Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng  trực tiếp xâm phạm vào trật tự quản lý của Nhà nước đối với xã hội có liên quan trực tiếp đến cuộc sống bình thường của nhân dân tại các nơi công cộng, nơi mà nhân dân  thường xuyên đi lại, sinh hoạt, học tập, lao động, vui chơi giải trí… .

Khác với quy định trong BLHS cũ, BLHS 2015  quy định các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng  tại Chương XXI có 69 điều và 111 loại hành vi phạm tội được chia làm 4 mục:

Mục 1: Các tội xâm phạm an toàn giao thông;

Mục 2. Các tội trong lĩnh vực công nghệ thông tin, mạng viễn thông;

Mục 3. Các tội khác xâm phạm an toàn công cộng; và

Mục 4. Các tội khác xâm phạm trật tự cộng cộng.

Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông thuộc các tội phạm an toàn giao thông được quy định như sau

“Điều 262. Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông
 
1. Người nào chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
 
a) Làm chết 01 người hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
 
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;
 
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%;
 
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.
 
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt từ từ 03 năm đến 07 năm:
 
a) Làm chết 02 người;
 
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
 
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;
 
d) Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.
 
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:
 
a) Làm chết 03 người trở lên;
 
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
 
Xem thêm: Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thuỷ
 
c) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên;
 
d) Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.
 
4. Người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật mà cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 31% đến 60%, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
 
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

1. Khách thể của tội phạm

Khách thể của  các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng  là sự xâm phạm vào các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ bao gồm sự an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không; sự an toàn trong hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử; sự an toàn trong các hoạt động công cộng có liên quan đến quá trình  lao động,  sản xuất, quản lý vũ khí, phương tiện kỹ thuật quân sự, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân, chất cháy, chất độc và trật tự công cộng khác có liên quan đến các loại tệ nạ xã hội như cờ bạc, mại dâm.

Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn  xâm phạm vào những quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ. 

Đối tượng tác động của tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông là:

– Phương tiện giao thông đường bộ bao gồm: Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, phương tiện giao thông thô sơ đường bộ, nhưng chủ yếu là phương tiện giao thông cơ giới đương bộ.

– Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ gồm xe ô tô, máy kéo, xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh, xe gắn máy và các loại xe tương tự, kể cả xe cơ giới dùng cho người tàn tật.

– Phương tiện giao thông thô sơ đường bộ gồm các loại xe không di chuyển bằng sức động cơ như xe đạp, xe xích lô, xe súc vật kéo và các loại xe tương tự.

Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông xâm phạm vào những quy định của nhà nước về an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại cho tính mạng hoặc thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của công dân.

2. Mặt khách quan của tội phạm

Mặt khách quan của tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn  thể hiện bằng các hành vi cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông.

Điều 53 Luật giao thông đường bộ quy định xe cơ giới được phép tham gia giao thông phải bảo đảm các quy định về chất lượng, an toàn kỹ thuật  khi có đủ hệ thống hãm có hiệu lực; Có hệ thống chuyển hướng có hiệu lực; Có đủ đèn chiếu sáng gần và xa, đèn soi biển số, đèn báo hãm, đèn tín hiệu; Có bánh lốp đúng kích cỡ và đúng tiêu chuẩn kỹ thuật của từng loại xe; Có đủ gương chiếu hậu và các trang bị, thiết bị khác bảo đảm tầm nhìn cho người điều khiển; Kính chắn gió, kính cửa là loại kính an toàn; Có còi với âm lượng đúng quy chuẩn kỹ thuật; Có đủ bộ phận giảm thanh, giảm khói và các trang bị, thiết bị khác bảo đảm khí thải, tiếng ồn theo quy chuẩn môi trường; Các kết cấu phải đủ độ bền và bảo đảm tính năng vận hành ổn định. Phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng bảo đảm an toàn   được quy định trong Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) số 8658:2010 về phương tiện giao thông đường bộ gồm các nhóm xe tham gia giao thông có kết cấu và đặc tính kỹ thuật đối với các nhóm xe mô tô, xe gắn máy; ô tô chở người; ô tô chở hàng (ô tô tải); sơ mi rơ moóc và rơ moóc. Chỉ những phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng bảo đảm các tiêu chuẩn  kỹ thuật an toàn thì mới được đưa vào sử dụng tham gia giao thông. Việc đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn  thể hiện bằng các hành vi cho phép đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật  theo Tiêu chuẩn Việt Nam  vào tham gia giao thông.

Hậu quả của tội  thể hiện bằng  việc gây thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác thể hiện bằng một trong các tình tiết sau đây:

- Làm chết người; 

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe cho 01 người với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; 

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên; 

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 61% đến 121%; 

- Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

Giữa hành vi và hậu quả xảy ra cần có mối quan hệ nhân quả.

3. Mặt chủ quan của tội phạm

 

Tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm an toàn được thực hiện dưới hình thức lỗi vô ý. 

Lỗi vô ý của người phạm tội thể hiện ở sự quá tự tin cho rằng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được.Người phạm tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông có thể vì động cơ khác nhau nhưng không có mục đích vì lỗi của người phạm tội là do vô ý nên không thể có mục đích

4. Chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội này là người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật của các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng.

Chủ thể của tội phạm này được xác định là chủ thể đặc biệt, chỉ những người chịu trách nhiệm trực tiếp về việc điều động hoặc về tình trạng kỹ thuật về phương tiện giao thông đường bộ mới là chủ thể của tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, xe máy chuyên dùng không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật tham gia giao thông.

 

5. Hình phạt

 

Cấu thành cơ bản quy định mức hình phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Cấu thành tăng nặng quy định mức hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm khi có một trong những tình tiết sau đây:

    - Làm chết 02 người; 

    - Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này từ 122% đến 200%;

    - Gây thiệt hại về tài sản từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.500.000.000 đồng.

Cấu thành  rất tăng nặng quy định mức hình phạt  tù từ 05 năm đến 10 năm khi có một trong những tình sau đây:

- Làm chết 03 người trở lên; 

- Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 03 người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 201% trở lên; 

- Gây thiệt hại về tài sản 1.500.000.000 đồng trở lên.

Hình phạt bổ sung: ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. 

 

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số1900.6162 hoặc gửi qua email:để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.