế tạo tăng cường đầu tư chiều sâu tại các cơ sở cơ khí chế tạo hiện có để nâng cao năng lực đúc, rèn, tạo phôi lớn, nhiệt luyện, xử lý bề mặt, cung cấp nguyên liệu, bán thành phẩm tiêu chuẩn để chế tạo chi tiết, phụ tùng cho sản xuất 3 nhóm sản phẩm cơ khí chính là thiết bị đồng bộ, máy công cụ, máy móc xây dựng; thu hút đầu tư nước ngoài vào các quá trình sản xuất công nghệ cao, vào những khâu cơ bản Việt Nam còn yếu kém như đúc, rèn, tạo phôi lớn, nhiệt luyện, xử lý bề mặt kim loại, sản xuất chi tiết quy chuẩn chất lượng cao.

Theo quy hoạch, sẽ xây dựng các khu, cụm công nghiệp hỗ trợ cơ khí tại Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng Yên, Hải Phòng, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh và Đà Nẵng

Về mục tiêu định lượng: Đến năm 2010 đáp ứng 50% nhu cầu nội địa về phôi đúc, rèn và chi tiết quy chuẩn và đến 2020 đạt khoảng 75%, với chất lượng đạt tương đương khu vực.

Như vậy, chủ yếu qua việc xem xét bản Quy hoạch phát triển ngành CNPT đến năm 2010, tầm nhìn 2020, có thể nhận thấy những hướng phát triển chính nhằm giải quyết những mặt yếu kém của ngành CNPT, đồng thời cũng nhằm tăng cường xây dựng và phát triển ngành CNPT trong tương lai như sau:

Khuyến khích hình thành các khu, cụm công nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng, nguyên vật liệu phụ trợ. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia sản xuất sản phẩm hỗ trợ, cung ứng nguyên phụ liệu cho sản xuất hỗ trợ.

Tập trung phát triển các ngành, các sản phẩm công nghiệp ưu tiên,công nghiệp mũi nhọn là nền tảng để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, làm vệ tinh phát triển công nghiệp hỗ trợ. Tập trung xây dựng một số khu, cụm công nghiệp hỗ trợ có trang thiết bị, công nghệ tiên tiến gắn với các vùng có các ngành công nghiệp chính phát triển.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có các dự án chuyển giao công nghệ vào Việt Nam. Hỗ trợ chi phí mua bản quyền cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Khuyến khích các viện nghiên cứu chuyên ngành triển khai nghiên cứu, thực nghiệm các đề tài, dự án gắn với nhu cầu phát triển sản xuất các chủng loại vật liệu, chi tiết, linh phụ kiện, phụ tùng… phục vụ phát triển công nghiệp hỗ trợ.

Thu hút sự hỗ trợ của Chính phủ các nước phát triển như Nhật Bản, EU… để đào tạo nguồn nhân lực cho công nghiệp hỗ trợ. Đặc biệt khuyên khích các doanh nghiệp FDI tham gia và vào công tác đào tạo nguồn nhân lực, kết nối các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội địa trong việc sản xuất hỗ trợ.

Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ dàng tiếp cận được nguồn vốn vay dài hạn cho đầu tư phát triển.

II. Một số giải pháp triển Công nghiệp phụ trợ trong thời gian tới

1. Soạn thảo các chính sách phát triển CNPT phù hợp

Để thực hiện mục tiêu xây dựng một khuôn khổ chính sách phù hợp, việc đầu tiên cần làm là phải làm rõ định nghĩa mang tính pháp lý về CNPT. Tiếp đến, chính sách thúc đẩy các ngành CNPT, bao gồm các ưu đãi về thuế, các biện pháp hỗ trợ kinh doanh, cần được xây dựng trên cơ sở không phân biệt các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài 

Để sử dụng một cách tối đa các nguồn nhân lực và tài chính, chính phủ Việt Nam cần phải xác định một cách rõ ràng số lượng những trụ cột cần ưu tiên trong phát triển các ngành CNPT. Có một cách lựa chọn là nỗ lực xây dựng các ngành tạo khuôn, dập khuôn và cán thép - những ngành hiện nay Việt Nam đang thiếu.

Sức tăng trưởng dồi dào của các ngành công nghiệp lắp ráp, đặc biệt là ngành ô tô và điện tử dân dụng, cũng có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của các ngành CNPT. Theo quan điểm này thì việc dự thảo chính sách phát triển công nghiệp toàn diện, trong đó có ngành lắp ráp, là điều hết sức cần thiết. Chính sách này cần được thực hiện trong bối cảnh Việt Nam phải thực hiện trong bối cảnh Việt Nam phải thực hiện lộ trình Thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung (CEPT) của Khu vực tự do thương mại ASEAN (AFTA) vào năm 2006.

Chính phủ Việt Nam đã tăng thuế nhập khẩu với linh kiện ô tô, đồ điện gia dụng (TV, máy giặt…) nhằm thúc  đẩy quá trình nội địa hóa. Tuy nhiên, theo một số chuyên gia kinh tế, đây là một biện pháp chưa được cân nhắc thận trọng. Mặc dù mục tiêu của chính sách về lâu dài là đúng vì muốn nhanh chóng tạo điều kiện xây dựng các ngành phụ trợ, tuy nhiên, tình hình hiện nay cho thấy là nên làm ngược lại để giữ chân các công ty đã đầu tư lắp ráp, đối phó trước thách thức AFTA), nghĩa là nên cho nhập khẩu tự do, miễn thuế linh kiện, bộ phận lắp ráp để giảm giá thành sản phẩm, duy trì khả năng cạnh tranh với các nước ASEAN khác.  

Trong điều kiện hiện nay, không nên dùng biện pháp hành chính hoặc thuế quan ép buộc công ty đa quốc gia tăng tỷ lệ nội địa hóa mà điều tiên quyết là phải cải thiện khả năng cung cấp sản phẩm tại chỗ. Nếu các ngành hỗ trợ trong nước phát triển, cung cấp đầy đủ và kịp thời các linh kiện và bộ phận với giá thành rẻ và chất lượng cao thì thông qua cơ chế thị trường, tỷ lệ nội địa hóa sẽ tăng. Chính phủ cần có những chính sách nhằm cải thiện về mặt hành chính (bỏ giấy phép con, tinh giản thanh tra, kiểm tra), hỗ trợ về vốn và thông tin…để thúc đẩy các xí nghiệp nhỏ và vừa thuộc lĩnh vực này phát triển. Cũng phải có biện pháp để các công ty nhà nước trong lĩnh vực này tăng khả năng cạnh tranh bằng các biện pháp tích cực, tiếp nhận sự chi viện về công nghệ từ nước ngoài, liên doanh, hợp tác với các công ty nước ngoài, nhất là với các xí nghiệp  nhỏ và vừa của Nhật - những công ty có trình độ kỹ thuật cao và có bề dầy kinh nghiệm trong lĩnh vực này. Đây cũng là chính sách cần thiết để tăng khả năng cạnh tranh của các công ty trong nước với những xí nghiệp của Trung Quốc sẽ đầu tư vào trong thời gian tới.

Ngoài ra, cần có chính sách khuyến khích đầu tư, khuyến khích chuyển  giao công nghệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, hỗ trợ tìm kiếm, điều tiết thị trường, tạo mặt bằng, nhà xưởng cho thuê để sản xuất kinh doanh đối với các công ty, tập đoàn nước ngoài, cũng như các doanh nghiệp nội địa để phát triển công nghiệp hỗ trợ.

2. Tạo dựng môi trường đầu tư, khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh

Xâydựng các chương trình phát triển từng nhóm sản phẩm hỗ trợ để thu hút sự tham giả của mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước.

            Khuyến khích hình thành các khu, cụm công nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng, nguyên vật liệu phụ trợ cho các ngành công nghiệp. Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia sản xuất sản phẩm hỗ trợ, cung ứng nguyên phụ liệu cho sản xuất hỗ trợ.

            Tiếp tục đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, đẩy mạnh tiến trình cổ phần hóa để nâng cao tính tự chủ trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp này và thu hút vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế khác.

            Tập trung phát triển các ngành, các sản phẩm công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn tạo nền tảng để phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ làm vệ tinh phát triển công nghiệp hỗ trợ 

            Tiếp tục quá trình cải cách hành chính, nâng cao tính minh bạch của môi trường sản xuất kinh doanh để phát triển thêm nhiều doanh nghiệp mới theo mục tiêu đã đề ra, cũng như thu hút ở mức độ cao đầu tư nước ngoài vào phát triển công nghiệp hỗ trợ

            Tổ chức và hỗ trợ thành lập các trung tâm tiếp thị tìm kiếm thị trường tiêu thụ và đối tượng cung cấp sản phẩm hỗ trợ trong và ngoài nước, làm cầu nối giữa các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, đặc biệt là giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội địa.

            Thành lập và đưa vào hoạt động một số trang web chuyên ngành công nghiệp hỗ trợ bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước

3. Thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ( SMEs)

Các SMEs sẽ là một trong những nhân tố quan trọng trong việc đưa nền CNPT của Việt Nam đi lên, do đó cần có những chính sách và biện pháp thích hợp nhằm khuyến khích các SMEs trong lĩnh vực này. Một số giải pháp thúc đẩy cần được chú ý như sau:

Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn vay dài hạn cho đầu tư phát triển. Nghiên cứu kinh nghiệm của Nhật Bản trong việc thành lập hệ thống ngân hàng phục vụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cơ chế bảo lãnh tín dụng để áp dụng vào thực tiễn ở Việt Nam.

Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong việc đầu tư nghiên cứu và phát triển sản xuất bằng việc cho vay tín dụng hay hỗ trợ các chuyên gia...

4. Đào tạo nguồn nhân lực

Một điều hết sức hiển nhiên là nguồn nhân lực có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của các ngành CNPT. Việt Nam sở hữu một lực lượng lao động lớn. Tuy nhiên, Việt Nam lại thiếu lực lượng kỹ sư có trình độ trung cấp đến cao cấp. Số lượng kỹ sư tốt nghiệp đại học được tuyển dụng có đủ năng lực để đáp ứng các nhu cầu về quản lý lại rất thiếu, đặc biệt là ở miền Bắc. Một phần của thực  trạng này là  việc đào tạo thực hành khoa học kỹ thuật ( kỹ thuật cơ khí, kỹ thuật điện, hóa ứng dụng..,) trong các trường đại học còn rất yếu, và vì thế đây cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc trang thiết bị phục vụ cho hoạt động này cũng thiếu. Sự thiếu nhiệt tình trong quá trình tiếp thu những kiến thức thực tế cũng là một vấn đề nảy sinh từ phía sinh viên ở các trường.

Thực trạng đó chỉ ra rằng cần phải cải cách triệt để đào tạo đại học theo cả hai hướng, đó là phần cứng (bằng trang thiết bị) và phần mềm (chương trình đào tạo và phương pháp giảng dạy), và có một khối lượng lớn kỹ sư có thể làm việc  trong các ngành CNPT. Các chương trình liên thông giữa các trường đại học và các tổ chức học thuật, ví dụ như chương trình thực tập ngắn hạn, cần phải có hiệu quả để sinh viên có điều kiện nâng cao kỹ năng thực hành và có thái độ đúng đắn với môi trường làm việc của một doanh nghiệp sản xuất.

Để có được một lực lượng kỹ sư có trình độ trung cấp, việc mở rộng các trường cao đẳng kỹ thuật và các trung tâm đào tạo nghề là điều hết sức cần thiết. Một ví dụ điển hình là, từ năm 2002 Cơ quan hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) giúp trường cao đẳng Công nghiệp Hà Nội trang thiết bị lại cơ sở đào tạo bằng việc hỗ trợ máy móc thiết bị, đào tạo giảng viên Việt Nam, và tìm kiếm đầu ra cho việc sản xuất linh kiện phụ kiện. Những việc làm như thế nên được tiến hành ở các trường cao đẳng kỹ thuật ở miền Nam để thúc đẩy trình độ kỹ thuật của cả nước.

Trong bản Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020, các giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực tập trung vào một số vấn đề sau:

Tăng cường đào tạo cán bộ kỹ thuật các ngành thiết kế (bao gồm cả thiết kế mẫu mốt, thời trang, kiểu dáng công nghiệp), chế tạo máy, luyện kim, điều khiển tự động, điện tử tin học để làm chủ các công nghệ được chuyển giao, nghiên cứu thiết kế tạo ra công nghệ nguồn và kiểu dáng sản phẩm riêng của Việt Nam.

Thu hút sự hỗ trợ của Chính phủ các nước phát triển như Nhật Bản, EU…để đào tạo nguồn nhân lực cho CNPT. Đặc biệt khuyến khích các doanh nghiệp FDI tham gia vào công tác đào tạo nguồn nhân lực.

Tạo điều kiện đầu tư trang thiết bị cho các cơ sở nghiên cứu, chủ động đào tạo đội ngũ cán bộ chuyên ngành, cũng như hợp tác nghiên cứu với các đối tác nước ngoài trong một số chương trình đào tạo nguồn nhân lực để phát triển công nghiệp hỗ trợ.

5. Xây dựng cơ chế quản lý chất lượng hàng hóa

Hiện nay, các khía cạnh pháp lý về quản lý chất lượng sản phẩm do cơ quan Tiêu chuẩn và Chất lượng (STAMEQ) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành. Việc quản lý tiêu chuẩn, kiểm định chất lượng và phân tích mẫu do Trung tâm Quản lý và Kiểm định chất lượng (QUATEST) thực hiện dưới sự chỉ đạo của STAMEQ tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh. Việc quản lý và kiểm tra chất lượng sản phẩm là một trong nhiều chức năng quan trọng của chính phủ trong việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ và tăng cường khả năng cạnh tranh của chúng. Vì thế, năng lực của QUATEST cũng cần phải cải thiện.

QUATEST cần phải tăng cường hoạt động của mình nhằm giúp các doanh nghiệp trong nước nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam chỉ coi việc kiểm tra chất lượng sản phẩm là trách nhiệm với người sử dụng sản phẩm của họ khi những sai sót của sản phẩm được phát hiện. Quan niệm này không thể chấp nhận được và cần phải thay đổi trước khi họ có thể trở thành nhà cung cấp của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước  ngoài.

Bên cạnh việc nhận thức được công việc của QUATEST, việc hỗ trợ kỹ thuật dài hạn cũng rất cần thiết nhằm thay đổi tư tưởng cố hữu của một số doanh nghiệp trong nước  đối với chất lượng. Đào tạo ngắn hạn không phải là cách làm có hiệu quả đối với vấn đề này. Tuy nhiên, chi phí cho việc hỗ trợ dài hạn như thế vượt quá sức các doanh nghiệp tư nhân. Một số doanh nghiệp Nhật Bản đã đứng ra hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước, nhưng hỗ trợ về tài chính và thời gian cho những khóa đào tạo như thế là rất tốn kém và không thể kéo dài mãi được. Việc làm thiết thực nhất là tổ chức các chương trình chính thức và thường xuyên hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam với sự tham gia của nhiều chuyên gia, trong đó có các chuyên gia của Tập đoàn Phát triển hải ngoại Nhật Bản (JODC). 

Trong các giải pháp về khoa học - công nghệ được đề xuất trong bản Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm là giải pháp hàng đầu. Theo đó, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế làm căn cứ cho việc định hướng phát triển; hỗ trợ phát triển và nâng cấp các tổ chức kiểm định, đánh giá chất lượng sản phẩm hỗ trợ thuộc nhiều thành phần kinh tế đạt trình độ quốc tế; giành đủ kinh phí cho các Bộ, ngành triển khai xây dựng các tiêu chuẩn ngành và tiêu chuẩn cơ sở liên quan tới các sản phẩm hỗ trợ. 

Ngoài ra, khuyến khích các Viện nghiên cứu chuyên ngành dệt may, da giày, cơ khí, công nghệ…triển khai nghiên cứu, thực nghiệm các đề tài, dự án gắn với nhu cầu phát triển sản xuất các chủng loại vật liệu, chi tiết, linh phụ kiện, phụ tùng…

6. Hoàn thiện hệ thống thông tin doanh nghiệp

Trong nền kinh tế kế hoạch trước đây, các doanh nghiệp nhận được rất ít đơn đặt hàng sản xuất từ cấp trên nên họ không cần mở rộng sản xuất bằng nỗ lực của mình. Thậm chí ngay cả bây giờ, rất nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ thụ động làm các đơn đặt hàng có sẵn chứ không nỗ lực tìm kiếm khách hàng mới cho sản phẩm của mình. Để phát hiện ra các doanh nghiệp có tiềm năng hoạt động cao trong số các doanh nghiệp trong nước, chúng ta cần phải thiết lập một hệ thống thông tin doanh nghiệp chính thức và xây dựng các mạng lưới thông tin nội bộ doanh nghiệp. Để làm được  việc này, các thông tin và dịch vụ hỗ trợ của Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), của Công đoàn Hiệp hội Công nghiệp và Thương mại (UAIC), và của Trung tâm xúc tiến thương mại và đầu tư (ITPC) cần được thúc đẩy mạnh hơn. Hơn nữa,  cần tăng cường công tác thống kê, xây dựng cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp sản xuất hỗ trợ để làm cơ sở cho việc giới thiệu, tìm kiếm các mối liên kết ngang,

7. Xúc tiến liên kết giữa doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp FDI và các công ty đa quốc gia (MNCs)

Xây dựng các chương trình xúc tiến liên kết giữa các nhà cung cấp trong nước và các doanh nghiệp lớn (đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các công ty đa quốc gia như thông qua các cuộc tiếp xúc trực tiếp, chuyến thăm cơ sở, hội chợ triển lãm…nhằm củng cố và tăng cường mối quan hệ giữa nhà cung cấp và nhà lắp ráp. Có như vậy, các doanh nghiệp lắp ráp nước ngoài mới có niềm tin vào các doanh nghiệp nội địa, cũng là cơ sở để các doanh nghiệp trong nước có được những đơn hàng lớn từ các doanh nghiệp lắp ráp nói trên.

Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều mô hình xúc tiến liên kết thành công mà Việt Nam cần học tập. Ví dụ như, Thái Lan đã hợp tác với JICA xây dựng Quy hoạch tổng thể để phát triển CNPT và Malaysia xây dựng một chương trình mới là Chương trình liên kết công nghiệp, hay như UNIDo đã thành lập trung tâm trao đổi thầu phụ và đối tác (SPXs) trên toàn thế giới từ 1985 nhằm hỗ trợ và thúc đẩy SMEs.

Trong bản Quy hoạch phát triển ngành Công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020, giải pháp về liên kết doanh nghiệp được đề cập thành một mục riêng, điều này cho thấy tầm quan trọng của liên kết doanh nghiệp trong việc thúc đẩy sự phát triển của công nghiệp hỗ trợ. Các giải pháp về liên kết doanh nghiệp tập trung vào việc:

Kết nối các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội địa trong việc phát triển sản xuất hỗ trợ thông qua các chương trình giới thiệu nhu cầu phát triển và sử dụng các sản phẩm hỗ trợ và hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp FDI với các doanh nghiệp nội địa.

Xây dựng các chương trình hợp tác dài hạn với các đối tác chiến lược - các công ty, tập đoàn đa quốc gia về phát triển công nghiệp hỗ trợ trong giai đoạn 2006-2010, tầm nhìn 2020.

Xây dựng cơ sở dữ liệu và website về danh mục các doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện, các sản phẩm hỗ trợ, danh mục các sản phẩm hỗ trợ ưu tiên phát triển đến năm 2010 để thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp có quan tâm.

Củng cố và nâng cao vai trò của các Hiệp hội ngành nghề, các tổ chức Chính phủ và phi Chính phủ làm đầu mối liên kết doanh nghiệp. Đổi mới cơ chế tổ chức và hoạt động của các Hiệp hội ngành nghề để có thể đóng vai trò đại diện cho ngành tìm kiếm, tiếp nhận tài trợ của Chính phủ và của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thực hiện các giải pháp phát triển ngành, đầu mối xúc tiến đầu tư, phát triển thị trường, đề xuất các cơ chế chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ .

8. Đề xuất kiến nghị

             Hiện nay, tình trạng thiếu thông tin giữa các nhà lắp ráp FDI và các doanh nghiệp cung cấp linh phụ kiện nội địa diễn ra rất phổ biến. Các nhà lắp ráp FDI không biết phải tìm các nhà sản xuất linh phụ kiện của Việt Nam ở đâu. Do vậy, cơ sở dữ liệu về CNPT là rất cần thiết để giảm tình trạng thiếu thông tin và mở rộng giao dịch giữa nhà lắp ráp FDI và nhà cung cấp trong nước. Trên thực tế, vấn đề này đã được đưa ra bàn thảo nhiều xong cho đến nay hệ thống cơ sở dữ liệu vẫn chưa được thực hiện. Cơ sở dữ liệu về CNPT này phải khác với danh bạ doanh nghiệp. Trên thực tế, Việt Nam đã có một số danh bạ doanh nghiệp theo kiểu trang vàng như Trang vàng Việt Nam (dữ liệu của 60.000 doanh nghiệp), danh bạ doanh nghiệp Việt Nam của VCCI ( dữ liệu của 20.000 doanh nghiệp), các danh bạ của các hiệp hội ngành nghề; tuy nhiên, đặc điểm chung là chỉ có tên công ty, sản phẩm chính và địa chỉ liên lạc mà vấn đề ở đây là các nhà lắp ráp FDI cần thông tin cụ thể hơn về các nhà cung cấp tiềm năng cao để giảm chi phí tìm kiếm đồng thời lựa chọn được đối tác đáng tin cậy.

            Xây dựng cơ sở dữ liệu sẽ mất nhiều thời gian và tiền của. Tuy nhiên, tầm quan trọng của nó là vô cùng to lớn trong việc thúc đẩy các ngành CNPT đi lên. Chính phủ, các Bộ ban ngành, các doanh nghiệp, tổ chức cần hợp tác toàn diện để sớm đưa cơ sở dữ liệu đi vào hoạt động.

KẾT LUẬN

            Như vậy, từ việc xem xét những vấn đề chung nhất về CNPT và đi sâu vào phân tích thực trạng của ngành CNPT Việt Nam, có thể nhận thấy rằng việc xâydựng và phát triển các ngành CNPT là hết sức cấp thiết để nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nội địa, đồng thời cũng nhằm mục tiêu xây dựng Việt Nam thành nước công nghiệp vào năm 2020. Hơn thế nữa, ngành CNPT phát triển sẽ giúp Việt Nam hội nhập nhanh chóng để tận hưởng những lợi thế do hội nhập đem lại.

            Việc xây dựng và phát triển CNPT không chỉ đơn thuần là nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ ban ngành mà chính các doanh nghiệp trong lĩnh vực này cũng phải chung tay gánh vác. Trước hết, các doanh nghiệp cần có một nhận thức đúng đắn về CNPT, để từ đó có những đường hướng phát triển cho từng ngành CNPT. Bản Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020 ra đời là một dấu mốc quan trọng, là cơ sở để các doanh nghiệp thực hiện mục tiêu của mình.

            Phát triển CNPT là một công việc hết sức khó khăn, tốn nhiều thời gian, nhân lực và vật lực. Nhưng một khi Việt Nam xây dựng cho mình nền CNPT vững chắc, chúng ta sẽ tự tin hơn để hội nhập với khu vực và quốc tế; hơn thế nữa, việc đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 sẽ không là quá xa vời.       

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bộ Giáo Dục và Đào Tạo (2006), Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin, NXB Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội.

2. Bộ Công nghiệp (2007), Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ đến năm 2010, tầm nhìn 2020.

3. Bộ Công Thương (2007), Quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển ngành công nghiệp xe máy Việt Nam giai đoạn 2006-2015, có xét đến 2020.

4.Bộ Công nghiệp (2007), Quyết định số 36/2007/QĐ - BCN phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển ngành da - giầy đến năm 2010. 

5. Quyết định số 177/2004/QĐ - TTG về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ô tô Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020.

6.Quyết định số 55/2001/QĐ - TTG phê duyệt chiến lược phát triển và một số cơ chế, chính sách hỗ trợ thực hiện chiến lược phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010.

7. Ngô Đức Anh - Diễn đàn phát triển Việt Nam (2006), Một số vấn đề về phát triển ngành CNPT ở Việt Nam: Từ những bài học kinh nghiệm của Thái Lan và Malaysia tới thực tế phát triển CNPT ở Việt Nam (Báo cáo).

8. Ngô Đức Anh - Diễn đàn phát triển Việt Nam (2006), Công nghiệp phụ trợ  Việt Nam dưới con mắt của các nhà doanh nghiệp Nhật Bản (Báo cáo)

9. Nguyễn Thị Xuân Thúy - Diễn đàn phát triển Việt Nam (2006), Công nghiệp hỗ trợ: Khái niệm và sự phát triển.

10. Junichi Mori ( 2006), Báo cáo về xây dựng cơ sở dữ liệu công nghiệp hỗ trợ hữu ích.

11. Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản (2003)

12. Kyoshiro Ichikawa - Tư vấn đầu tư cao cấp, Cục Xúc tiến Ngoại thương Nhật Bản tại Hà Nội (2004), Báo cáo điều tra xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp phụ trợ tại Việt Nam.

13. Kenichi Ohno, Diễn đàn phát triển Việt Nam, Viện Nghiên cứu chính sách quốc gia Nhật Bản, Đại học Kinh tế quốc dân (2004), Ngành công nghiệp ô tô Việt Nam: Những việc cần làm để triển khai thực hiện quy hoạch ngành. 

14. Ngô Đức Anh – Vietnam Development Forum (2006), Report on Key issues for Vietnam’s supporting industries development.

15. Junichi Mori (2005), Development of  Supporting Industries for Vietnam’s Industrialization, Tufts University, Japan.  

16. Vietnam Development Forum & Kenichi Ohno (2007), Building Supporting Industries in Vietnam.

Tài liệu trên internet

17. Nhập siêu vì thiếu ngành công nghiệp phụ trợ, 05/09/2007, http://thongtindubao.gov.vn/Default.aspx?mod=News&cat=12&nid=8541

18.   Công nghiệp phụ trợ cho ô tô: Cung không đáp ứng đủ cầu, 05/09/2007

http://www.ncseif.gov.vn/Default.aspx?mod=News&cat=16&nid=2722

19.   Khi nào Việt Nam có ngành công nghiệp hỗ trợ?, 05/09/2007

http://vietnamnet.vn/kinhte/2004/12/358264/

20.   Nhờ đầu tư phát triển công nghiệp phụ trợ: Vinashin sẵn sàng hội nhập, 05/09/2007

http://www.doanhnghiep24g.com.vn/cms/detail.php?id=4787

21.   Ngành ô tô Việt Nam: Công nghiệp phụ trợ hoặc không là gì cả

http://www.carviet.com/?mn1=2&mn2=1&id=2167

22.   Đẩy mạnh công nghiệp phụ trợ, 05/09/2007

http://www.dddn.com.vn/Desktop.aspx/Tin-DN/Thoi-Su/Day_manh_cong_nghiep_phu_tro/

23.   Phát triển công nghiệp phụ trợ: Doanh nghiệp trong nước còn phải học hỏi nhiều,05/09/2007

http://thongtindubao.gov.vn/Default.aspx?mod=News&cat=15&nid=6938

24.  “Đón đầu” bằng công nghiệp phụ trợ, 05/09/2007

http//www.moi.gov.vn/BForum/Detail.asp?Cat=13&id=1392 - 37k -

25.  Công nghiệp hỗ trợ: cơ hội lớn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, 01/10/2007

http://vietnamnet.vn/kinhte/2004/12/358448/

26.   Khi nào Việt Nam có ngành công nghiệp hỗ trợ, 01/10/2007

http://vietnamnet.vn/kinhte/2004/12/358264/

27.   Công nghiệp phụ trợ ô tô còn rất sơ khai, 01/10/2007

http://vietnamnet.vn/kinhte/2006/08/604437/

28.   Tỷ lệ nội địa hóa ngành xe máy, 01/10/2007

www.vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=23&id=be6ab4e413ef86 - 68k -

29.  Hậu WTO: Công cuộc xe máy sẽ có một cuộc sàng lọc?, 01/10/2007

www.dddn.com.vn/Desktop.aspx/TinTuc/Oto-XeMay/Cong_nghiep_xe_may_se_co_mot_cuoc_sang_loc/ - 71k -

30. Ngành điện tử trong nước vẫn sẽ đứng vững, 04/10/2007

http://nciec.gov.vn/index.nciec?1094

31. Vào WTO: Thách thức cho ngành điện tử trong nước, 04/10/2007

http://www.tbtvn.org/default.asp?action=article&ID=794

32. Thách thức lớn đối với ngành dệt may Việt Nam. 04/10/2007

http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20010101231412

33. Ngành dệt may Việt Nam trước ngưỡng cửa hội nhập, 04/10/2007

http://irv.moi.gov.vn/sodauthang/sukienvande/2006/9/16181.ttvn

34. Ngành da giầy vượt khó khăn, tăng kim ngạch xuất khẩu, 04/10/2007

http://www.mof.gov.vn/Default.aspx?tabid=612&ItemID=22466

35. Ngành da giầy xây dựng các khu, cụm công nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu, 04/10/2007

http://irv.moi.gov.vn/sodauthang/tintucthoisu/2007/9/17107.ttvn

(Bài viết được Công ty luật Minh Khuê biên tập dựa trên nhiều nguồn thông tin khác nhau và chỉ có ý nghĩa tham khảo trên thực tế)

BAN BIÊN TẬP - CÔNG TY LUẬT MINH KHUÊ