- 1. Thẩm quyền xử lý hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?
- 2. Thế nào là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?
- 3. Tư vấn pháp luật về hành vi chiếm đoạt tài sản ?
- 4. Thủ tục làm đơn khởi tố vụ án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?
- 5. Có phải tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không ?
1. Thẩm quyền xử lý hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?
Luật sư trả lời:
Cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến Luật sư tư vấn công ty Luật Minh Khuê, sau thời gian nghiên cứu chúng tôi xin được trả lời như sau
Với nội dung câu hỏi của bạn chúng tôi xin được chia thành các vấn đề riêng để trả lời cụ thể như sâu:
Thứ nhất: Việc bạn và người A sống chung và không có đăng ký kết hôn nên căn cứ theo pháp luật Hôn nhân gia đình năm 2014 thì quan hệ vợ chồng của bạn với anh A không được pháp luật công nhận, cùng với đó là việc phát sinh về tài sản sẽ dừng lại ở phạm vi tài sản riêng và tất cả được thỏa thuận.
Thứ hai: Căn cứ vào tình hình thực tế của bạn và anh A thì trường hợp anh A lừa bạn là mượn xe nhưng đến nay không trả thì hoàn toàn bạn có thể khởi kiện ra tòa đối với sự việc này. Anh A rất có thể sẽ phải gánh chịu trách nhiệm pháp lý hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản căn cứ theo Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015. Căn cứ vào giá trị thực của chiếc xe của bạn cùng với hành vi của anh A thì bạn có đủ căn cứ pháp lý khởi kiện anh A về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Điều 175 Bộ luật hình sự 2015 quy định cụ thể về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
"Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản."
Thứ ba: Về thẩm quyền thụ lý giải quyết vụ án này được căn cứ theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Cho nên bạn có thể gửi đơn lên Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn đang cứ trú ở thành phố Hồ Chí Minh vì thẩm quyền xét xử của Tòa án là nơi tội phạm đã được thực hiện theo Khoản 1 Điều 268 và Khoản 1 Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
"Điều 268. Thẩm quyền xét xử của Tòa án
1. Tòa án nhân dân cấp huyện và Tòa án quân sự khu vực xét xử sơ thẩm những vụ án hình sự về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng, trừ những tội phạm:"
"Điều 269. Thẩm quyền theo lãnh thổ
1. Tòa án có thẩm quyền xét xử vụ án hình sự là Tòa án nơi tội phạm được thực hiện. Trường hợp tội phạm được thực hiện tại nhiều nơi khác nhau hoặc không xác định được nơi thực hiện tội phạm thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi kết thúc việc điều tra."
Từ những căn cứ pháp lý nêu trên kèm theo sự tư vấn của Luật sư, chúng tôi hy vọng đã giúp bạn có sự nhìn nhận đúng vấn đề cũng như giải quyết được các thắc mắc, từ đó có thể đưa ra phương án giải quyết hữu hiệu và đúng pháp luật.
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.
2. Thế nào là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?
Luật sư tư vấn:
Theo quy định tại khoản 1 điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017quy định:
“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Bạn có cung cấp thông tin bạn của bạn vì bị đuổi việc không có tiền để trả nên bạn mới trả nợ thay. Nếu bạn của bạn vẫn có ý thức trả nợ nhưng chưa thể trả được vị đang bị đuổi việc thì không có cơ sở để truy cứu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Nếu bạn của bạn dùng mọi thủ đoạn, hành vi nhằm trốn tránh việc trả nợ thì bạn có thể khởi kiện tại tòa án cấp huyện nơi bạn của bạn thường trú. Cơ sở để khởi kiện và hợp đồng vay tiền ngân hàng và thỏa thuận giữa hai bạn, trên bản thỏa thuận đó có chữ ký của hai người và được xác định là không có sự lừa dối, cưỡng ép. Trên thực tế, hợp đồng vay tiền với ngân hàng là hợp pháp, bạn đứng tên vay cho nên nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng thuộc về bạn. Còn nghĩa vụ trả nợ cho bạn thuộc về bạn của bạn theo thỏa thuận trước đó.
Trân trọng ./.
3. Tư vấn pháp luật về hành vi chiếm đoạt tài sản ?
>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến qua tổng đài, gọi : 1900.6162
Trả lời:
Câu hỏi 1:
* Theo thông tin bạn cung cấp, có 2 trường hợp như sau:
- Nếu như H đã có ý định lừa dối ngay từ đầu với mục đích vay tiền không trả, thì hành vi của H có thể cấu thành tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật hình sự 2015).
- Nếu H không có ý định lừa dối từ đầu mà do gặp khó khăn không thể trả đủ tiền thì hành vi này có thể cấu thành tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật hình sự).
* Việc xác định ý đồ của tội phạm cần có sự điều tra cụ thể của cơ quan điều tra. bất cứ khi nào có sự xuất hiện của hành vi lừ dối, chiếm đoạt tài sản, bạn đều có thể thực hiện tố giác, tố cáo ngay với cơ quan điều tra. Để tiến hành khởi tố, bạn thực hiện các thủ tục sau:
- Trước tiên bạn làm hồ sơ gửi lên cơ quan công an, hồ sơ bao gồm:
+ Đơn tố cáo và đơn đề nghị khởi tố
+ Các bằng chứng, chứng cứ liên quan
- Trong thời hạn không quá hai mươi ngày kể từ khi nhận được tố giác hoặc tin báo, cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc không khởi tố vụ án hình sự.
Trong trường hợp sự việc bị tố giác hoặc tin báo có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng (Điều 86 Bộ luật tố tụng hình sự).
- Khi có đủ căn cứ để xác định một người đã thực hiện hành vi phạm tội thì cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can.
Như vậy, với quy trình này, thì ít nhất sau 2 tháng bạn mới biết rõ hồ sơ của mình có được xử lý hay không. Trong trường hợp không được giải quyết tại cơ quan công an, bạn hãy gửi hồ sơ lên Viện kiểm sát. Cơ quan này không chỉ có chức năng điều tra giống cơ quan công an, mà còn có nhiệm vụ giám sát hoạt động của các cơ quan điều tra khác, phát hiện sai phạm và thực hiện truy tố. Do vậy bạn hãy yên tâm khi gửi hồ sơ.
Câu hỏi 2:
Về chi phí kiện tụng, pháp luật chỉ yêu cầu nộp tiền tạm ứng cũng như án phí, lệ phí tại Toà án khi vụ việc được đưa ra xét xử. Tuy vậy bạn cũng không có trách nhiệm nộp tiền, vì Khoản 1 Điều 21 Pháp lệnh số 10/2009 quy định: Bị cáo và các đương sự trong vụ án hình sự không phải nộp tiền tạm ứng án phí hình sự sơ thẩm, tiền tạm ứng án phí hình sự phúc thẩm và tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm. Do đó bạn cũng như bị cáo đều không phải nộp tiền tạm ứng. Đối với án phí xét xử sơ thẩm, phúc thẩm đều do người bị kết án nộp (Điều 22, 23 Pháp lệnh 10/2009/UBTVQH12 Về án phí, lệ phí toà án).
Câu hỏi 3:
Hiện nay, các quy định của pháp luật về bảo vệ người bị hại được quy định rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau. Một số ví dụ như sau:
Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật.
Tố tụng hình sự tiến hành theo nguyên tắc mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt nam nữ, dân tộc, tín ngưỡng tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Bất cứ người nào phạm tội đều bị xử lý theo pháp luật.
Điều 9 Luật tố cáo 2011:
1. Người tố cáo có các quyền sau đây:
a) Gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật;
b) Được giữ bí mật họ, tên, địa chỉ, bút tích và các thông tin cá nhân khác của mình;
c) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền thông báo về việc thụ lý giải quyết tố cáo, thông báo chuyển vụ việc tố cáo sang cơ quan có thẩm quyền giải quyết, thông báo kết quả giải quyết tố cáo;
d) Tố cáo tiếp khi có căn cứ cho rằng việc giải quyết tố cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền không đúng pháp luật hoặc quá thời hạn quy định mà tố cáo không được giải quyết;
đ) Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trả thù, trù dập;
e) Được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
Có thể nói, có rất nhiều quy định pháp luật bảo vệ người bị hại, tố cáo khỏi bị trả thù. Bạn hãy yên tâm và tin tưởng vào pháp luật.
Trân trọng./.
4. Thủ tục làm đơn khởi tố vụ án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ?
>> Luật sư tư vấn hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời
Căn cứ vào Bộ Luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017 thì tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản quy định như sau:
Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
...
“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản....
Theo như bạn trình bày và căn cứ pháp luật thì trường hợp này bạn có thể viết đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 175 mà không phải là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015. Vì khi mượn xe máy, bạn đã đồng ý và tin tưởng giao xe máy cho người đó. Người đó lợi dụng sự tin tưởng của bạn để có được tài sản, sau khi có tài sản thì người đó có hành vi chiếm đoạt mà không phải dùng thủ đoạt gian dối để chiếm đoạt tài sản.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
5. Có phải tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hay không ?
>> Luật sư tư vấn Luật Hình sự gọi: 1900.6162
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 140 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:
“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
g) Tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.
4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”.
Để xét xem trường hợp của em gái bạn thực hiện có thuộc vào tội phạm được quy định tại điều luật trên hay không thì trước hết chúng tôi xin được phân tích cấu thành tội phạm của tội này cho bạn được hiểu như sau:
Chủ thể
- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 175 thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
- Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 175 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự
Nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu thêm trách nhiệm hình sự về tội khác.
Mặt khách quan của tội phạm
- Hành vi: bao gồm các giai đoạn:
+) Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc hợp đồng khác
+) Sau khi có được tài sản, người phạm tội không thực hiện như cam kết trong hợp đồng, sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.
- Hậu quả: người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản, hoặc đã bỏ trốn, hoặc không còn khả năng trả lại tài sản.
Người phạm tội chiếm đoạt được tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên, nếu tài sản có giá trị dưới 4 triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm mới thì mới cấu thành tội phạm.
Mặt chủ quan của tội phạm
- Lỗi cố ý
- Mục đích: chiếm đoạt tài sản
Trong trường hợp của em gái bạn, bạn chưa nói rõ em gái bạn vay bao nhiêu tiền? Độ tuổi của em gái bạn cho đến lúc thực hiện hành vi là bao nhiêu? Bởi đây là một trong những căn cứ cấu thành tội phạm. Vì nếu em gái bạn vay số tiền dưới 4 triệu đồng, trước đây cũng chưa từng bị xử phạt hành chính về các hành vi chiếm đoạt tài sản khác thì hành vi này của em bạn không cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi của em bạn, thỏa mãn điều kiện về mặt khách quan của tội phạm, tức là trước đấy em bạn đã nhận được số tiền trên qua việc vay tài sản và sau đó không có khả năng trả nợ nên đã trốn tránh nghĩa vụ này. Và lúc này, nếu người bị thiệt hại có đơn khởi kiện thì em gái bạn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền như là nghĩa vụ dân sự, mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn nếu ngược lại, em bạn vay số tiền, tài sản có giá trị từ 4 triệu trở lên, hoặc dưới 4 triệu nhưng trước đây em bạn đã bị xử phạt hành chính về hành vi này thì lúc này em bạn sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Hơn nữa, nếu em bạn dưới 16 tuổi mà thực hiện các hành vi tại khoản 1, 2 Điều 175 Bộ luật hình sự thì cũng không phải chịu trách nhiệm hình sự...
Khi hành vi của em bạn đủ điều kiện cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như chúng tôi đã nói trên đây thì lúc này, nếu bên bị thiệt hại có đơn tố cáo lên cơ quan điều tra hay cơ quan có thẩm quyền khác, thì theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 thì trong vòng 20 ngày, kể từ ngày nhận được tố giác tội phạm thì cơ quan điều tra sẽ tiến hành xác minh và ra quyết định khởi tố hay không khởi tố vụ án. Trong thời hạn này, em bạn có thể sẽ bị tạm giữ để điều tra.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẳn sàng giải đáp.
Trân trọng ./.
Bộ phận Tư vấn Luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê