1. Toàn cầu hóa là gì?

Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa vào cuối những năm 80 và đầu thập kỷ 90 đã làm biến đổi trật tự hệ thống thế giới. Cũng trong thời điểm chuyển đổi ấy, khái niệm toàn cầu hóa bắt đầu hình thành và được sử dụng một cách phổ biến. Những quan hệ, liên kết vượt lên trên quốc gia, đôi khi người ta cách điệu thành siêu quốc gia thì đó được gọi là quốc tế hóa. Đa số bắt nguồn từ cơ sở kinh tế nhưng cũng có những quan hệ được dựng lên bởi những tham vọng, lý tưởng chính trị không có nguồn gốc từ những cơ sở kinh tế - xã hội hiện thực. Những quốc gia dân tộc đã thực sự trưởng thành đến lúc tham dự một cách có ý thức vào một quá trình mới, hình thành nên hệ thống mới. Nó mở đường cho sự hình thành một hệ thống toàn thế giới. Về mặt khái niệm đó là lúc khái niệm quốc tế hóa được thay thế bởi khái niệm toàn cầu hóa 

Theo nghĩa rộng, toàn cầu hóa (Globalization) là một hiện tượng, một quá trình, một xu thế liên kết trong quan hệ quốc tế làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau về nhiều mặt của đời sống xã hội (từ kinh tế, chính trị, an ninh, văn hóa đến môi trường, vv...) giữa các quốc gia. Nói một cách khác thì toàn cầu hóa là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên thế giới, làm nổi bật hàng loạt biến đổi có quan hệ lẫn nhau mà từ đó chúng có thể phát sinh một loạt điều kiện mới 

Còn theo nghĩa hẹp, toàn cầu hóa là một khái niệm kinh tế chỉ quá trình hình thành thị trường toàn cầu làm tăng sự tương tác và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia. Biểu hiện của toàn cầu hóa có thể dưới dạng khu vực hóa - việc liên kết khu vực và các định chế, các tổ chức khu vực, hay cụ thể, toàn cầu hóa - việc liên kết khu vực và các định chế, các tổ chức khu vực, hay cụ thể, toàn cầu hóa là "quá trình hình thành và phát triển các thị trường toàn cầu và khu vực, làm tăng sự tương tác và tùy thuộc lẫn nhau, trước hết về kinh tế, giữa các nước thôgn qua sự gia tăng các luồng giao lưu hàng hóa và nguồn lực (resources) qua biên giới giữa các quốc gia cùng với sự hình thành các định chế, tổ chức quốc tế nhằm quản lý các hoạt động và giao dịch kinh tế quốc tế 

Toàn cầu hóa được xem xét như một quá trình lịch sử tự nhiên, Roland Robertson là người đi đầu trong quan niệm này. Ông gọi đó là quá trình hội tụ thế giới trên phạm vi rộng, phân biệt với các quá trình trên phạm vi nhỏ hơn diễn ra trong quốc gia hay địa phương. Hàm ý của Robertson là lịch sử thế giới đi theo một tiến trình hợp nhất, thông qua việc hình thành nên những thực thể xã hội lớn dần - mà lớn nhất là thực thể toàn cầu - và ngay trong quá trình hình thành các thực thể trung gian đã hàm chứa quá trình toàn cầu hóa, dưới dạng manh nha. Ông cho rằng tiến trình toàn cầu hóa bắt đầu ở châu Âu đầu thế kỷ XV 

Tóm lại toàn cầu hóa là một quá trình khách quan của xã hội loài người, cả thế giới chỉ có một quá trình toàn cầu hóa duy nhất đang trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau, mỗi nước - đặc biệt là các nước đang phát triển - không thể có sự lựa chọn: tẩy chay toàn cầu hóa hay chỉ tham gia toàn cầu hóa kia, hoặc chờ đợi làn sóng toàn cầu hóa mới nào đó có lợi cho mình.

>> Xem chi tiết: Toàn cầu hóa là gì? Nội dung, động lực thúc đẩy toàn cầu hóa?

 

2. Toàn cầu hóa vừa là thời cơ, vừa là thách thức cho các nước đang phát triển

Toàn cầu hóa làm cho nền kinh tế các quốc gia hòa nhập vào và được cấu trúc lại trên quy mô quốc tế thông qua một loạt quy trình, giao lưu, trao đổi. Như vậy toàn cầu hóa không chỉ là sự phụ thuộc lẫn nhau, dù là phụ thuộc toàn diện giữa các nền kinh tế mà là sự hòa nhập các nền kinh tế này để xu thế hình thành một nền kinh tế toàn cầu thống 

 

2.1. Toàn cầu hóa là thời cơ cho các nước đang phát triển

Thứ nhất toàn cầu hóa giúp phát huy được lợi thế so sánh để phát triển. Lợi thế so sánh luôn biến đổi phụ thuộc vào trình độ phát triển của mỗi nước. Nước nào có nền kinh tế càng kém phát triển thì lợi thế so sánh càng suy giảm. Đa số các nước đang phát triển chỉ có lợi thế so sánh bậc thấp như lao động rẻ, tài nguyên, thị trường.... Đó là một thách thức lớn đối với các nước đang phát riển. Nhưng toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng mang lại cho các nước đang phát triển những cơ hội lớn mới, nếu biết vận dụng sáng tạo để thực hiện được mô hình phát triển rút ngắn. Chẳng hạn bằng lợi thế vốn có về tài nguyên, lao động, thị trường, các ngành công nghiệp nhẹ, du lịch, dịch vụ... các nước đang phát triển có thể tham gia vào tầng thấp và trung bình của sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế toàn cầu với cơ cấu kinh tế có các ngành sử dụng nhiều lao động, nhiều nguyên liệu, cần ít vốn đầu tư, công nghệ trung bình tiên tiến tạo ra những hàng hóa - dịch vụ không thể thiếu trong cơ cấu hàng hóa - dịch vụ trên thị trường thế giới. Để làm được điều đó các nước đang phát triển có cơ hội tiếp nhận được các dòng vốn quốc tế, các dòng ký thuật - công nghệ mới và kỹ năng quản lý hiện đại. Nhưng cơ hội đặt ra như nhau đối với các nước đang phát triển, song nước nào biết tận dụng nắm bắt được chúng thì phát triển, Điều đó phụ thuộc vào nhân tố chủ quan vào nội lực của mỗi nước. Việc phát huy tối đa lợi thế so sánh trong quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa của các nước đang phát triển là nhằm tận dụng tự do hóa thương mại, thu hút đầu tư để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội. 

Thứ hai là tăng nguồn vốn đầu tư cho các nước đang phát triển. Kinh tế toàn cầu hóa, khu vực háo biểu hiện nổi bật ở dòng luân chuyển vốn toàn cầu. Điều đó tạo cơ hội cho các nước đang phát triển có thể thu hút được nguồn vốn bên ngoài cho phát triển trong ước, nếu nước đó có cơ chế thu hút thích hợp, Thiết lập một cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư nội địa hợp lý là cơ sở để định hướng thu hút đầu tư nước ngoài, Các nhà đầu tư nước ngoài tìm kiếm các ưu đãi từ những điều kiện và môi trường đầu tư bên trong để thúc đẩy chương trình đầu tư của họ. Các nước đang phát triển đã thu hút và sử dụng một lượng khá lớn vốn nước ngoài cùng với nguồn vốn đó, vốn trong nước cũng được huy động. Toàn cầu hóa, khu vực hóa đã tạo ra sự biến đổi và gia tăng cả về lượng và chất dòng luân chuyển vốn vào các nước đang phát triển, nhất là trong khi các nước đang phát triển gặp rất nhiều khó khăn về vốn đầu tư cho phát triển 

Thứ ba là nâng cao trình độ kỹ thuật, công nghệ. Trước cu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa, các nước đang phát triển tùy theo vị thế, điều kiện lịch sử cụ thể và trình độ phát triển của mình đều có cách thức riêng phát triển theo con đường rút ngắn, Hai trong số nhiều con đường phát triển là thứ nhất, du nhập kỹ thuật - công nghệ trung gian từ các nước phát triển để xây dựng những ngành công nghiệp của mình như là một bộ phận hợp thành trong tầng công nghiệp hiện đại. Tùy thuộc vào khả năng vốn, trí tuệ... mà các nước đang phát triển lựa chọn một hoặc cùng lúc cả hai con đường phát triển nói trên. Toàn cầu hóa cho phép các nước đang phát triển có điều kiện tiếp nhận các dòng kỹ thuật - công nghệ tiên tiến, hiện đại từ các nước phát triển để nâng cao trình độ kỹ thuật - công nghệ của mình nhưng điều đó còn phụ thuộc vào khả năng của từng nước biết tìm ra chiến lược công nghiệp hóa rút ngắn thích hợp. Trong quá trình toàn cầu hóa, các nước đang phát triển sẽ có điều kiện tiếp cận và thu hút những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, hiện đại của thế giới, qua đó mà nâng dần trình độ công nghệ, sản xuất của các nước đang phát triển. Do vậy mà ngày càng nâng cao được trình độ quản lý và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế các nước đang phát triển. Toàn cầu hóa được đánh giá như một công cụ đặc biệt để nâng cao trình độ kỹ thuật 0 đông nghệ ở các nước đang phát triển, Bởi lẽ trong quá trình tham gia vào liên dianh, liên kết sản xuất quốc tế, hợp đồng hợp tác kinh doanh, các dự án FDi... các nước đang phát triển có điều kiện tiếp cận những công nghệ, kiến thức, và kỹ năng hết sức phong phú, đa dạng của các nước đang phát triển 

Thứ tư là toàn cầu hóa giúp thay đổi được cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Toàn cầu hóa đòi hỏi nền kinh tế của các quốc gia, trong đó có các nước đang phát triển phải tổ chức lại với cơ cấu hợp lý. Kinh tế thế giới đang chuyển mạnh từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Nhưng ở các nước phát triển những ngành có hàm lượng chất xám, hàm lượng công nghệ cao và hàm lượng vốn lớn đang chiếm ưu thế, còn ở những nước đang phát triển chỉ có thể đảm nhận những ngành có hàm lượng cao về lao động, nguyên liệu và hàm lượng thấp về công nghệ, vốn. Tuy nhiên nếu nước đang phát triển nào chủ động, biết tranh thủ cơ hội và tìm ra được con đường phát triển rút ngắn thích hợp thì có thể vấn sớm có được nền kinh tế tri thức. Điều đó đòi hỏi một sự nỗ lực rất lớn. Quá trình toàn cầu hóa, sẽ dẫn đến tốc độ biến đổi cao và nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu, điều đó buộc nền kinh tế mỗi nước, muốn phát triển, không còn con đường nào khác là phải hòa nhập vào quỹ đạo vận động chung của nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế nào bắt kịp vận động chung thì phát triển, không thì dễ bị tổn thương và bất định. Mỗi nước đang phát triển cần phải tìm cho mình một phương thức để chuyển dịch cơ cấu kinh tế thích hợp để có thể phát triển rút ngắn. Hầu hết các nền kinh tế của các nước đang phát triển đều tiến tới mô hình kinh tế thị trường mở, hội nhập quốc tế dựa vào xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp chế biến. Đây là một mô hình kinh tế được chuyển dịch theo hướng tích cực. Nhưng nền kinh tế thị trường mở, hội nhập quốc tế đòi hỏi chính phủ các nước phải có quan niệm đúng và xử lý khéo quan hệ giữa tự do hóa và bảo hộ ở mức cần thiết, đồng thời phải nắm bắt được các thông lệ và thể chế kinh tế bên trong, giải quyết đúng đắn việc kết hợp các nguồn lực bên ngoài thành nội lực bên trong để phát triển. Nền kinh tế thị trường mở, hội nhập quốc tế muốn phát triển ổn định, đòi hỏi cơ cấu kinh tế bên trong phải đủ mạnh, cơ cấu xuất khẩu đa dạng, thể chế kinh tế linh hoạt và có năng lực thích ứng để đương đầu với những thay đổi của các điều kiện phát triển toàn cầu. Điều đó buộc các nước đang phát triển phải tìm ra con đường công nghiệp hóa rút ngắn thích hợp. Nhiều nước chọn mô hình công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, dựa vào tăng trưởng các sản phẩm công nghệ chế tạo. Phát triển công nghiệp chế tạo sẽ giúp nền kinh tế các nước đang phát triển nhanh chóng chuyển được nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và từng  bước chuyển tới nền kinh tế tri thức. Sự dịch chuyển này đến đâu phụ thuộc vào trình độ thích ứng về tiếp nhận công nghệ, khả năng về vốn, khai thác thị trường. Dù bước chuyển dịch ở trihf độ nào, nền kinh tế ở các nước đang phát triển đều chú trọng tăng tủ trọng các ngành công nghiệp chế biến dịch vụ. Đồng thời tập trung nỗ lực phát triển các ngành có khả năng cạnh tranh. Toàn cầu hóa mở ra nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia cơ cấu lại nền kinh tế của mình. Nền kinh tế toàn cầu đang biến đổi nhanh chóng, thì nền kinh tế của các nước đang phát triển nếu muốn phát triển thì không còn con đường nào khác là phải nhanh chóng hóa nhập vào quỹ đạo vận động chung của nền kinh tế thế giới. Các nước phải bắt kịp các động thái của dòng vận động tiền vốn, kỹ thuật - công nghệ, hàng hóa - dịch vụ khổng lồ của thế giới. Tính bất định và mức độ dễ bị tổn thương với tính cách là hệ quả của những động thái này đang ngày càng gia tăng, nhất là đối cới nền kinh tế các nước đang phát triển 

Thứ năm là toàn cầu hóa giúp đẩy mạnh mở rộng kinh tế đối ngoại. Toàn cầu hóa làm cho quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế trở thành xu hướng tất yếu diễn ra hết sức mạnh mẽ do sự phát triển cao của lực lượng sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khao học - công nghệ. Toàn cầu hóa đang diễn ra với tốc độ cao, càng đòi hỏi mạnh mẽ việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại của mỗi nền kinh tế, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Và chỉ bằng cách đó mới có thể khai thác có hiệu quả nguồn lực quốc tế. Đồng thời toàn cầu hóa, quá trình quốc tế hóa đời sống kinh tế ngày càng đẩy mạnh thì càng tạo ra những cơ hội và thách thức mới mà chỉ có sự phối hợp quốc tế, mở rộng kinh tế đối ngoại thì mới có thể tranh thủ được những cơ hội, vượt qua được những thách thức. Thực tế lịch sử cũng đã khẳng định rnagwf ngày nay không một quốc gia nào có thể phát triển được nếu không thiết lập quan hệ kinh tế với các nước khác. Và do vậy không một quốc gia nào kể cả các nước đang phát triển, lại không thực hiện việc mở rộng quan hệ kinh tế đối nngoại. Trong hoàn cảnh quốc tế hóa đời sống kinh tế ngày càng sâu rộng, quá trình toàn cầu hóa được thúc đẩy mạnh mẽ, các quan hệ kinh tế đối ngoại trở thành một nhân tô không thể thiếu để thực hiện tái sản xuất mở rộng ở mỗi nước, nhất là những nước đang phát triển 

Thứ sáu là cơ sở hạ tầng được tăng cường. Quá trình toàn cầu hóa đã tạo ra cơ hội để nhiều nước đang phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng về giao thông vận tải, về bưu chính viễn thông, về điện nước... ở các nước đang phát triển, mức thu nhập tính theo đầu người rất thấp, do đó tích lũy cũng vô cùng thấp vì phần lớn thu nhập dùng vào sinh hoạt. Trong khi đó các nước đang phát triển lại rất cần những lượng vốn lớn để xây dựng kết cấu hạ tầng và xây dựng những công trình thiết yếu nhằm phát triển kinh tế. Bởi vậy xuất hiện khoảng cách lớn giữa nhu cầu đầu tư và tích lủy vốn. Cho nên các nước đang phát triển muốn tăng cường xây dựng những cơ sở hạ tầng thì phải biết tạo môi trường thuận lợi để thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chỉ có thông qua các quan hệ kinh tế đối ngoại mới có thể cải tạo, đổi mới và nâng cao trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất hiện có, cải tiến, hiện đại hóa công nghệ truyền thống, xây dựng những hướng công nghệ hiện đại. Nhờ đó mà xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, cơ sở hạ tầng cho nền kinh tế 

Thứ bảy là thông qua toàn cầu hóa để học tập kinh nghiệm quản lý tiên tiến. Các nước có nền kinh tế phát triển thường có phương thức, cách thức quản lý nền kinh tế tiên tiến với những công cụ quản lý hiện đại. Thông qua các quan hệ hợp tác kinh tế quốc tế các nước đang phát triển học tập những kinh nghiệm quản lý tiên tiến, hiện đại của các nước phát triển. Học tập trực tiếp qua các dự án đầu tư, qua các xí nghiệp, công ty liên doanh....

 

2.2. Toàn cầu hóa là thách thức cho các nước đang phát triển 

Mặc dù mở ra nhiều cơ hội cho các nước đang phát triển nhưng toàn cầu hóa cục diện thế giới theo xu thế đa trung tâm cũng như sự can dự của nhiều nước lớn đặt ra những thách thức đối với các nước vừa và nhỏ trong việc giữ vững độc lập, tự chủ.

Thách thức đầu tiên chính là việc tăng trưởng kinh tế không bền vững do phụ thuộc vào xuất khẩu. Nền kinh tế các nước đang phát triển đang cơ cấu lại theo chiến lược kinh tế thị trường mở, hội nhập quốc tế. Nhưng trong quá trình đó, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nhiều nước đang phát triển phụ thuộc phần lớn vào xuất khẩu. Mà xuất khẩu lại phụ thuộc vào sự ổn định của thị trường thế giới, vào giá cả quốc tế, vào lợi ích của các nước nhập khẩu, vào độ mở cửa thị trường của các nước phát triển.... Do vậy mà chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn và khó mà lường trước.

Thứ hai là lợi thế của các nước đang phát triển bị yếu dần. nền kinh tế thế giới đang chuyển mạnh từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức. Do vậy mà những yếu tố được coi là lợi thế của các nước đang phát triển như tài nguyên, lực lượng lao động dồi dào, chi phí lao động thấp... sẽ yếu dần đi còn ưu thế về kỹ thuật - công nghệ cao và về sản phẩm sở hữu trí tuệ, về vố lớn lại đang là ưu thế mạnh của các nước phát triển. Ba dòng luân chuyển toàn cầu là kỹ thuật - công nghệ - thông tin và vốn đang trở thành động lực thúc đẩy toàn cầu hóa. Trong quá trình đó, lợi thế so sánh của các nước cũng biến đổi căn bản, trên phạm vi toàn cầu lợi thế đang nghiêng về các nước phát triển bì ở đó đang có ưu thế về trí tuệ, hàm lượng công nghệ cao và vốn lớn. Các nước đang phát triển đang bị giảm dần ưu thế do lợi thế về lao động rẻ, tài nguyên phong phú.... đang bị suy yếu. Và các nước càng kém phát triển thì càng phải chịu nhiều thua thiệt và rủi ro do sự suy giảm về lợi thế so sánh gây ra. Đó là thách thức cho các nước đi sau. Trong nền kinh tế hiện đại chỉ có công nghệ tri thức, kỹ năng tinh xảo được coi là các nguồn lực có lợi thế so sánh cao. Như vậy các nước đang phát triển các nhà xuất khẩu hàng hóa sơ chế và lao động không kỹ năng ngày càng bị rơi vào tình thế bất lợi. Hơn nữa toàn cầu hóa buộc các nước đang phát triển hoạt động theo nguyên tắc của thị trường toàn cầu, làm hạn chế tính hiệu quả của chính sách phát triển quốc gia của họ. Trong nền kinh tế toàn cầu hiện nay, tầm quan trọng của nguyên liệu thô và lao động kỹ năng càng thấp thì càng giảm dần, trong khi lao động kỹ năng và tri thức ngày càng trở nên quan trọng. Lợi thế rõ ràng đang nghiêng dần về các nước phát triển 

Thứ ba là sức cạnh tranh của nền kinh tế bị yếu kém. Toàn cầu hóa đã làm cho vấn đề cạnh tranh toàn cầu trở lên ngày càng quyết liệt. Xuất phát điểm và sức mahj của mỗi quốc gia khác nhau, nên cơ hội và rủ ro của các nước là không ngang nhau. nền kinh tế của các nước đang phát triển dễ bị thua thiệt nhiều hơn trong cuộc cạnh tranh không ngang sức này. Càng phải phá bỏ hàng rào bảo hộ thì thách thức đối với các nước đang phát triển càng lớn. Chính sự yếu kém về kỹ thuật, công nghệ, vốn, kỹ năng tổ chức nền kinh tế của các nước đang phát triển sẽ làm cho chênh lệch về trình độ phát triển giữa các nước đang phát triển với các nước phát triển sẽ ngày càng cách xa hơn. Từ đó cho thấy rằng việc áp dụng nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng cho các nước có trình độ kinh tế khác xa nhau thực chất là sự bất bình đẳng. Trên một sân chơi ngang bằng, cạnh tranh bình đẳng những nền kinh tế lớn mạnh, những công ty còn nhỏ yếu. Tính chất bất bình đẳng trong cạnh tranh quốc tế hiện nay đang đem lại những thua thiệt cho các nước đang phát triển

Và thứ tư là việc phải tìm cách giải quyết các vấn đề an ninh phi truyền thống (thiên tai, dịch bệnh, khủng bố, tội phạm xuyên quốc gia, biến đổi khí hậu, an ninh năng lượng, lương thực, an ninh nguồn nước...) cũng như khắc phục những hệ lụy do các chính sách theo chr nghĩa dân túy và xu hướng bảo hộ gây ra tiếp tục đặt ra những thách thức đối với các nước vừa và nhỏ không chỉ về nhân lực, vật lực, tài lực mà còn phải có cách hiểu mới, cách ứng xử mới về khái nệm chủ quyền quốc gia thời kỳ hội nhập quốc tế, trong đó các quốc gia ngày càng lệ thuộc nhau sâu sắc hơn. Những biến động đang diễn ra trên thế giới đã dẫn tới nhiều hệ lụy to lớn đói với các vấn đề hòa bình, ổn định và phát triển của nhân loại. Thực tế các vấn đề đó vẫn đã và đang tiềm ẩn những yếu tố có thể dẫn đến biến động phức tạp hơn và phạm vi rộng lớn hơn. Vì vậy ngăn chặn xung đột, dập tắt những mầm mống gây ra biến động là vấn đề bức thiết đối với các quốc gia và với toàn thế giới trong đó các đảng chính trị đóng vai trò quan trọng. 

 

3. Tác động của toàn cầu hóa tới nền kinh tế của Việt Nam 

Thứ nhất xét về thời cơ, toàn cầu hóa mang lại những cơ hội to lớn cho nền kinh tế thế giới và cho mỗi quốc gia tham gia vào quá trình hội nhập. Hội nhập quốc tế tạo điều kiện để phát huy lợi thế só sánh, thúc dẩy việc tham gia vào phân công lao động quốc tế, tranh thủ được lợi ích của việc phân bổ nguồn lực hợp lý trên bình diện quốc tế từ đó phát huy cao độ nhân tố sản xuất hữu dụng của từng quốc gia.Tự do hóa luân chuyển hàng hóa dịch vụ và vốn với việc hạ thấp hàng rào thuế quan, đơn giản hóa trong khâu thủ tục, cắt giảm kiểm soát hành chính sẽ góp phần giảm chi phí sản xuất, đầu tư, tăng lương, giảm thất nghiệp và tăng thêm lợi ích cho người tiêu dùng. Toàn cầu hóa tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới, tăng nhanh vòng quay vốn và tạo điều kiện để đa dạng hóa các loại hình đầu tư nhờ đó vừa nâng cao hiệu quả vừa hạn chế rủi ro đầu tư. Toàn cầu hóa thúc đẩy quá trình chuyển giao công nghệ, chuyển giao vốn kỹ năng quản lý, qua đó mở rộng địa bàn đầu tư cho các nước phát triển đồng thời giúp các nước tiếp nhận đầu tư có cơ hội phát triển

Bên cạnh đó cũng tồn tại những thách thức lớn như sự bất ổn định của thị trường tài chính quốc tế. Thực bậy có sự khác biệt cơ bản giữa tư bản công nghiệp và tài chính, hay nói cách khác là khác biết giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư tài chính. Các nhà đầu tư trực tiếp đã bỏ tiền đầu tư xây dựng nhà xưởng thì không dễ gì một sớm một chiều có thể rút lại vốn đầu tư. Trong khi đó các nhà đầu tư tài chính có lợi thế linh hoạt hơn nhờ tính chuyển nhượng cao của chứng khoán, Mặt khác nguồn tài chính được phân bố không đồng đều, tập trung vào một số trung tâm tài chính lớn là các nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới. Quá trình hội nhập và toàn cầu hóa càng làm cho dòng vốn chảy mạnh hơn và dễ dạng hơn và tất nhiên rủi ro cũng sẽ lớn hơn. 

Một thác thức tiếp theo chính là sự tụt hậu của quốc gia. Một số quốc gia tranh thủ được lợi ích của hội nhập mậu dịch quốc tế và thị trường tài chính quốc tế, phát huy được lợi thế so sánh, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng, mở rộng thương mại, thu hẹp dần khoảng cách với các nước phát triển, thì một số nước lại không có khả năng hội nhập vào quá trình phát triển thương mại, thu hút vốn đầu tư và kết quả tất yếu sẽ là bị đẩy lùi xa hơn nữa về phía sau, chihs sách tiền tệ, tài chính của các nước yếu sẽ bị phụ thuộc vào chính sách của các nước mạnh 

Mối đe dọa của quá trình toàn cầu hóa đó chính là xu hướng hình thành thế độc quyền, tập trung quyền lực vào một số tập đoàn đầu sỏ quốc tế. Xu hướng sáp nhập đang diễn ra mạnh mẽ chưa từng có trong lịch sử phát triển kinh tế thế giới cận đại. Vậy thế thì đâu là điểm dừng của xu thế sát nhập này? Bởi lẽ nếu xu thế sát nhập tiếp tục gia tăng chắc chắn sẽ tác động xấu đến thị trường cạnh tranh hoàn hảo - nhân tố đã góp phần thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế trong suốt hàng thế kỷ qua. Quá trình toàn cầu phát triển phải giảm dần thuế và bỏ hàng rào phi quan thuế, nghĩa là bỏ hàng rào mậu dịch, thì các hàng hóa nước ngoài sẽ ồ ạt đổ vào, bóp chết hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước. 

Bên cạnh đó quá trình toàn cầu hóa phát triển không chỉ có các lực lượng kinh tế tiến bộ tham gia vào quá trình này mà còn có cả các thế lực phản động, bọn maphia, các tổ chức khủng bố... Mạng lưới toàn cầu của maphia hiện đang lan khắp toàn cầu, các đường dây buôn lậu ma túy đã len lỏi đến các trường học. Các thế lực phản động cũng không bỏ lỡ thời cơ xâm nhập vào nước ta phá hoạt chính sách đúng đắn là phải ngăn chặn, chống lại mọi hoại. Nhưng không thể vì nó mà đóng cửa đất nước hay hạn chế sự hội nhập cả đất nước vào quá trình toàn cầu hóa. Toàn cầu hóa đã phân phối không cân bằng các cơ hội và lợi ích giữa các khu vực, giữa các quốc gia và trong từng nhóm dân cư. Do đó toàn cầu hóa làm gia tăng thêm tình trạng bất công, phân hóa giàu nghèo. 

>> Tham khảo: Xu thế toàn cầu hóa trên thế giới là hệ quả của?

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Tại sao toàn cầu hóa vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với các nước đang phát triển? do Công ty Luật Minh Khuê biên soạn và muốn gửi đến quý khách mang tính chất tham khảo.

Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!