Trước tình hình đó, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định "tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thủy không bảo đảm an toàn” nhằm xử lý nghiêm những hành vi coi thường quy tắc an toàn, tiềm ẩn nguy cơ gây nguy hiểm cho tính mạng con người và trật tự an toàn xã hội. Quy định này không chỉ mang ý nghĩa răn đe, phòng ngừa mà còn thể hiện chính sách pháp luật của Nhà nước trong việc bảo vệ lợi ích công cộng, giữ gìn trật tự an toàn giao thông đường thủy và nâng cao ý thức trách nhiệm của các chủ phương tiện, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động vận tải thủy.

An toàn giao thông đường thủy là một trong những lĩnh vực trọng yếu được pháp luật hình sự Việt Nam bảo vệ. Việc đảm bảo an toàn cho các phương tiện vận tải, con người và tài sản trên sông, biển không chỉ là trách nhiệm của người điều khiển trực tiếp mà còn là của những cá nhân, tổ chức có thẩm quyền trong việc quản lý và đưa phương tiện vào khai thác. Bộ luật Hình sự Việt Nam đã hình sự hóa hành vi thiếu trách nhiệm này bằng một tội danh cụ thể, phản ánh tầm quan trọng của việc phòng ngừa tai nạn từ gốc.

Trong bối cảnh hệ thống pháp luật ngày càng chuyên sâu, việc xác định đúng điều luật và hiểu rõ bản chất của từng tội danh là vô cùng cần thiết. Cần lưu ý rằng, tội danh "đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thủy không bảo đảm an toàn" không được quy định tại Điều 268 Bộ luật Hình sự như yêu cầu ban đầu. Thay vào đó, tội danh này được quy định tại Điều 274 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Điều 268 của Bộ luật Hình sự hiện hành lại quy định về "Tội cản trở giao thông đường sắt" với các khung hình phạt từ 01 năm đến 15 năm tùy theo mức độ vi phạm. Ngoài ra, Điều 268 còn xuất hiện trong Bộ luật Tố tụng hình sự, quy định về thẩm quyền xét xử của Tòa án. Việc tách biệt các tội phạm về an toàn giao thông theo từng lĩnh vực (đường bộ, đường sắt, đường thủy) thành các điều luật riêng biệt cho thấy sự chuyên biệt hóa của các quy định pháp luật.  

 

1. Cấu thành tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thuỷ không bảo đảm an toàn

1.1. Chủ thể tội phạm

Chủ thể của tội danh này là một chủ thể đặc biệt, không phải là bất kỳ cá nhân nào mà phải là "người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật" của phương tiện giao thông đường thủy. Đây là một dấu hiệu pháp lý quan trọng để phân biệt tội danh này với các tội phạm giao thông khác. Chủ thể này có thể là:   

  • Người đứng đầu hoặc người phụ trách kỹ thuật của một công ty, doanh nghiệp vận tải.
  • Người chịu trách nhiệm về công tác đăng kiểm, bảo trì, sửa chữa phương tiện.
  • Cán bộ phụ trách việc điều động, quản lý đội tàu, thuyền.

Việc pháp luật quy định chủ thể đặc biệt cho tội danh này không phải là ngẫu nhiên. Nó phản ánh một sự chuyển dịch trong tư duy pháp lý, từ việc chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với lỗi vận hành trực tiếp sang lỗi mang tính quản lý, giám sát và "hệ thống". Tội danh này nhắm vào các cá nhân ở cấp quản lý, buộc họ phải chịu trách nhiệm về việc đảm bảo an toàn ngay từ giai đoạn chuẩn bị, trước khi phương tiện được đưa vào sử dụng. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phòng ngừa rủi ro từ nguồn, thay vì chỉ xử lý hậu quả, qua đó mở rộng phạm vi của trách nhiệm hình sự.

1.2. Khách thể 

Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ nhưng bị xâm hại.   

Khách thể chung: Là tổng thể các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ, trong trường hợp này là trật tự, an toàn công cộng, cụ thể là an toàn giao thông đường thủy.

Khách thể trực tiếp: Là các quy định của Nhà nước về an toàn giao thông vận tải đường thủy, mà khi bị xâm hại sẽ gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của công dân và tài sản của Nhà nước, tổ chức xã hội, cá nhân.   

1.3. Mặt khách quan  

Mặt khách quan của tội danh được thể hiện qua hành vi "cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường thủy rõ ràng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật".   

Hành vi: Hành vi "đưa vào sử dụng" có thể được thực hiện bằng lời nói, văn bản, hoặc bất kỳ hình thức nào khác, cho phép một phương tiện rõ ràng không an toàn được phép hoạt động. Hành vi này mang tính quyết định, quản lý, giám sát và xảy ra trước khi phương tiện thực hiện hành trình.

Tiêu chí "không bảo đảm an toàn kỹ thuật": Bộ luật Hình sự không định nghĩa chi tiết khái niệm này. Để xác định một phương tiện "không bảo đảm an toàn kỹ thuật", cơ quan tố tụng phải căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành do các cơ quan quản lý nhà nước ban hành. Việc xác định này đòi hỏi một quá trình phức tạp và mang tính liên ngành. Ví dụ, cần phải đối chiếu với các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) do Bộ Giao thông Vận tải ban hành, như QCVN 72:2025/BGTVT về phân cấp và đóng phương tiện thủy nội địa hay QCVN 89:2015/BGTVT về cơ sở đóng mới, hoán cải, sửa chữa phục hồi phương tiện thủy nội địa. Những văn bản này quy định chi tiết về các bộ phận kỹ thuật (thân vỏ, động cơ, hệ thống lái, thiết bị an toàn, v.v.). Việc thiếu sót hoặc hư hỏng một trong các bộ phận này có thể là cơ sở để kết luận phương tiện không an toàn. Điều này cho thấy sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tố tụng và cơ quan quản lý kỹ thuật là cần thiết, đồng thời đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải có kiến thức cập nhật.   

Hậu quả: Tội phạm này là một tội phạm vật chất, có nghĩa là hậu quả là dấu hiệu cấu thành bắt buộc. Chỉ khi hành vi "đưa vào sử dụng" gây ra một trong các hậu quả được liệt kê tại các khoản 1, 2, 3 của Điều 274 thì mới cấu thành tội phạm. Nếu hành vi không gây ra hậu quả, người vi phạm chỉ có thể bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt hành chính.   

1.4. Mặt chủ quan  

Tội danh này được thực hiện với lỗi vô ý. Lỗi vô ý bao gồm hai hình thức:   

  • Vô ý vì quá tự tin: Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể gây nguy hiểm (ví dụ: biết rõ phương tiện có lỗi kỹ thuật) nhưng vẫn tin tưởng rằng hậu quả sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (ví dụ: tin rằng lỗi nhỏ sẽ không gây ra tai nạn). Đây là hình thức lỗi phổ biến nhất đối với tội danh này.   
  • Vô ý vì cẩu thả: Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước điều đó. Hình thức lỗi này có thể xảy ra khi người chịu trách nhiệm đã không thực hiện đúng quy trình kiểm tra, giám sát kỹ thuật, dẫn đến việc bỏ sót những hư hỏng nghiêm trọng.

 

2. Hình phạt tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thuỷ không bảo đảm an toàn

Nội dung Điều 274 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định về tội danh này như sau:

Điều 274. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thuỷ không bảo đảm an toàn

1. Người nào chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương tiện giao thông đường thuỷ mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường thuỷ rõ ràng không bảo đảm an toàn gây thiệt hại thuộc một trong các trường hợp sau đây hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương tiện giao thông đường thuỷ mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường thuỷ rõ ràng không bảo đảm an toàn gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60% hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Tại điểm 86 Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 đã sửa đổi điều 274 như sau: 

86. Sửa đổi, bổ sung Điều 274 như sau:

“Điều 274. Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường thủy không bảo đảm an toàn

1. Người nào chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường thủy rõ ràng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây hoặc đã bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;

d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Làm chết 02 người;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

c) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Làm chết 03 người trở lên;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;

c) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”.

2.1. Khung hình phạt chính, hình phạt bổ sung

Điều 274 Bộ luật Hình sự quy định các khung hình phạt tùy thuộc vào mức độ hậu quả do hành vi phạm tội gây ra:

  • Khung 1 (Khoản 1): Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Áp dụng cho các trường hợp gây hậu quả ít nghiêm trọng như làm chết 01 người, gây thương tích cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên, hoặc gây thiệt hại tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
  • Khung 2 (Khoản 2): Phạt tù từ 03 năm đến 10 năm. Áp dụng khi tội phạm gây hậu quả rất nghiêm trọng như làm chết 02 người hoặc gây thiệt hại tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
  • Khung 3 (Khoản 3): Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Áp dụng cho các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng như làm chết 03 người trở lên hoặc gây thiệt hại tài sản từ 1.500.000.000 đồng trở lên.

Hình phạt bổ sung (Khoản 4): Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Hình phạt này nhằm ngăn chặn người phạm tội tiếp tục thực hiện hành vi nguy hiểm trong tương lai.

2.2. Tham khảo hình phạt qua bản án thực tiễn

Thực tiễn xét xử các vụ án liên quan đến an toàn giao thông đường thủy cho thấy cơ quan chức năng thường áp dụng các điều luật tùy thuộc vào bản chất hành vi và chủ thể cụ thể. Mặc dù không có các bản án trực tiếp truy cứu theo Điều 274 trong các tài liệu hiện có, có thể sử dụng các vụ án tương tự để minh họa cách Tòa án đã xác định hậu quả và xử lý vi phạm trong lĩnh vực này.   

Một ví dụ điển hình là vụ án chìm tàu kéo và sà lan tại Quảng Ngãi vào tháng 4 năm 2024, khiến 9 người chết và mất tích. Vụ việc đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Quảng Ngãi ra quyết định khởi tố vụ án "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy" theo Điều 272 Bộ luật Hình sự. Mặc dù vụ án này được khởi tố theo Điều 272, nó cho thấy cách thức cơ quan điều tra và Tòa án xác định hậu quả nghiêm trọng về người và tài sản trong các vụ tai nạn đường thủy. Việc lựa chọn điều luật này để khởi tố có thể phản ánh một thực tế rằng trong nhiều vụ tai nạn, người chịu trách nhiệm về kỹ thuật hoặc điều động cũng chính là người trực tiếp điều khiển phương tiện tại thời điểm xảy ra vụ việc. Khi đó, việc áp dụng Điều 272 có thể được coi là trực tiếp và phù hợp hơn với hành vi vi phạm tại thời điểm đó. Tuy nhiên, vụ án này cũng gợi mở về sự phức tạp trong việc xác định lỗi và trách nhiệm, khi cả lỗi quản lý (Điều 274) và lỗi vận hành (Điều 272) đều có thể tồn tại đồng thời.

 

3. Phân biệt với Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 272)

Đây là hai tội danh thường gây nhầm lẫn nhất trong nhóm tội về an toàn giao thông đường thủy. Việc phân biệt rõ ràng các yếu tố cấu thành của từng tội là rất quan trọng cho công tác điều tra, truy tố, xét xử.

Tiêu chí so sánh Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường thủy không bảo đảm an toàn (Điều 274 BLHS) Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 272 BLHS)
Chủ thể

Chủ thể đặc biệt: Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của phương tiện.   

Chủ thể thông thường: Người trực tiếp điều khiển phương tiện giao thông đường thủy.   

Hành vi

Hành vi mang tính quyết định, quản lý, giám sát: "cho phép đưa vào sử dụng phương tiện... rõ ràng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật". Hành vi này xảy ra trước khi phương tiện hoạt động.   

Hành vi mang tính vận hành, trực tiếp: "điều khiển phương tiện... mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường thủy". Hành vi này xảy ra trong quá trình phương tiện di chuyển.   

Bản chất Lỗi quản lý, giám sát, thiếu trách nhiệm trong việc đảm bảo điều kiện an toàn từ ban đầu. Tội phạm nhắm vào lỗi hệ thống. Lỗi vận hành, thiếu cẩn trọng, vi phạm các quy tắc giao thông khi đang di chuyển. Tội phạm nhắm vào lỗi cá nhân.

Cụ thể, sự khác biệt cốt lõi nằm ở thời điểm và bản chất của hành vi phạm tội. Tội danh tại Điều 274 tập trung vào hành vi đưa phương tiện vào trạng thái sẵn sàng hoạt động mà đã tiềm ẩn nguy hiểm, bất kể sau đó ai là người điều khiển. Hành vi này mang tính tiền đề, xảy ra tại các khâu quản lý, kỹ thuật. Ngược lại, tội danh tại Điều 272 tập trung vào hành vi vi phạm quy tắc an toàn giao thông của người trực tiếp cầm lái trong quá trình vận hành, ví dụ như chạy quá tốc độ, đi sai luồng lạch, hoặc không có bằng lái. Việc phân biệt rõ ràng hai tội danh này là nền tảng để đảm bảo việc truy cứu trách nhiệm hình sự được chính xác, không bỏ lọt tội phạm và cũng không xử lý sai đối tượng.

Kết luận

Tội "đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường thủy không bảo đảm an toàn" tại Điều 274 Bộ luật Hình sự là một tội danh chuyên biệt, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ trật tự an toàn giao thông đường thủy tại Việt Nam. Phân tích cho thấy đây là một tội phạm vật chất, có chủ thể đặc biệt và được thực hiện với lỗi vô ý. Bản chất của tội danh này không chỉ là trừng phạt hành vi gây tai nạn mà còn là một cơ chế răn đe, nâng cao ý thức trách nhiệm của các cá nhân ở cấp quản lý và kỹ thuật, góp phần phòng ngừa tai nạn từ gốc.

Sự phụ thuộc của việc áp dụng Điều 274 vào các quy chuẩn kỹ thuật chuyên ngành và các văn bản hướng dẫn thi hành là một thách thức lớn trong thực tiễn. Nó đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan tố tụng và các cơ quan quản lý kỹ thuật, đồng thời người áp dụng pháp luật cần có kiến thức chuyên môn sâu rộng. Việc phân biệt rõ ràng Điều 274 với Điều 272 là cần thiết để tránh nhầm lẫn, đảm bảo mỗi loại hành vi vi phạm đều được xử lý đúng bản chất, từ đó nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực giao thông đường thủy.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.