Tuy nhiên, tất cả mọi ngữ nghĩa của tinh tấn ở trên, mọi năng lực dõng mãnh ấy nếu hướng chánh thì thành chánh tinh tấn (sammā-viriya), nếu hướng tà thì thành tà tinh tấn (micchā-viriya). Còn tinh tấn ba-la-mật (viriya pāramī) thì đã định hướng giác ngộ, giải thoát rồi.
1. Tinh tấn ba-la-mật (viriya pāramī) là gì ?
Người yếu đuối, bạc nhược, dể duôi, buông xuôi... sẽ sống vất vơ bên lề cuộc đời, tự đào thải chính mình và tự chuốc lấy đói nghèo, sâu bi ưu não. Người học Phật, tu Phật phải xem đấy là bài học cho chính mình, dù tại gia hay xuất gia. Đừng dể duôi, đừng buông lung, phóng dật – nó như là một mệnh lệnh cách thúc hối chúng ta vùng dậy, vươn lên. Từ Pāḷi “appamādena” hay “appamāda” trong câu Kinh Lời Vàng số 30 sau đây vừa có nghĩa “không buông lung, phóng dật”, vừa có nghĩa “tinh cần, tính tấn”:
- Chỉ nhờ đức tánh tinh cần.
Đế Thích cai quản bốn tầng thiên vương.
Buông lung thiên hạ khinh thường.
Tinh cần mãi được tán dương đời đời!
(Appamādena maghavā devānaṃ seṭṭhataṃ gato, appamādaṃ pasaṃsanti pamādo garahito sadā).
Cuộc đời bồ-tát là một cuộc đời hành động, vừa hoàn thiện bản thân vừa phục vụ chúng sanh; có nghĩa là ngài không ngừng nỗ lực tinh cần trong mọi công việc, mọi lúc, mọi khi, bất cứ hoàn cảnh nào để mang đến hạnh phúc cho mình và người. Biếng nhác, ích kỷ, vị kỷ không có trong tâm của chư bồ-tát. Và, bồ-tát cũng không cho phép mình bỏ cuộc dù ngàn cân treo sợi tóc, dù thập tử nhất sinh – như tích truyện Mahājanaka Jātaka khi thuyền bị bão tố đánh đắm giữa biển khơi. Trong lúc mọi người vẫy vùng trong tuyệt vọng thì bồ-tát đã không ăn, không uống, không ngủ nghỉ, suốt 7 ngày 7 đêm bơi vào bờ để tìm đường sống. Và bồ-tát đã sống, từ đó lộ trình hanh thông, thành công trong vương vị của một triều đại phú cường. Chướng ngại, nghịch cảnh không làm bồ-tát nản lòng. Càng khó khăn, thất bại bồ-tát sẽ rút ra bài học để vươn đến thành công. Kiếp cuối cùng, trong rừng khổ hạnh, Ma vương khuyên bồ-tát nên từ bỏ “cuộc phấn đấu kiên cường nhưng vô vọng”, ngài đã trả lời: "Ðối với ta, chết trong cuộc chiến đấu chống dục vọng thấp hèn còn mười phần danh dự hơn là sống trong thất bại".
Cũng trong rất nhiều kiếp, bồ-tát đã từng chăm chuyên, nỗ lực trong công việc để có gia sản; có gia sản, tài sản, của cải để giúp mọi người, giúp cho cả làng đều được no đủ - như tích truyện chàng thanh niên Magha, tiền thân của trời Đế Thích, cũng là tiền thân của Đức Phật Sakyā Gotama. Có những kiếp, tài sản của cải không đủ giúp cho mọi người, bồ-tát của chúng ta lên rừng tìm trầm, xuống biển mò ngọc trai, biết bao là gian khổ cũng vì tâm thí, tâm từ và tâm bi của ngài.
Trong ba loại bồ-tát trí tuệ, đức tin, tinh tấn mà chúng ta đã biết thì bồ-tát tinh tấn, vừa như Tứ Chánh Cần cho chính mình vừa tinh tấn phục vụ chúng sanh. Vì phục vụ chúng sanh nên lộ trình Chánh Đẳng Giác của bồ-tát tinh tấn có thời gian lâu xa gấp đôi bồ-tát đức tin, càng lâu xa gấp bốn so với bồ-tát trí tuệ - như đức Phật Sakyā Gotama. Bồ-tát Di Lặc (Mettreyya) hiện ở cung trời Đẩu Suất là bồ- tát tinh tấn, còn lâu xa nữa mới thành tưu Chánh Đăng Giác.
Vậy, tinh tấn quan trọng xiết bao trong tất cả moi trường hợp, tại gia cũng như xuất gia. Không ngạc nhiên gì trong 37 trợ đạo phẩm, tinh tấn lại đảm nhiệm đến 9 chức năng: 4 tấn trong Tứ Chánh Cần. 01 tấn trong Tứ Như Ý Túc, 02 tấn trong căn, lực; 01 tấn trong Giác Chi và 01 tấn trong Bát Chi Đạo. Cuối cùng, nếu tinh tấn “làm bạn” với tuệ sẽ trở thành một năng lực bất khả bại đưa đến tất thảy mọi sự thành công trên bước đường tu tập (Paññānuyātaṃ viriyaṃ vadanti sabbattha siddhiggahanaggahatthaṃ).
Đức Phật khen ngợi tinh cần, không buông lung, phóng dật trong câu Kinh Lời Vàng số 26, 27:
“- Si mê, cuồng sĩ buông lung
Riêng người thiện trí canh chừng niệm tâm
Tâm tâm, niệm niệm tinh cần
Giữ gìn kho báu, thế nhân dễ gì!
(Pamādamanuyuñjanti bālā dummedhino janā, appamādañ ca medhāvī dhanaṃ seṭṭhaṃva rakkhati).
“- Người không phóng dật, dể duôi Người không mê đắm niềm vui dục trần Tỉnh thức, thiền quán tinh cần
Sẽ hái, sẽ gặt phước phần sum suê!
(Mā pamādamanuyuñjetha mā kāmaratisanthavaṃ, appamatto hi jhāyanto pappoti vipulaṃ sukhaṃ”.
Dĩ nhiên, tinh tấn ba-la-mật (viriya pāramī) có ba bậc thượng, trung, hạ bồ-tát đều tựu thành viên mãn.
2. Nhẫn nại ba-la-mật (khanti pāramī)
Khanti có nghĩa là nhẫn nại, chịu đựng, kiên nhẫn, nhịn nhục, nhẫn nhục. Với nghĩa nào cũng được, cũng đúng. Nhưng có lẽ, cuộc đời hành bồ-tát hạnh của ngài dường như gồm đủ tất cả ngữ nghĩa ấy.
Chúng ta có đọc một số câu trong Kinh Lời Vàng:
- Nhẫn nại vì sự ác tri và ngu si của lòng người:
320 “- Như thớt voi giữa trận tiền, Hứng bao mũi đạn, lằn tên sá gì!
Như Lai chịu đựng ác tri,
Nhẫn nại phỉ báng, ngu si lòng người!
(Ahaṃ nāgova saṅgāme cāpato patitaṃ saraṃ, ativākyaṃ titikkhissaṃ dussīlo hi bahujjano).
- Nhẫn nại chịu đựng sự phỉ báng tiếng lời dao đâm:
321. “Ngựa voi đã luyện, đã thành,
Con nào thuần nhất để dành vương quân; Cao thượng nhất giữa nhân quần,
Chịu đựng phỉ báng, dao đâm tiếng lời!”
(Dantaṃ nayanti samitiṃ dantaṃ rājābhirūhati, danto seṭṭho manussesu yo’tivākyaṃ titikkhanti).
Đặc biệt, bồ-tát cũng nhẫn, cũng nhịn chịu, chịu đựng – không những khởi lên lòng từ quảng đại, bao dung đối với người làm khổ mình, phỉ báng mình, tàn hại thân thể mình – mà ngài còn cầu nguyện cho người ấy được hạnh phúc an vui nữa.
Túc sanh truyện Khantivādi Jātaka có kể rằng:
“- Thuở ấy, bồ-tát là đạo sĩ Khantivādi tu tập ở Hymalaya, sau khi nhập định nhiều ngày, xả định, ngài vân hành về kinh đô để khất thực. Khi thấy bình bát vừa đủ dùng, đạo sĩ Khantivādi tìm đến khu vườn Thượng Uyển là nơi thanh vắng để độ thực và nghỉ ngơi.
Hôm ấy, tình cờ đức vua và đám cung nga thể nữ cùng đến vườn Thượng Uyển để rượu chè ca hát nhảy múa vui chơi. Khi ông vua uống rượu say nằm ngủ li bì thì đám nữ nhân líu lo tản bộ đó đây. Đến gốc cây đại thụ, các mỹ nhân trông thấy một đạo sĩ hình dong tuấn mỹ đang tọa thiền trang nghiêm như một vị thần. Bất giác, họ tiến tới, lặng lẽ ngồi xuống chiêm ngưỡng vị thần ấy. Đạo sĩ Khantivādi biết nên sau đó từ tốn cất vài lời giáo huấn.
Đức vua tỉnh rượu, nhìn quanh chỉ thấy vài quân hầu còn đám mỹ nữ đi đâu vắng hết. Bực mình, ông vua xách gươm đi tìm. Đến gốc cây, thấy đám mỹ nhân của mình đang say sưa lắng nghe bài thuyết giảng của một tên đạo sĩ. Vừa ganh vừa tức, ông vua rút gươm chỉ vào mặt đạo sĩ, hỏi:
- Sao người dám rủ rê đám nữ nhân của ta? Ngươi tu cái pháp môn gì vậy?
- Tâu đại vương, bần đạo tu pháp nhẫn nhục.
- Nhẫn nhục à? Vậy thì dù ta làm gì ngươi, ngươi vẫn nhẫn nhục được chứ?
- Vâng, tâu bệ hạ!
Và quả là tàn ác, hung bạo, ông vua sai quân hầu chặt chân đạo sĩ. Lưỡi gươm báu sắc bén đã cắt lìa bàn chân, máu tuôn xối xả nhưng đạo sĩ sắc mặt vẫn điềm nhiên. Ông vua cười gằn:
- Được chưa? Ngươi còn dám nhẫn nhục nữa chăng?
- Tâu đại vương! Nhẫn nhục không nằm nơi chân, mà nó nằm trong tâm của bần đạo”.
... Câu chuyện tiếp diễn. Ông vua tàn bạo sai chặt thêm chân, chặt luôn hai tay của đạo sĩ, cũng với câu hỏi: “Ngươi dám nhẫn nhục nữa chăng?” Và đạo sĩ vẫn đáp như cũ: “Nhẫn nhục không nằm nơi tứ chi mà nằm trong tâm của bần đạo”. Bất giác, ông vua thấy sợ hãi, bèn hỏi: “Ngươi có oán giận ta chăng?” Đạo sĩ dùng định lực trấn giữ cơn đau đến ngất lịm, dù nằm ngã dài trên vũng máu, ngài an nhiên trả lời: “Không, tuyệt đối không có một oán giận nào có khả năng len vào tâm của bần đạo được, mà bần đạo còn cầu nguyện cho đức vua được hạnh phúc và an vui nữa”.
Cuối cùng, đến đây thì chính đức vua đã quá sợ hãi đến mức không còn chịu đựng được, trong lòng như bị lửa đốt. Và chính lúc ấy, trời Đế Thích thấy ngai vàng của mình nóng lên như lửa địa ngục, cũng không chịu đựng được, bèn hiện xuống tận nơi, dùng thần lực siêu nhiên nối lại chân tay cho đạo sĩ.
Như vậy, bồ-tát dù bị hành hạ thế nào vẫn không bao giờ thốt ra một lời nói xấu hay oán trách người đã gây hại cho mình. Khoan hồng, độ lượng, bao dung, bi mẫn, từ tâm... luôn là tố chất mát mẻ và an lành trong tâm của chư bồ-tát.
Câu Kinh Lời Vàng số 399:
“- Người không tức giận bao giờ, Trước lời phỉ báng: Lặng tờ, nín thinh! Dẫu cho roi trượng phạt hình,
Lấy đức nhẫn nại làm binh hộ phòng;
Tâm từ rải khắp hư không,
Những kẻ như vậy, xứng dòng bla-môn!”
(Akkosaṃ vadhabandhañca aduṭṭho yo titikkhati, khantībalaṃ balānīkaṃ tamahaṃ brūmi brāhmaṇaṃ).
Nhẫn nại ba-la-mật (khanti-pāramī) của bồ-tát để đến bờ kia có ba bậc thượng, trung và hạ đều viên mãn như những ba-la-mật khác.
3. Tham khảo video giảng pháp về Ba-la-mật
BA LA MẬT nghĩa là gì ? - Thầy Thích Pháp Hòa
Nguồn: Minh Đức Triều Tâm Ảnh (Tỳ-khưu Giới Đức - Sīlaguṇa Bhikkhu) – Phật học tinh yếu
