- 1. Phân tích yếu tố cấu thành tội dùng nhục hình
- 1.1. Mặt khách quan
- 1.2. Mặt chủ thể
- 1.3. Mặt khách thể
- 1.4. Mặt chủ quan
- 2. Khung hình phạt tội dùng nhục hình
- 2.1. Phân tích khung hình phạt chính và bổ sung
- 2.2. Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- 2.3. Phân tích hình phạt qua các bản án, vụ án điểm
- 3. Phân biệt tội dùng nhục hình và tội bức cung
- 4. Giám định pháp y và thu thập chứng cứ
- 5. Những điểm mới, vướng mắc và đề xuất hoàn thiện pháp luật
- 5.1. Khó khăn vướng mắc áp dụng trong thực tiễn
- 5.2. Đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật
- Kết luận
Hành vi này không chỉ xâm phạm trực tiếp đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của con người, vốn là những quyền cơ bản được Hiến pháp và pháp luật bảo hộ, mà còn gây tổn hại nghiêm trọng đến uy tín của các cơ quan Nhà nước như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và Cơ quan thi hành án hình sự.
Khái niệm "nhục hình" trong bối cảnh này được hiểu là việc tra tấn, đánh đập, hoặc các hình thức khác gây đau đớn về thể xác và tinh thần nhằm ép buộc người bị giam giữ phải khai báo theo ý muốn của người tiến hành tố tụng.
Dùng nhục hình là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc sử dụng các phương pháp tra tấn, gây đau đớn về thể xác người đang bị điều tra, xét hỏi hoặc bị giam giữ cải tạo.
Hành vi này bị pháp luật Việt Nam nghiêm cấm tuyệt đối, không phân biệt động cơ hay mục đích. Việc quy định tội dùng nhục hình trong Bộ luật Hình sự thể hiện hai mục đích lập pháp cốt lõi. Bởi lẽ:
Thứ nhất, nó nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, đặc biệt là quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhân phẩm và danh dự của người bị áp dụng các biện pháp tố tụng hình sự, thi hành án hoặc các biện pháp xử lý hành chính khác. Nguyên tắc này cũng được thể hiện rõ tại Điều 10 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Thứ hai, điều luật còn nhằm bảo vệ tính công bằng, nghiêm minh và sự trong sạch của bộ máy tư pháp. Hành vi dùng nhục hình làm mất đi tính khách quan, khoa học trong quá trình tố tụng, gây ra những hậu quả khôn lường như làm sai lệch hồ sơ, dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội.
1. Phân tích yếu tố cấu thành tội dùng nhục hình
Hành vi bị khởi tố về tội dùng nhục hình thi thoả mãn 04 yếu tố cấu thành sau:
1.1. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội danh "Dùng nhục hình" được thể hiện qua hành vi, hậu quả và bối cảnh thực hiện.
Hành vi: Hành vi khách quan của tội phạm này là một trong ba hành vi: "dùng nhục hình", "đối xử tàn bạo", hoặc "hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào". Cụ thể:
- "Dùng nhục hình" bao gồm các hành vi trực tiếp gây đau đớn về thể xác như đánh đập, tra tấn, hoặc các biện pháp gây khổ sở về tinh thần như bắt nhịn ăn, nhịn uống, không cho ngủ, cùm kẹp, hỏi cung suốt ngày đêm.
- "Đối xử tàn bạo" là những hành vi không trực tiếp gây thương tích nhưng vẫn gây ra sự đau khổ, khổ sở cho nạn nhân.
- "Hạ nhục nhân phẩm" là các hành vi làm tổn thương nghiêm trọng đến danh dự, gây ra sự xấu hổ, tủi nhục cho người bị giam giữ.
Bối cảnh: Các hành vi trên phải được thực hiện trong một trong các bối cảnh cụ thể được luật định, bao gồm: hoạt động tố tụng (điều tra, truy tố, xét xử), thi hành án, hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Hậu quả: Tội danh này có cấu thành hình thức, có nghĩa là tội phạm đã hoàn thành kể từ thời điểm người có thẩm quyền thực hiện một trong các hành vi trên, không phụ thuộc vào việc hậu quả có xảy ra hay không. Tuy nhiên, nếu hành vi gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn như gây thương tích hoặc gây chết người, đó sẽ là các tình tiết định khung tăng nặng, quyết định mức hình phạt cao hơn.
1.2. Mặt chủ thể
Đây là một tội phạm có chủ thể đặc biệt, không phải bất kỳ ai cũng có thể thực hiện được. Chủ thể của tội danh này chỉ có thể là những người có chức vụ, quyền hạn nhất định trong các cơ quan tiến hành tố tụng, thi hành án hoặc thi hành biện pháp hành chính. Các chức danh cụ thể bao gồm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Chấp hành viên, và các cá nhân khác được giao nhiệm vụ điều tra, thi hành án. Ngoài ra, chủ thể phải có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và từ đủ 16 tuổi trở lên.
1.3. Mặt khách thể
Khách thể của tội danh này bao gồm hai khía cạnh:
- Khách thể trực tiếp: Là các quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của người bị giam giữ, bị can, bị cáo hoặc người đang chấp hành hình phạt, biện pháp xử lý hành chính.
- Khách thể gián tiếp: Là uy tín, tính nghiêm minh của các cơ quan Nhà nước trong lĩnh vực tư pháp. Hành vi dùng nhục hình làm xói mòn niềm tin của công chúng vào công lý và sự công bằng của pháp luật.
1.4. Mặt chủ quan
Về mặt chủ quan, tội dùng nhục hình được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, đồng thời mong muốn hoặc chấp nhận để hậu quả xảy ra. Mặc dù động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc để định tội, nhưng nó có thể ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng và quyết định hình phạt. Một số động cơ thường gặp là mong muốn đạt thành tích, muốn kết thúc vụ án sớm, hoặc do các động cơ cá nhân, tiêu cực khác.
2. Khung hình phạt tội dùng nhục hình
Nội dung Điều 373 Bộ luật Hình sự năm 2015 có quy định về tội dùng nhục hình như sau:
Điều 373. Tội dùng nhục hình
1. Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên;
c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;
d) Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng;
đ) Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khoẻ cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 60%.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
a) Gây thương tích hoặc gây thiệt hại về sức khoẻ cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;
b) Làm người bị nhục hình tự sát.
4. Phạm tội làm người bị nhục hình chết, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
Theo điểm i, khoản 137 Điều 1 Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017 có sửa đổi nội dung Điều 373 như sau: “1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại Khoản 3 và khoản 4 Điều 373 thì sẽ bị khở tố trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 389 về tội che giấu tội phạm." Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 không có sửa đổi nào liên quan đến Điều 373.
2.1. Phân tích khung hình phạt chính và bổ sung
Điều 373 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, quy định các khung hình phạt cho tội danh "Dùng nhục hình" như sau :
Khoản 1 (Khung cơ bản): Phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm đối với hành vi dùng nhục hình, đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác.
Khoản 2 (Khung hình phạt tăng nặng): Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm nếu hành vi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau :
- Phạm tội từ 02 lần trở lên.
- Đối với 02 người trở lên.
- Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt.
- Đối với người dưới 18 tuổi, phụ nữ có thai, người già yếu, người khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng.
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 60%.
Khoản 3 (Khung hình phạt tăng nặng): Phạt tù từ 07 năm đến 12 năm nếu hành vi phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau :
- Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
- Làm người bị nhục hình tự sát.
Khoản 4 (Khung hình phạt cao nhất): Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân nếu hành vi phạm tội làm người bị nhục hình chết.
Khoản 5 (Hình phạt bổ sung): Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm.
2.2. Áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Tòa án sẽ căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội, cũng như các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng để quyết định hình phạt. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự và có thể được áp dụng cho tội danh này, bao gồm: người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải , tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại , hoặc phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng, đặc biệt là khi các yếu tố cấu thành tội phạm và các tình tiết giảm nhẹ có thể trùng lặp một cách phức tạp. Ví dụ, việc phạm tội đối với một "người khuyết tật nặng" là một tình tiết định khung tăng nặng tại Khoản 2 Điều 373. Tuy nhiên, nếu "người phạm tội" chính là người khuyết tật nặng thì đó lại là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong những trường hợp như vậy, Hội đồng xét xử phải phân biệt rõ vai trò của người khuyết tật trong vụ án (là nạn nhân hay bị cáo) để đưa ra phán quyết đúng đắn.
2.3. Phân tích hình phạt qua các bản án, vụ án điểm
Mặc dù việc thu thập và công bố bản án còn nhiều hạn chế, thực tiễn xét xử đã ghi nhận một số vụ án điểm về tội dùng nhục hình, phản ánh sự nghiêm khắc của pháp luật:
- Vụ án tại Ninh Thuận: Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận đã xét xử 5 bị cáo, nguyên là cán bộ Công an, về tội "Dùng nhục hình" làm bị can tử vong. Hội đồng xét xử đã tuyên phạt 5 bị cáo tổng cộng 27 năm tù, với mức án cá nhân từ 3 đến 7 năm.
- Vụ án tại Thái Bình: Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã tuyên phạt 3 cựu cán bộ Công an hơn 22 năm tù về cùng tội danh "Dùng nhục hình".
- Bản án tại TAND cấp cao tại Hà Nội: Một số bản án phúc thẩm đã được công bố, như Bản án số 296/2024 về tội dùng nhục hình của Phạm Quang H và đồng phạm.
Những vụ án này cho thấy, khi có đủ bằng chứng, Tòa án sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người có hành vi dùng nhục hình. Tuy nhiên, thực tiễn cũng bộc lộ một số bất cập. Ví dụ, mặc dù Điều 373, Khoản 4 BLHS quy định hình phạt có thể lên tới tù chung thân khi làm người bị nhục hình chết , nhưng trong vụ án tại Ninh Thuận, các bị cáo chỉ bị phạt từ 3-7 năm tù. Sự chênh lệch này có thể đến từ việc Tòa án xem xét nhiều tình tiết khác nhau, bao gồm cả lỗi và mục đích của người phạm tội, nhưng nó cũng đặt ra câu hỏi về tính răn đe của pháp luật.
Ví dụ thực tiễn từ vụ án oan sai Nguyễn Thanh Chấn: Vụ án oan sai Nguyễn Thanh Chấn là một ví dụ điển hình minh họa cho mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nhục hình và hậu quả oan sai trong tố tụng hình sự. Ông Nguyễn Thanh Chấn bị kết án chung thân về tội giết người vào năm 2004, bất chấp việc ông kêu oan tại cả hai phiên tòa. Tòa án đã dựa vào biên bản nhận tội của ông tại cơ quan điều tra để kết án. Sau đó, hung thủ thực sự là Lý Nguyễn Chung ra đầu thú, vụ án đã được điều tra lại và ông Chấn được giải oan sau 10 năm ngồi tù. Qua vụ án này, có thể thấy rõ:
- Hành vi nhục hình/bức cung không chỉ gây ra đau đớn về thể xác và tinh thần cho người bị hại (như trường hợp ông Chấn bị bạo hành và phải sống trong "ác mộng" về ép cung).
- Nó còn làm sai lệch toàn bộ quá trình tố tụng, dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm thật và kết tội oan người vô tội, vốn là một hậu quả đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Khoản 4 Điều 374 BLHS. Vụ án Nguyễn Thanh Chấn là lời nhắc nhở đắt giá về tầm quan trọng của việc phòng chống nhục hình để bảo vệ công lý và quyền con người.
3. Phân biệt tội dùng nhục hình và tội bức cung
Luật Minh Khuê lập bảng so sánh giữa tội dùng nhục hình và tội bức cung như sau:
| Tiêu chí | Tội dùng nhục hình ( Điều 373 BLHS 2015) | Tội bức cung ( Điều 374 BLHS 2015 ) |
| Mặt khách thể | Đây là một hành vi xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của người bị hại, ảnh hưởng xấu tới hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan thi hành án. | Hành vi phạm tội đã xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan điểu tra, Viện kiểm sát, Tòa án. Ngoài ra còn xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. |
| Mặt chủ thể | Chủ thể của tội dùng nhục hình là những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. | Chủ thể của tội bức cung là những người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án và các cán bộ giúp việc khác. |
| Mặt khách quan | Hành vi này thể hiện rõ ràng qua việc tra tấn bằng vũ lực (đấm, đá bằng tay , chân hoặc sử dụng các vậy dụng như roi, gậy,…) và các hình thức tra tấn khác (bắt nhịn ăn, không cho ngủ, bắt lao động nặng nhọc,…).Đối tượng bị xâm hại là những đối tượng sau: bị can, bị cáo (trong vụ án hình sự), phạm nhân (người bị kết án về hình sự đang chấp hành hình phạt), người bị (phải) thi hành án (theo thủ tục thi hành án dân sự), ác đương sự (trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính, hôn nhân và gia đình). | Hành vi sử dụng các thủ đoạn không đúng với quy định của pháp luật để buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai không đúng sự thật. Thủ đoạn trái pháp luật, được hiểu là những phương pháp, cách thức bị pháp luật cấm hoặc không quy định cho phép (như đe dọa sẽ xử nặng hơn, đe dọa sẽ giam lâu, đe dọa dùng nhục hình, hỏi cung liên tục vào ban đêm…). |
| Mặt chủ quan | Người phạm tội thường thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. | Người phạm tội thường thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. |
| Hậu quả | Xâm phạm đến thân thể, sức khỏe, tính mạng | Gây hậu quả nghiêm trọng như dẫn đến xét xử oan sai, để lọt tội phạm, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của công dân hoặc cũng có thể gây dư luận xấu, gây bất bình trong một bộ phận lớn trong nhân dân. |
| Xử lý hình sự | - Người nào trong hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành các biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc mà dùng nhục hình hoặc đối xử tàn bạo, hạ nhục nhân phẩm của người khác dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. - Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: + Phạm tội 02 lần trở lên;
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
- Phạm tội làm người bị nhục hình chết, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân. - Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm. | - Người nào trong hoạt động tố tụng mà sử dụng thủ đoạn trái pháp luật ép buộc người bị lấy lời khai, người bị hỏi cung phải khai ra thông tin liên quan đến vụ án, vụ việc, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. - Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm:
- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
- Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề từ 01 năm đến 05 năm. |
Luật Minh Khuê so sánh tội dùng nhục hình với Tội cố ý gây thương tích (Điều 134 BLHS) như sau:
Tội dùng nhục hình và tội cố ý gây thương tích cũng có những điểm tương đồng và khác biệt về bản chất pháp lý. Điểm giống nhau là cả hai tội danh đều có thể gây hậu quả là thương tích, tổn hại sức khỏe cho nạn nhân, và đều được thực hiện với lỗi cố ý.
Điểm khác biệt:
- Chủ thể: Chủ thể của tội cố ý gây thương tích là bất kỳ ai có năng lực trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, chủ thể của tội dùng nhục hình là chủ thể đặc biệt, chỉ có thể là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan Nhà nước.
- Khách thể: Tội cố ý gây thương tích chỉ xâm phạm đến sức khỏe của con người. Tội dùng nhục hình xâm phạm đến cả sức khỏe, nhân phẩm và uy tín của các cơ quan Nhà nước.
- Bối cảnh: Tội cố ý gây thương tích có thể xảy ra trong bất kỳ bối cảnh xã hội nào. Tội dùng nhục hình chỉ xảy ra trong bối cảnh hoạt động tố tụng, thi hành án hoặc thi hành biện pháp hành chính.
4. Giám định pháp y và thu thập chứng cứ
Giám định pháp y đóng vai trò trung tâm trong việc chứng minh hậu quả của tội dùng nhục hình. Kết luận giám định về tỷ lệ tổn thương cơ thể là cơ sở khoa học để các cơ quan tố tụng xác định mức độ nghiêm trọng của tội phạm và áp dụng khung hình phạt phù hợp, từ Khoản 2 đến Khoản 4 của Điều 373 BLHS.
Quá trình trưng cầu giám định phải tuân thủ nghiêm ngặt theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Người bị hại có quyền đề nghị trưng cầu giám định để xác định tổn thương. Trong vòng 07 ngày kể từ khi nhận được đề nghị, cơ quan có thẩm quyền phải ra quyết định trưng cầu giám định. Tương tự, sau khi nhận được kết luận giám định, cơ quan này cũng phải thông báo cho người có liên quan trong vòng 07 ngày. Người bị hại có quyền trình bày ý kiến hoặc đề nghị giám định bổ sung, giám định lại nếu không đồng ý với kết luận.
Tuy nhiên, trong thực tiễn, việc chứng minh tội dùng nhục hình gặp nhiều khó khăn. Một trong những thách thức lớn nhất là vấn đề thời gian. Các dấu vết bạo hành vật lý, như vết bầm tím, có thể mờ đi hoặc biến mất trong một khoảng thời gian ngắn. Nếu người bị hại không kịp thời tố cáo hoặc không có điều kiện tiếp cận cơ quan tố tụng, việc thu thập chứng cứ để chứng minh tội phạm sẽ trở nên vô cùng khó khăn. Điều này góp phần làm cho tội danh này trở nên "ẩn khuất," khó bị phát hiện và xử lý.
Bên cạnh kết luận giám định pháp y, các loại chứng cứ khác cũng có giá trị pháp lý quan trọng :
- Lời khai: Của người bị hại, nhân chứng, và chính người phạm tội.
- Vật chứng: Các công cụ, phương tiện được sử dụng để gây án.
- Dữ liệu điện tử: Dữ liệu ghi âm, ghi hình từ các hệ thống camera giám sát trong các cơ sở giam giữ.
- Biên bản: Biên bản hỏi cung, biên bản thực nghiệm điều tra, và các tài liệu liên quan khác trong hồ sơ vụ án.
5. Những điểm mới, vướng mắc và đề xuất hoàn thiện pháp luật
Bộ luật Hình sự 2015 đã bổ sung nhiều điểm mới quan trọng so với Bộ luật Hình sự 1999. Điểm mới đáng chú ý nhất là việc nâng mức hình phạt tối đa lên tù chung thân cho trường hợp làm người bị nhục hình chết. Điều này thể hiện sự nghiêm khắc hơn của pháp luật.
Ngoài ra, việc áp dụng Thông tư liên tịch 03/2018/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BQP về ghi âm, ghi hình có âm thanh trong hỏi cung là một công cụ hiệu quả. Việc này không chỉ tăng tính khách quan của quá trình điều tra mà còn hạn chế nguy cơ bức cung, nhục hình, đồng thời là căn cứ pháp lý quan trọng để giải quyết các khiếu nại, tố cáo về hành vi sai phạm.
Tuy nhiên, có một khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn xét xử. Mặc dù luật pháp đã trở nên nghiêm khắc hơn, nhưng mức hình phạt được tuyên trong một số vụ án gây hậu quả chết người vẫn thấp hơn nhiều so với khung hình phạt tối đa. Điều này có thể được giải thích bởi khó khăn trong việc chứng minh mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa hành vi nhục hình và cái chết của nạn nhân, hoặc do các tình tiết giảm nhẹ được áp dụng. Điều này cho thấy cần có sự giám sát chặt chẽ hơn từ các cơ quan cấp cao và sự đồng bộ trong việc áp dụng pháp luật để đảm bảo công lý được thực thi một cách nghiêm minh và công bằng.
5.1. Khó khăn vướng mắc áp dụng trong thực tiễn
Mặc dù pháp luật đã có những quy định chặt chẽ, tình trạng dùng nhục hình, bức cung vẫn tồn tại trong thực tế. Bản chất của tội phạm này là sự lạm dụng quyền lực, thường xảy ra trong môi trường khép kín như phòng hỏi cung, nơi chỉ có người bị tạm giam và điều tra viên, thiếu sự giám sát của Kiểm sát viên hoặc Luật sư. Điều này khiến việc phát hiện và chứng minh hành vi trở nên vô cùng khó khăn. Nhiều trường hợp tại phiên tòa, bị cáo khai bị ép cung, nhục hình nhưng không có bằng chứng để chứng minh, do đó, lời khai thường không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vấn đề thu thập chứng cứ cho thấy một vòng luẩn quẩn của sự thiếu tin tưởng. Người bị hại (bị can, bị cáo) phải tố cáo hành vi vi phạm của cán bộ tố tụng, nhưng lại phải dựa vào chính các cơ quan tố tụng để tiến hành điều tra, xác minh. Quá trình này tạo ra rào cản lớn về tâm lý và thực tiễn, làm giảm hiệu quả của việc tố cáo.
Vụ án oan sai Nguyễn Thanh Chấn là một ví dụ điển hình minh họa cho mối quan hệ nhân quả giữa hành vi nhục hình và hậu quả oan sai trong tố tụng hình sự. Ông Nguyễn Thanh Chấn bị kết án chung thân về tội giết người vào năm 2004, bất chấp việc ông kêu oan tại cả hai phiên tòa. Tòa án đã dựa vào biên bản nhận tội của ông tại cơ quan điều tra để kết án. Sau đó, hung thủ thực sự là Lý Nguyễn Chung ra đầu thú, vụ án đã được điều tra lại và ông Chấn được giải oan sau 10 năm ngồi tù.
Qua vụ án này, có thể thấy rõ:
- Hành vi nhục hình/bức cung không chỉ gây ra đau đớn về thể xác và tinh thần cho người bị hại (như trường hợp ông Chấn bị bạo hành và phải sống trong "ác mộng" về ép cung).
- Nó còn làm sai lệch toàn bộ quá trình tố tụng, dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm thật và kết tội oan người vô tội, vốn là một hậu quả đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Khoản 4 Điều 374 BLHS. Vụ án Nguyễn Thanh Chấn là lời nhắc nhở đắt giá về tầm quan trọng của việc phòng chống nhục hình để bảo vệ công lý và quyền con người.
Trên cơ sở những khó khăn và vướng mắc trong thực tiễn, một số giải pháp đã được các chuyên gia đề xuất nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả phòng chống tội danh này :
5.2. Đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Đề xuất về cơ chế giám sát, bao gồm:
- Lắp đặt hệ thống camera giám sát: Đề xuất lắp đặt hệ thống camera ghi âm, ghi hình tại các phòng lấy lời khai, phòng hỏi cung và dọc theo hành lang các cơ sở giam giữ. Việc này sẽ tạo ra bằng chứng khách quan, là công cụ hiệu quả để xác định hành vi lạm dụng quyền lực và phòng ngừa nhục hình.
- Thành lập cơ quan giám sát độc lập: Bên cạnh vai trò kiểm sát của Viện Kiểm sát, cần xem xét thành lập một cơ quan giám sát độc lập, có thể là một tiểu ban thuộc Quốc hội, để giám sát việc thực thi pháp luật trong tố tụng hình sự. Điều này sẽ đảm bảo tính công tâm, khách quan và minh bạch, ngăn chặn tình trạng "người nhà tự điều tra người nhà" vốn tồn tại trong thực tế.
Đề xuất về chế tài và răn đe mặc dù BLHS 2015 đã nâng mức hình phạt cho tội dùng nhục hình, nhưng cần tiếp tục xem xét và ban hành các quy định pháp luật cụ thể, rõ ràng hơn để nâng cao tính răn đe. Đặc biệt, cần xử lý nghiêm minh hơn nữa đối với những người có chức vụ, quyền hạn cao mà lợi dụng vị trí của mình để phạm tội, như Nghị quyết 49/NQ-Bộ Chính trị đã đề ra.
Đề xuất về nâng cao trách nhiệm cá nhân bên cạnh các giải pháp về cơ chế và chế tài, việc nâng cao nhận thức, giáo dục đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm cá nhân cho đội ngũ cán bộ tố tụng là vô cùng quan trọng. Cần tạo ra một môi trường làm việc mà ở đó, các giá trị về quyền con người, tính chính trực và sự thượng tôn pháp luật được đặt lên hàng đầu.
Kết luận
Tội danh "Dùng nhục hình" là một trong những tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, không chỉ xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, danh dự của con người mà còn làm suy giảm niềm tin của công chúng vào hệ thống tư pháp. Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, đã thể hiện một bước tiến quan trọng trong việc mở rộng phạm vi bảo vệ, cấm cả các hành vi đối xử tàn bạo và hạ nhục nhân phẩm.
Tuy nhiên, những thách thức trong việc chứng minh và xử lý tội phạm này trong thực tiễn vẫn còn tồn tại, chủ yếu do tính chất "ẩn khuất" và sự thiếu tin tưởng vào cơ chế tự giám sát. Việc phòng ngừa và xử lý nghiêm minh tội danh này là yêu cầu tất yếu để xây dựng một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, phù hợp với Hiến pháp 2013 và các cam kết quốc tế. Việc triển khai các đề xuất hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là về cơ chế giám sát độc lập và tăng cường chế tài, sẽ là chìa khóa để kiểm soát và đẩy lùi tình trạng này, góp phần củng cố niềm tin của công chúng vào công lý.
Quý khách hàng vui lòng liên hệ trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến 24/7, gọi số 1900.6162 hoặc gửi email theo địa chỉ tại: Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ tốt nhất từ Luật Minh Khuê. Chúng tôi rất hân hạnh khi nhận được sự hợp tác của quý khách hàng. Trân trọng./.