Sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là công nghệ in 3D và các nền tảng giao dịch trực tuyến, đã tạo ra những phương thức phạm tội mới, tinh vi hơn, gây ra nhiều thách thức cho các cơ quan thực thi pháp luật. Trước bối cảnh đó, việc phân tích một cách có hệ thống và toàn diện các quy định pháp luật hiện hành, các vụ án thực tiễn, đồng thời so sánh với kinh nghiệm quốc tế, là hết sức cần thiết.  

Trong bài viết này, Luật Minh Khuê cung cấp một nghiên cứu chuyên sâu về "Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng tác dụng tương tự" được quy định tại Điều 306 Bộ luật Hình sự (BLHS) 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025. Nội dung trung phân tích các quy định pháp luật, tổng hợp và làm rõ các vấn đề pháp lý qua án lệ và các vụ án thực tiễn, đối chiếu với các tội danh liên quan và pháp luật quốc tế, từ đó đưa ra những đánh giá về tính hiệu quả và các khuyến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật.

Vậy, chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ là gì? Đặc điểm của vũ khí thô sơ là gì? 

Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ là hành vi làm ra, cất giữ, chuyển dịch, bán hay mua để bán lại, cướp, bắt cóc nhằm chiếm đoạt, cưỡng đoạt, cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp, tham ô, lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ.

Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ là hành vi nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện với cố ý, thực hiện hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ và đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi trên hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Đặc điểm của các loại súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ gồm :

- Súng săn là súng được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, được sử dụng để săn bắn, bao gồm: súng kíp, súng hơi và đạn sử dụng cho các loại súng này.

- Vũ khí thô sơ là vũ khí có cấu tạo, nguyên lý hoạt động đơn giản và được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, bao gồm: dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu.

- Vũ khí thể thao là vũ khí được chế tạo, sản xuất thủ công hoặc công nghiệp, được sử dụng để luyện tập, thi đấu thể thao, bao gồm:

  • Súng trường hơi, súng trường bắn đạn nổ, súng ngắn hơi, súng ngắn bắn đạn nổ, súng thể thao bắn đạn sơn, súng bắn đĩa bay và đạn sử dụng cho các loại súng này;
  • Vũ khí thô sơ là dùng để luyện tập, thi đấu thể thao; bao gồm các loại như giáo, mác, giao, kiếm, súng bắn đinh, côn và một số vũ khí có tính chất sát thương thấp khác.

- Công cụ hỗ trợ là phương tiện, động vật nghiệp vụ được sử dụng để thi hành công vụ, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nhằm hạn chế, ngăn chặn người có hành vi vi phạm pháp luật chống trả, trốn chạy; bảo vệ người thi hành công vụ, người thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hoặc báo hiệu khẩn cấp, bao gồm:

  • Súng bắn điện, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, từ trường, laze, lưới; súng phóng dây mồi; súng bắn đạn nhựa, nổ, cao su, hơi cay, pháo hiệu, hiệu lệnh, đánh dấu và đạn sử dụng cho các loại súng này;
  • Phương tiện xịt hơi cay, hơi ngạt, chất độc, chất gây mê, chất gây ngứa;
  • Lựu đạn khói, lựu đạn cay, quả nổ;
  • Dùi cui điện, dùi cui cao su, dùi cui kim loại; khóa số tám, bàn chông, dây đinh gai; áo giáp; găng tay điện, găng tay bắt dao; lá chắn, mũ chống đạn; thiết bị áp chế bằng âm thanh;
  • Công cụ hỗ trợ có tính năng, tác dụng tương tự là phương tiện được chế tạo, sản xuất không theo tiêu chuẩn kỹ thuật, thiết kế của nhà sản xuất hợp pháp, có tính năng, tác dụng tương tự như công cụ hỗ trợ.

 

1. Cấu thành tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ 

Điều 306 BLHS quy định về "Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ và các vũ khí khác có tính năng tác dụng tương tự". Tội danh này có cấu thành đặc thù, khác biệt lớn so với nhiều tội danh khác trong BLHS, thể hiện chính sách hình sự có điều kiện đối với các loại vũ khí này.

1.1. Mặt khách quan của tội phạm

Điều 306 liệt kê một loạt các hành vi phạm tội, bao gồm: chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt các loại vũ khí và công cụ hỗ trợ được quy định. Tuy nhiên, điều kiện để truy cứu trách nhiệm hình sự không chỉ dựa vào việc thực hiện các hành vi này. Một điểm mấu chốt, mang tính quyết định, là người phạm tội phải "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm". Điều này có nghĩa là, hành vi vi phạm lần đầu thường chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính, và chỉ khi đối tượng tái phạm sau khi đã bị xử phạt hoặc bị kết án, hành vi mới bị coi là cấu thành tội phạm hình sự. Cơ chế này cho thấy một chính sách khoan hồng nhất định, nhưng đồng thời cũng tiềm ẩn những thách thức trong việc ngăn chặn hành vi phạm tội ngay từ giai đoạn đầu.

1.2. Mặt khách thể của tội phạm

Tội phạm xâm phạm vào những quy định của nhà nước về quản lý vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ, những quy định nhằm đảm bảo an toàn công cộng và trật tự công cộng. Xâm phạm trật tự an toàn xã hội, trật tự quản lý nhà nước về quản lý vũ khí và công cụ hỗ trợ, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của con người. Việc tàng trữ, mua bán, sử dụng trái phép các loại vũ khí này tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh, trật tự, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe của người dân.

1.3. Mặt chủ quan của tội phạm

Người thực hiện tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ thực hiện với lỗi cố ý.

Người phạm tội thực hiện hành vi này nhận thức rõ hành vi của mình là trái phép (trừ hành vi chiếm đoạt) nhưng vẫn thực hiện.

Nếu vì lý do nào đó mà người phạm tội không nhận thức được hoặc không buộc phải nhận thức được hành vi của mình là trái phép thì không thuộc trường hợp phạm tội này.

1.4. Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm là người đủ tuổi và đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Đồng thời, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình. Một điểm đặc thù của tội danh này là điều kiện cần và đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự là người phạm tội phải "đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm".

Lưu ý về phân loại và Định danh các loại vũ khí, công cụ hỗ trợ:

Để áp dụng chính xác Điều 306 BLHS, việc định danh các loại vũ khí và công cụ hỗ trợ là hết sức quan trọng. Theo pháp luật Việt Nam, các loại vũ khí được phân loại rõ ràng.

  • Súng săn: Bao gồm súng kíp, súng hơi và đạn sử dụng cho các loại súng này, được chế tạo thủ công hoặc công nghiệp để săn bắn.
  • Vũ khí thô sơ: Là vũ khí có cấu tạo, nguyên lý hoạt động đơn giản, được chế tạo thủ công hoặc công nghiệp, bao gồm: dao găm, kiếm, giáo, mác, thương, lưỡi lê, đao, mã tấu, côn, quả đấm, quả chùy, cung, nỏ, phi tiêu.
  • Vũ khí thể thao và công cụ hỗ trợ: Các loại vũ khí, công cụ này cũng được định nghĩa cụ thể trong Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.

Một điểm thay đổi pháp lý quan trọng và đột phá được thể hiện trong Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ năm 2024 (có hiệu lực từ 01/01/2025). Luật mới đã bổ sung quy định về "dao có tính sát thương cao" và phân loại chúng thành vũ khí thô sơ hoặc vũ khí quân dụng tùy theo mục đích sử dụng. Cụ thể, nếu dao có tính sát thương cao được sử dụng để gây rối trật tự công cộng hoặc chống người thi hành công vụ, nó sẽ được coi là vũ khí thô sơ. Ngược lại, nếu được sử dụng với mục đích xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người trái pháp luật, nó được coi là vũ khí quân dụng. Sự thay đổi này nhằm giải quyết một vướng mắc pháp lý đã tồn tại trong thực tiễn xét xử, khi nhiều vụ án sử dụng các loại hung khí này gây án nhưng cơ quan tố tụng gặp khó khăn trong việc xác định tội danh. Việc gắn định danh vũ khí vào mục đích sử dụng đã tạo ra cơ sở pháp lý rõ ràng, thống nhất và mạnh mẽ hơn cho việc xử lý tội phạm, tăng cường khả năng phòng ngừa và răn đe.

 

2. Hình phạt về tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ

Nội dung Điều 306 Bộ luật hình sự năm 2015, Tại điểm 108, Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã sửa đổi Điều 306 quy định như sau:

“Điều 306. Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ

1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Có tổ chức;

b) Vật phạm pháp có số lượng lớn;

c) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

d) Làm chết người;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

g) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc đặc biệt lớn;

b) Làm chết 02 người trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.”.

2.1. Khung hình phạt chính, bổ sung

Căn cứ vào Điều 306 Bộ Luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 có quy định như sau:

- Khung 1 (khung hình phạt cơ bản) theo khoản 1: Phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm : 

Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự như súng săn, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Khung 2 (Khung hình phạt tăng nặng) theo khoản 2: Phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, khi có một trong các tình tiết tăng nặng sau:

  • Có tổ chức;
  • Vật phạm pháp có số lượng lớn;
  • Vận chuyển, mua bán qua biên giới;
  • Làm chết người;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
  • Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
  • Tái phạm nguy hiểm.

- Khung 3 (Khung hình phạt tăng nặng theo khoản 3): Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm, khi có một trong tình tiết tăng nặng sau:

  • Vật phạm pháp có số lượng rất lớn hoặc đặc biệt lớn;
  • Làm chết 02 người trở lên;
  • Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên;
  • Gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên.

- Khoản 4 (hình phạt bổ sung) Ngoài ra, người phạm tội  còn có  bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

2.2. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và loại trừ trách nhiệm hình sự 

Ngoài các yếu tố cấu thành tội phạm, pháp luật hình sự Việt Nam còn quy định các tình tiết khác có ảnh hưởng đến việc xác định khung hình phạt hoặc trách nhiệm hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Theo Khoản 2 và Khoản 3 Điều 306 BLHS, các tình tiết như: Phạm tội có tổ chức; Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc rất lớn (từ 11 đến 100 đơn vị trở lên); Vận chuyển, mua bán qua biên giới , tái phạm nguy hiểm , hoặc gây hậu quả nghiêm trọng về con người và tài sản (làm chết người, gây thương tích, gây thiệt hại tài sản trên 100 triệu đồng) sẽ là những căn cứ để tăng khung hình phạt cho tội danh này.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Mặc dù Điều 306 BLHS không quy định trực tiếp các tình tiết giảm nhẹ, trong thực tiễn xét xử, các bị cáo thường được hưởng các tình tiết giảm nhẹ chung được quy định trong BLHS. Các bản án thực tế cho thấy các yếu tố như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, ra tự thú hoặc tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại thường được Tòa án xem xét để giảm nhẹ hình phạt. Điển hình là trong các vụ án liên quan đến sử dụng súng trái phép gây chết người, Tòa án đã áp dụng các tình tiết này để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Loại trừ trách nhiệm hình sự: Pháp luật Việt Nam quy định một số trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Theo Nghị quyết 03/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, trong một số trường hợp, người phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt hoặc được xử lý bằng các biện pháp khác nếu hành vi chế tạo, tàng trữ, vận chuyển... vũ khí có số lượng hoặc giá trị nhỏ, tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể.

2.3. Tham khảo hình phạt qua các bản án thực tiễn 

Phân tích các vụ án cụ thể giúp làm rõ cách thức áp dụng các quy định pháp luật trong thực tiễn.

Vụ án Lê Văn D: Bản án số 156/2023/HS-PT của TAND tỉnh Thanh Hóa liên quan đến bị cáo Lê Văn D là một minh chứng điển hình cho điều kiện truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 306 BLHS. D đã bị xử phạt hành chính vì hành vi sử dụng súng săn trái phép, nhưng sau đó tiếp tục tái phạm. Hành vi này được chứng minh là đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Khoản 1 Điều 306 BLHS. Tòa án đã giữ nguyên bản án sơ thẩm, khẳng định việc áp dụng điều kiện "đã bị xử phạt vi phạm hành chính" để hình sự hóa hành vi là hoàn toàn có căn cứ và đúng quy định pháp luật.

Vụ án Nguyễn Văn B: Vụ án này làm sáng tỏ một vấn đề pháp lý tưởng chừng mơ hồ, đó là việc tàng trữ đạn súng hơi có phải là tàng trữ súng săn hay không. Bị cáo Nguyễn Văn B đã bị truy tố về tội "tàng trữ trái phép súng săn" dù chỉ tàng trữ 54.676 viên đạn súng hơi. Tác giả Mai Phương đã phân tích dựa trên Nghị quyết số 03/2022/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao, giải thích rằng "súng săn" bao gồm cả súng kíp, súng hơi và đạn sử dụng cho chúng. Như vậy, chỉ tàng trữ trái phép đạn súng hơi đã đủ yếu tố cấu thành tội "tàng trữ trái phép súng săn". Vụ án này cho thấy vai trò quan trọng của các văn bản hướng dẫn trong việc giải thích và áp dụng pháp luật một cách thống nhất.

Các vụ án "Vô ý làm chết người do sử dụng súng trái phép": Một điểm đáng lưu ý là trong nhiều vụ án gây hậu quả nghiêm trọng, mặc dù hành vi ban đầu là tàng trữ hoặc sử dụng vũ khí trái phép, các bị cáo lại bị truy tố chủ yếu về tội "Vô ý làm chết người" theo Điều 128 BLHS. Điển hình là các vụ án của Thào A D, Trần Văn T, Tằng A S, Cao Văn D, hay Sềnh A L. Việc này phản ánh quan điểm của cơ quan tố tụng rằng hậu quả "làm chết người" là yếu tố nguy hiểm nhất đã xảy ra và cần được ưu tiên truy tố. Điều này cho thấy sự linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật, khi tội danh có khung hình phạt cao hơn và phản ánh đúng bản chất hành vi nguy hiểm nhất sẽ được ưu tiên xem xét, trong khi hành vi tàng trữ/sử dụng vũ khí trái phép có thể được coi là tội danh độc lập hoặc tình tiết tăng nặng, tùy vào đánh giá của cơ quan tố tụng.

 

3. So sánh với các tội danh dễ gây nhầm lẫn

Để hiểu rõ hơn về tính chất của Điều 306, việc đối chiếu với Điều 304 BLHS là cần thiết. Điều 304 BLHS quy định về "Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự". Bảng so sánh dưới đây làm nổi bật sự khác biệt cơ bản giữa hai tội danh này.

Tiêu chí

Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304)

Tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 306)
Đối tượng tác động Vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự Súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao, công cụ hỗ trợ
Cấu thành tội phạm Hình thức: Chỉ cần thực hiện hành vi là đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Không yêu cầu điều kiện đã bị xử phạt hành chính hay kết án trước đó. Vật chất/Có điều kiện: Cần có điều kiện tiên quyết là "đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm."
Khung hình phạt cơ bản

Từ 01 năm đến 07 năm tù.

Từ 03 tháng đến 02 năm tù.

Các tình tiết định khung

Số lượng lớn (từ 3 đến 10 khẩu súng), rất lớn (từ 11 đến 30 khẩu), đặc biệt lớn (từ 31 khẩu trở lên).

Số lượng lớn (từ 11 đến 100 đơn vị), rất lớn (trên 100 đơn vị).

Sự khác biệt này phản ánh chính sách pháp lý của Nhà nước đối với từng loại vũ khí. Vũ khí quân dụng, với tính sát thương và mức độ nguy hiểm cao hơn nhiều, được quản lý chặt chẽ và tội phạm liên quan có tính răn đe mạnh hơn ngay từ hành vi đầu tiên. Ngược lại, đối với vũ khí phi quân dụng, pháp luật Việt Nam có một cơ chế mang tính giáo dục, răn đe từng bước, xử lý bằng biện pháp hành chính trước khi hình sự hóa hành vi khi có sự tái phạm.

 

4. Các xu hướng mới và thách thức trong việc thực thi pháp luật

4.1. Xu hướng phạm tội sử dụng công nghệ

Sự phát triển của công nghệ đã tạo ra những xu hướng phạm tội mới, gây khó khăn cho công tác quản lý của cơ quan chức năng.

Chế tạo vũ khí bằng công nghệ in 3D: Các đối tượng phạm tội có thể tự tìm kiếm bản thiết kế miễn phí trên mạng, mua máy in 3D và linh kiện trên các trang thương mại điện tử để tự chế tạo súng. Vụ án Phạm Ngọc Sơn tại Đà Nẵng là một ví dụ điển hình khi đối tượng đã tự chế tạo 4 khẩu súng từ các chi tiết in 3D, sử dụng nòng kim loại và các phụ kiện khác để lắp ráp thành súng có khả năng bắn đạn thật. Sự xuất hiện của loại tội phạm này cho thấy một "chuỗi cung ứng" mới, nơi kiến thức được cung cấp qua video trên YouTube, nguyên vật liệu được mua bán dễ dàng trên mạng, và vũ khí được tạo ra ngay tại nhà, tránh được sự kiểm soát của cơ quan chức năng.

Buôn bán vũ khí qua mạng xã hội: Hoạt động mua bán vũ khí, công cụ hỗ trợ diễn ra tràn lan và công khai trong các hội, nhóm kín trên mạng xã hội. Các đối tượng rao bán trực tuyến, sử dụng tài khoản ảo và các ứng dụng nhắn tin mã hóa để giao dịch, từ chối gặp mặt trực tiếp. Hàng hóa được vận chuyển qua các dịch vụ chuyển phát nhanh hoặc gửi xe khách, gây khó khăn cho việc truy vết và bắt giữ. Vụ án ở Bắc Giang liên quan đến Nguyễn Xuân Tiến đã phơi bày cách thức hoạt động tinh vi này, khi đối tượng sử dụng tài khoản Facebook để rao bán súng hơi và thu lợi bất chính, đồng thời thuê xưởng cơ khí để chế tạo nòng súng. Tình trạng này đã dẫn đến nhiều vụ án nghiêm trọng, gây thương tích hoặc chết người.

4.2. Những thách thức trong việc áp dụng pháp luật

Mặc dù pháp luật đã được sửa đổi, bổ sung, việc thực thi vẫn còn nhiều vướng mắc.

Định danh và xử lý vũ khí có tính sát thương cao: Mặc dù đã giải quyết một phần, vẫn còn những thách thức trong việc áp dụng thống nhất. Các báo cáo từ Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Phòng và Quảng Ninh đã chỉ ra vướng mắc trong việc áp dụng đồng thời Điều 304 và các điều luật về tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe. Việc xác định một công cụ có phải là vũ khí hay không phụ thuộc vào mục đích sử dụng và danh mục do Bộ Công an ban hành, điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ và đánh giá chuyên môn cao từ các cơ quan tố tụng.

Hiệu quả răn đe: Tổng kết 5 năm thi hành luật cho thấy đã xảy ra 28.715 vụ đối tượng sử dụng vũ khí trái phép. Con số này cho thấy, mặc dù có các quy định hình sự và hành chính, mức độ phổ biến của loại tội phạm này vẫn cao. Điều này đặt ra câu hỏi về tính hiệu quả của các biện pháp hiện hành trong việc răn đe và phòng ngừa, đặc biệt trong bối cảnh các đối tượng trẻ tuổi dễ dàng tiếp cận vũ khí.

4.3. Khuyến nghị hoàn thiện pháp luật

Dựa trên các phân tích trên, báo cáo đưa ra các khuyến nghị sau nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm liên quan đến vũ khí phi quân dụng:

  • Thứ nhất, nghiên cứu và bổ sung các quy định pháp lý để xử lý hình sự đối với hành vi tàng trữ, chia sẻ bản thiết kế kỹ thuật số của các loại vũ khí. Kinh nghiệm của Singapore cho thấy đây là một cách tiếp cận chủ động và hiệu quả để ngăn chặn việc sản xuất vũ khí bằng công nghệ in 3D ngay từ giai đoạn đầu.
  • Thứ hai, tăng cường hợp tác quốc tế và phối hợp liên ngành giữa các cơ quan chức năng (Công an, Hải quan, Biên phòng, Viện Kiểm sát, Tòa án) và các công ty công nghệ, nhà cung cấp dịch vụ mạng xã hội. Sự phối hợp này là cần thiết để kiểm soát và triệt phá các đường dây mua bán vũ khí trực tuyến và xuyên biên giới.
  • Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành luật, đặc biệt là việc ban hành danh mục "dao có tính sát thương cao" và hướng dẫn áp dụng thống nhất các tội danh trong thực tiễn xét xử, tránh chồng chéo hoặc bỏ lọt tội phạm.
  • Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đến mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là giới trẻ, về các hành vi vi phạm, hậu quả pháp lý và mối nguy hiểm của việc tàng trữ, sử dụng vũ khí trái phép.

Nhìn chung, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong việc quản lý vũ khí, nhưng tính hiệu quả trong phòng ngừa và đấu tranh với tội phạm vẫn còn hạn chế. Mặc dù các vụ án đã được xử lý nghiêm minh, việc các đối tượng vẫn dễ dàng tiếp cận và mua bán vũ khí qua các kênh trực tuyến cho thấy cần phải có những giải pháp đồng bộ và quyết liệt hơn. Sự xuất hiện của BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và năm 2025 là một bước tiến quan trọng, nhưng việc áp dụng thống nhất trong thực tiễn và việc bổ sung các quy định để đối phó với tội phạm công nghệ là những nhiệm vụ cấp bách.

Nếu có bất kỳ vướng mắc nào xin vui lòng liên hệ tới Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua số điện thoại 1900.6162 để được hỗ trợ. Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!