1. Khái niệm Tội mua bán trái phép chất ma túy

1.1. Khái niệm Mua bán trái phép chất ma túy

Hiện tại, chưa có văn bản cụ thể nào hướng dẫn chi tiết về khái niệm "mua bán trái phép chất ma túy" theo Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về khái niệm này, có thể tham khảo định nghĩa được đưa ra trong Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP, mà trong đó "mua bán trái phép chất ma túy" được hiểu là một trong các hành vi sau:

  • Bán trái phép chất ma túy cho người khác: Hành vi này bao gồm việc thực hiện việc bán chất ma túy mà không tuân thủ các quy định của pháp luật. Việc bán này không phụ thuộc vào nguồn gốc của chất ma túy, có thể là do tự sản xuất, mua từ nguồn bất hợp pháp hoặc bất kỳ nguồn nào khác. Điều này cũng bao gồm cả việc bán chất ma túy cho người khác với mục đích hưởng lợi từ tiền công hoặc các lợi ích khác, dù là trực tiếp hay gián tiếp.
  • Mua chất ma túy để bán trái phép: Hành vi này bao gồm việc mua chất ma túy với mục đích tiếp tục bán ra thị trường một cách trái phép. Dù chất ma túy có nguồn gốc từ đâu, việc mua với mục đích này là vi phạm pháp luật.
  • Xin chất ma túy để bán trái phép: Hành vi xin chất ma túy với ý định bán cho người khác mà không tuân thủ quy định pháp luật. Việc này cũng bị coi là hành vi mua bán trái phép.
  • Dùng chất ma túy để trao đổi hoặc thanh toán trái phép: Việc sử dụng chất ma túy như một phương tiện trao đổi, thanh toán hoặc bù đắp giá trị trong các giao dịch, dù không phải bằng tiền mặt, cũng bị coi là hành vi mua bán trái phép.
  • Dùng tài sản không phải tiền để đổi lấy chất ma túy và sau đó bán lại trái phép: Hành vi này bao gồm việc sử dụng tài sản khác (không phải tiền mặt) để trao đổi lấy chất ma túy, sau đó chất ma túy này sẽ được bán lại trái phép cho người khác.
  • Tàng trữ chất ma túy với mục đích bán trái phép: Việc lưu giữ, cất giữ chất ma túy với ý định bán ra thị trường là hành vi trái phép và bị xử lý theo pháp luật.
  • Vận chuyển chất ma túy để bán trái phép: Hành vi vận chuyển chất ma túy từ nơi này đến nơi khác với mục đích bán trái phép cho người khác cũng là một trong các hành vi vi phạm.

Theo quy định, mọi cá nhân liên quan đến việc tổ chức, xúi giục, hay giúp sức cho các hành vi trên đều có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy. Điều này nhằm đảm bảo rằng không chỉ những người trực tiếp thực hiện hành vi mua bán mà cả những người hỗ trợ hay tạo điều kiện cho hoạt động này đều phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

1.2. Khái niệm "Mua bán" trong bối cảnh giao dịch trực tuyến và tiền điện tử

Thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy trong những năm gần đây cho thấy sự xuất hiện của các phương thức, thủ đoạn phạm tội mới, tinh vi hơn, đặc biệt là việc lợi dụng công nghệ cao. Các giao dịch mua bán ma túy đã không còn chỉ giới hạn trong thế giới thực mà đã dịch chuyển mạnh mẽ lên không gian mạng, sử dụng các nền tảng và phương tiện hiện đại.

Các đối tượng tội phạm thường tạo lập các tài khoản ảo, sử dụng các hội nhóm kín trên mạng xã hội như Messenger, Zalo, Telegram để quảng cáo, trao đổi và giao dịch ma túy. Chúng ngụy trang ma túy dưới dạng các sản phẩm thông thường như thực phẩm, bánh kẹo, hay các mặt hàng quà lưu niệm được dán kín. Để tránh bị bắt quả tang và lộ diện, chúng lợi dụng triệt để các dịch vụ giao hàng công nghệ như Grab, Go Việt, VN Post hoặc thậm chí là flycam để vận chuyển ma túy đến tay người mua.

Đặc biệt, việc thanh toán bằng tiền mã hóa (Bitcoin) đã trở thành một thủ đoạn mới nổi lên. Việc sử dụng tiền mã hóa đặt ra một thách thức pháp lý nghiêm trọng vì pháp luật Việt Nam chưa công nhận tiền ảo là tài sản hợp pháp. Điều này gây khó khăn trong việc định giá, truy vết dòng tiền và tịch thu tài sản do phạm tội mà có. Tính ẩn danh và phi tập trung của tiền mã hóa, cùng với việc tội phạm sử dụng các ứng dụng nhắn tin có mã hóa đầu cuối, đã tạo ra một khoảng cách lớn giữa thực tiễn tội phạm và các quy định pháp luật hiện hành. Mặc dù Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã công nhận dữ liệu điện tử là một nguồn chứng cứ , nhưng quy trình thu giữ, bảo quản và chuyển hóa những dữ liệu này từ các nền tảng mã hóa vẫn còn nhiều lúng túng. Điều này làm tăng độ phức tạp trong việc chứng minh hành vi phạm tội và tiềm ẩn nguy cơ thiếu chứng cứ để buộc tội, đặc biệt khi các đối tượng không khai báo thành khẩn.

 

2. Các yếu tố cấu thành tội mua bán trái phép chất ma túy

- Chủ thể của tội phạm mua bán trái phép chất ma túy là bất kỳ cá nhân nào từ đủ 16 tuổi trở lên và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015, tội phạm này có thể do người từ 14 đến dưới 16 tuổi thực hiện, nếu thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2, khoản 3, và khoản 4 của Điều 251, vì đây là các tình huống tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

- Khách thể của tội phạm mua bán trái phép chất ma túy là chế độ quản lý nhà nước về chất ma túy. Nhà nước quy định nghiêm ngặt về việc cất giữ, vận chuyển, và trao đổi chất ma túy để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và duy trì trật tự xã hội. Ma túy, mặc dù có ứng dụng trong y học và nghiên cứu, nhưng việc sử dụng trái phép gây ra nhiều tác hại nghiêm trọng. Vì vậy, công tác quản lý chất ma túy được coi trọng và bảo vệ bởi pháp luật.

Các chất ma túy thường gặp bao gồm thuốc phiện, cần sa, heroin, morphin, cũng như các loại ma túy tổng hợp và ma túy đá. Những chất này đều thuộc phạm vi quản lý nghiêm ngặt của nhà nước.

- Mặt khách quan của tội phạm:

+ Hành vi: Tội phạm mua bán trái phép chất ma túy có thể được thực hiện qua một hoặc nhiều hành vi cụ thể sau:

  • Bán chất ma túy: Hành vi bán chất ma túy mà người phạm tội có được từ nhiều nguồn khác nhau (tự sản xuất, mua từ người khác, nhận cho, nhặt được, v.v.) nhằm thu lợi.
  • Mua chất ma túy để bán: Mua chất ma túy với mục đích rõ ràng là bán lại cho người khác. Ví dụ, nếu A mua ma túy của B để bán lại cho C, thì A có thể bị truy cứu trách nhiệm về tội mua bán trái phép chất ma túy.
  • Vận chuyển chất ma túy để bán: Hành vi này bao gồm việc vận chuyển chất ma túy và bán lại cho người khác, với mục đích kiếm lời. Nếu vận chuyển không nhằm mục đích bán thì có thể bị truy cứu về tội phạm khác.
  • Tàng trữ chất ma túy để bán lại hoặc sản xuất: Cất giữ chất ma túy với ý định bán lại hoặc sản xuất chất ma túy khác để bán cũng cấu thành tội phạm.
  • Sử dụng chất ma túy để trao đổi: Sử dụng ma túy để đổi lấy hàng hóa hoặc tiền, hoặc ngược lại, sử dụng hàng hóa để đổi lấy ma túy.

+ Mục đích: Người phạm tội thường thực hiện các hành vi này với mục đích kiếm lợi bất chính từ việc mua bán ma túy.

+ Hậu quả: Việc thực hiện tội phạm mua bán ma túy có thể dẫn đến việc xâm phạm chế độ quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy. Tội phạm này được cấu thành ngay cả khi hành vi mua bán không thành công, vì chỉ cần hành vi phạm tội xảy ra là đủ để truy cứu trách nhiệm. Số lượng ma túy liên quan cũng ảnh hưởng đến mức độ nghiêm trọng của hình phạt, với số lượng lớn hơn dẫn đến mức phạt cao hơn.

- Lỗi của tội phạm mua bán trái phép chất ma túy là lỗi cố ý, cụ thể là lỗi cố ý trực tiếp. Điều này có nghĩa là người phạm tội biết rõ hành vi của mình là mua bán chất ma túy, biết rõ việc này là vi phạm pháp luật nhưng vẫn quyết định thực hiện hành vi để kiếm lời

 

3. Khung hình phạt tội mua bán trái phép chất ma túy 

Tội mua bán trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2017. Đặc biệt đến bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự) đã sửa đổi điều 251với nội dung như sau:

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi;

g) Qua biên giới;

h) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

k) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

l) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

m) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

n) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

o) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;

q) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 30 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 100 gam đến dưới 03 kilôgam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 75 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 600 kilôgam đến dưới 1.200 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 150 kilôgam đến dưới 300 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 300 gam đến dưới 09 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 750 mililít đến dưới 22 lít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 30 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 03 kilôgam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 1.200 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 300 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 09 kilôgam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 22 lít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

3.1 Các khung hình phạt chính, hình phạt bổ sung

Điều 251 BLHS 2015 sửa đổi năm 2017 và năm 20125 quy định các khung hình phạt đối với Tội mua bán trái phép chất ma túy như sau:

  • Khung 1 (hình phạt cơ bản theo khoản 1): Phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
  • Khung 2 (khung hình phạt tăng nặng khoản 2): Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm, áp dụng cho các trường hợp có tổ chức; Phạm tội 02 lần trở lên; Đối với 02 người trở lên; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi; Qua biên giới; Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;  Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam; Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam; Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này; Tái phạm nguy hiểm.
  • Khung 3 (khung hình phạt tăng nặng khoản 3): Phạt tù từ 15 năm đến 20 năm, áp dụng khi khối lượng ma túy đạt mức quy định cao hơn, gồm: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam; Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam; Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam; Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
  • Khung 4 (khung hình phạt tăng nặng khoản 4): Phạt tù 20 năm, tù chung thân. Áp dụng khi khối lượng ma túy đạt mức đặc biệt lớn: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 30 kilôgam; Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 100 gam đến dưới 03 kilôgam; Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 75 kilôgam đến dưới 150 kilôgam; Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 600 kilôgam đến dưới 1.200 kilôgam; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 150 kilôgam đến dưới 300 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 300 gam đến dưới 09 kilôgam; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 750 mililít đến dưới 22 lít; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
  • Khung 5 (khung hình phạt tăng nặng khoản 5): Phạt tù chung thân hoặc tử hình, áp dụng với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng sau: Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 30 kilôgam trở lên; Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 03 kilôgam trở lên; Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 150 kilôgam trở lên; Quả thuốc phiện khô có khối lượng 1.200 kilôgam trở lên; Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 300 kilôgam trở lên; Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 09 kilôgam trở lên; Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 22 lít trở lên; Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.
  • Hình phạt bổ sung (khoản 6): Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, có thể thấy bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2025 đã chia khung hình phạt thành 06 khung (so với trước kia là 05 khung) và vẫn giữ nguyên hình phạt cao nhất là tử hình đối với tội danh này thể hiện tính răn đe đặc biệt đối với hành vi mua bán trái phép chất ma tuý.

3.2. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự 

Việc xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong các vụ án ma túy, đặc biệt là tội mua bán trái phép chất ma túy, là một yếu tố quan trọng để cá thể hóa hình phạt và thể hiện tính nhân văn của pháp luật.

Theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự hiện hành, có nhiều tình tiết giảm nhẹ khác nhau có thể được áp dụng. Tuy nhiên, trong bối cảnh của tội phạm ma túy, một số tình tiết thường được Tòa án đặc biệt xem xét, bao gồm :  

Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải: Đây là một trong những tình tiết giảm nhẹ phổ biến và có ý nghĩa quan trọng nhất đối với tội phạm ma túy. Việc người phạm tội thừa nhận hành vi, ăn năn về lỗi lầm của mình giúp Tòa án có cơ sở để giảm nhẹ hình phạt.  

  1. Tự thú: Nếu người phạm tội tự nguyện ra đầu thú trước khi bị phát hiện hoặc sau khi bị phát hiện nhưng trước khi bị bắt, đây cũng là một tình tiết giảm nhẹ quan trọng.  
  2. Tích cực hợp tác với cơ quan điều tra: Người phạm tội chủ động giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện, điều tra, hoặc làm sáng tỏ vụ án cũng sẽ được xem xét giảm nhẹ.  
  3. Lập công chuộc tội: Trường hợp người phạm tội có những hành động tích cực, có giá trị trong việc đấu tranh với tội phạm hoặc các hoạt động có lợi cho xã hội sau khi phạm tội.  
  4. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng: Mặc dù hiếm khi được áp dụng trong các vụ án mua bán ma túy vì tội danh này thường có khung hình phạt ở mức nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng, nhưng nếu khối lượng ma túy nhỏ, người phạm tội có thể được xem xét tình tiết này.  
  5. Phạm tội vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn hoặc do bị đe dọa, cưỡng bức: Nếu người phạm tội có thể chứng minh được họ phạm tội trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không do mình tự gây ra, hoặc bị người khác đe dọa, cưỡng bức.  
  6. Yếu tố nhân thân: Các tình tiết liên quan đến nhân thân như người phạm tội là phụ nữ có thai, người trên 70 tuổi, người khuyết tật nặng hoặc đặc biệt nặng, hoặc người có công với cách mạng, là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ cũng là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.  

Tuy nhiên, do tính chất của tội phạm ma túy thường không có "bị hại" cụ thể như các tội phạm khác, nên các tình tiết giảm nhẹ liên quan đến việc bồi thường, sửa chữa thiệt hại cho nạn nhân thường không được áp dụng.

3.3 Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, có nhiều tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự có thể được áp dụng đối với tội danh này. Cụ thể, các tình tiết thường được Tòa án xem xét bao gồm:  

  1. Phạm tội có tổ chức hoặc có tính chất chuyên nghiệp: Khi hành vi mua bán ma túy được thực hiện có sự cấu kết chặt chẽ giữa nhiều người, có sự phân công vai trò, hoặc được thực hiện một cách chuyên nghiệp nhằm mục đích thu lợi.  
  2. Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm: Khi người phạm tội đã bị kết án và chưa được xóa án tích, hoặc đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý và tiếp tục phạm tội tương tự.  
  3. Phạm tội 02 lần trở lên: Tình tiết này được áp dụng khi một người thực hiện từ hai hành vi mua bán trái phép chất ma túy trở lên, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nhưng chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự.  
  4. Phạm tội đối với 02 người trở lên: Khi người phạm tội thực hiện hành vi mua bán ma túy cho từ hai người trở lên.  
  5. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc danh nghĩa cơ quan, tổ chức để phạm tội: Tình tiết này áp dụng khi người phạm tội dùng vị trí, quyền hạn của mình hoặc danh nghĩa của cơ quan, tổ chức để che giấu hành vi phạm tội.  
  6. Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi: Khi người phạm tội lợi dụng trẻ em để thực hiện hành vi bất hợp pháp hoặc bán ma túy cho trẻ em.  
  7. Sử dụng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hoặc tàn ác để phạm tội: Ví dụ như việc ngụy trang ma túy dưới dạng hàng hóa thông thường, sử dụng các ứng dụng công nghệ cao để giao dịch, hoặc có hành động hung hãn để trốn tránh, che giấu tội phạm.  
  8. Lợi dụng hoàn cảnh đặc biệt khó khăn của xã hội: Hành vi mua bán ma túy được thực hiện trong tình trạng khẩn cấp, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh khó khăn khác của xã hội.  

Những tình tiết này không chỉ là căn cứ để Tòa án tăng nặng hình phạt mà còn là yếu tố quan trọng để định khung hình phạt cao hơn, có thể dẫn đến mức án nghiêm khắc hơn, thậm chí là tử hình.

3.4. Tham khảo hình phạt thông qua án lệ và các vụ án điển hình

  • Vụ án thuộc Khung hình phạt 2: Vụ án Mai Khánh L và đồng phạm

Bản án số 138/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TAND tỉnh Thanh Hóa về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" là một ví dụ điển hình. Bị cáo Mai Khánh L phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép 3,948g Methamphetamine, trong khi bị cáo Trần Xuân D chịu trách nhiệm với 29,139g Methamphetamine. Ngoài ra, các bị cáo Nguyễn Văn D1, Mai Thị H4 và Nguyễn Văn C1 cũng bị truy tố với vai trò đồng phạm, giúp sức cho hành vi mua bán ma túy.

Căn cứ vào khối lượng Methamphetamine mà các bị cáo phải chịu trách nhiệm, hành vi của họ thuộc trường hợp quy định tại điểm h khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 , với khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam. Mặc dù khối lượng ma túy thu giữ của L là 3,948g, nhưng L còn có hành vi bán ma túy cho người khác và chỉ đạo đồng phạm mua bán ma túy, dẫn đến việc phải chịu trách nhiệm về tổng khối lượng ma túy của toàn bộ đường dây. Việc Tòa án truy tố và xét xử các bị cáo theo khung hình phạt này thể hiện sự áp dụng đúng quy định pháp luật dựa trên khối lượng tang vật và vai trò của từng cá nhân trong đường dây phạm tội.

  • Vụ án thuộc Khung hình phạt 3: Vụ án Tạ Thị Huyền T

Bản án số 1089/2024/HS-PT ngày 06/12/2024 của TAND TP. Hà Nội tuyên phạt bị cáo Tạ Thị Huyền T 09 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Mặc dù khối lượng ma túy không được nêu chi tiết, mức hình phạt này thấp hơn khung hình phạt 3 (15-20 năm) nhưng là kết quả của việc xét xử phúc thẩm, sửa đổi quyết định của bản án sơ thẩm. Điều này cho thấy vai trò của các tình tiết giảm nhẹ hình phạt được quy định tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, chẳng hạn như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoặc các tình tiết khác có thể đã được áp dụng để Tòa án chấp nhận kháng cáo và giảm án cho bị cáo. Điều này minh chứng cho sự linh hoạt trong việc áp dụng pháp luật và tầm quan trọng của các tình tiết giảm nhẹ trong việc quyết định mức án cuối cùng, dù hành vi ban đầu có thể đủ yếu tố để truy tố ở khung hình phạt cao hơn.

  • Vụ án thuộc Khung hình phạt 4: Vụ án 18 án tử hình

Vụ án do TAND TP.HCM xét xử vào ngày 11/11/2023 là một trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, khi 18 bị cáo bị tuyên án tử hình về các tội danh liên quan đến ma túy, bao gồm mua bán, tàng trữ và vận chuyển trái phép. Theo hồ sơ vụ án, các đối tượng đã tàng trữ, vận chuyển, mua bán tổng cộng 216,3kg ma túy, trong đó 162kg đã bị thu giữ. Hành vi này có quy mô đặc biệt lớn, có tổ chức, với sự tham gia của các đối tượng người nước ngoài (Hàn Quốc, Trung Quốc).

Với khối lượng ma túy đặc biệt lớn (trên 100g Methamphetamine), hành vi của các bị cáo đã thuộc Khung hình phạt 4 theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 BLHS 2015. Hội đồng xét xử đã nhận định rằng hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, không còn khả năng cải tạo, do đó đã quyết định áp dụng mức hình phạt cao nhất là tử hình. Vụ án này là minh chứng rõ nét cho thấy sự nghiêm khắc của pháp luật Việt Nam đối với tội phạm ma túy đặc biệt nghiêm trọng, và mức độ nguy hiểm của hành vi đã lấn át mọi tình tiết giảm nhẹ có thể có.

  •  Đánh giá các Tình tiết Giảm nhẹ và Tăng nặng

Việc đánh giá các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng có ý nghĩa quan trọng trong việc cá thể hóa hình phạt. Các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 BLHS 2015, bao gồm thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra, hoặc lập công chuộc tội. Ngược lại, các tình tiết tăng nặng bao gồm tái phạm nguy hiểm, phạm tội có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc sử dụng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt.

Trong thực tiễn xét xử các vụ án ma túy, các tình tiết này được Tòa án cân nhắc một cách nghiêm túc. Với những vụ án có khối lượng ma túy nhỏ, Tòa án thường áp dụng các tình tiết giảm nhẹ để đưa ra mức hình phạt nhân văn hơn, ví dụ như trường hợp của Tạ Thị Huyền T. Tuy nhiên, đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, có tổ chức và khối lượng ma túy lớn, tính chất nguy hiểm của hành vi đã lấn át hoàn toàn các tình tiết giảm nhẹ. Việc Tòa án nhận định hành vi của các bị cáo trong vụ án 18 án tử hình là "không còn khả năng cải tạo" đã thể hiện rõ quan điểm này. Dù có bất kỳ tình tiết giảm nhẹ nào, Hội đồng xét xử vẫn xác định hình phạt cao nhất là cần thiết để răn đe, phòng ngừa chung và đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

3.5 Các văn bản pháp luật hướng dẫn chi tiết Điều 251 

Để đảm bảo việc áp dụng thống nhất các quy định của Bộ luật Hình sự, các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết:

  • Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP: Văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích các khái niệm, hành vi phạm tội về ma túy. Thông tư đã định nghĩa chi tiết các hành vi được coi là mua bán trái phép chất ma túy. Nó cũng hướng dẫn cách phân biệt các trường hợp "mua hộ" ma túy, tùy vào mục đích (cùng sử dụng hay hưởng lợi), người mua hộ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, hoặc đồng phạm với tội mua bán trái phép chất ma túy.
  • Nghị định 19/2018/NĐ-CP của Chính phủ: Nghị định này hướng dẫn chi tiết về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật Hình sự 2015. Văn bản này rất quan trọng trong việc định khung hình phạt đối với các vụ án có nhiều loại ma túy khác nhau, giúp cơ quan tố tụng có cơ sở pháp lý vững chắc để xác định mức độ nguy hiểm của tội phạm.
  • Các Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC: Các văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất nhận thức và giải quyết các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn xét xử. Ví dụ, Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP đã hướng dẫn phân biệt tội "Mua bán trái phép chất ma túy" với tội "Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy", giúp tránh việc bỏ lọt tội phạm.

Phân tích các yếu tố mới chưa được đề cập rõ trong BLHS: Mặc dù hệ thống pháp luật đã tương đối đầy đủ, thực tiễn tội phạm ma túy không ngừng biến đổi và đặt ra những thách thức mới. Một trong những thách thức lớn nhất đến từ việc sử dụng công nghệ cao.

Các vụ án gần đây cho thấy tội phạm ma túy đã tận dụng tối đa các nền tảng mạng xã hội và ứng dụng nhắn tin mã hóa để thực hiện giao dịch, thanh toán bằng tiền mã hóa. Vấn đề đặt ra là các văn bản pháp luật hiện hành chưa có hướng dẫn chi tiết về cách thức thu thập, bảo quản, và xử lý chứng cứ từ các giao dịch kỹ thuật số này. Mặc dù Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đã công nhận dữ liệu điện tử là nguồn chứng cứ , nhưng quy trình thực tế để thu thập dữ liệu từ các ứng dụng mã hóa như Telegram hoặc từ các ví tiền mã hóa ẩn danh vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Tính ẩn danh và phi tập trung của tiền mã hóa làm cho việc truy vết trở nên phức tạp, gây trở ngại cho việc xác định tổng số tiền giao dịch và lợi nhuận bất chính, vốn là những yếu tố quan trọng trong việc chứng minh tội phạm. Điều này đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng phải nâng cao năng lực kỹ thuật, đồng thời cần có các văn bản pháp luật mới, cụ thể hơn để giải quyết những khoảng trống pháp lý này.

 

4. Phân biệt với tội tàng trữ và tội vận chuyển trái phép chất ma túy

Để xác định chính xác tội danh của một hành vi liên quan đến ma túy, việc phân biệt giữa "Mua bán", "Tàng trữ" và "Vận chuyển" là vô cùng quan trọng. Bộ luật Hình sự năm 2015 đã tách biệt các tội danh này thành các điều luật riêng, thay vì gộp chung như Bộ luật Hình sự năm 1999. Dưới đây là phân tích chi tiết các dấu hiệu cấu thành tội phạm và sự khác biệt cốt lõi.

  • Tội Mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251 BLHS 2015): Đây là hành vi có tính chất kinh doanh, bao gồm các hoạt động mua, bán hoặc cả mua và bán trái phép chất ma túy. Các hành vi cụ thể được xác định là mua bán bao gồm: bán ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc), bán hộ để hưởng lợi, mua ma túy nhằm mục đích bán lại, xin ma túy để bán, dùng ma túy để trao đổi, thanh toán trái phép, hoặc tàng trữ, vận chuyển ma túy với mục đích bán lại. Tội danh này không quy định mức khối lượng khởi điểm để truy cứu trách nhiệm hình sự; chỉ cần có hành vi mua bán là có thể cấu thành tội phạm.
  • Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249 BLHS 2015): Hành vi này là việc cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ đâu, từ trên người đến trong nhà, ngoài vườn, vali, v.v.. Yếu tố then chốt để phân biệt với Tội mua bán là mục đích của hành vi tàng trữ không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất trái phép chất ma túy. Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi khối lượng hoặc thể tích ma túy đạt một mức khởi điểm nhất định, ví dụ từ 0,1 gam Heroine hoặc Cocaine trở lên.
  • Tội Vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250 BLHS 2015): Đây là hành vi dịch chuyển bất hợp pháp chất ma túy từ nơi này đến nơi khác, bằng bất kỳ phương tiện nào như ô tô, bưu điện, tàu hỏa, hoặc thậm chí là mang theo người. Tương tự như Tội tàng trữ, hành vi này chỉ được xác định khi mục đích không nhằm mua bán, tàng trữ hay sản xuất trái phép. Mức khối lượng khởi điểm để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội danh này cũng được quy định cụ thể tại Điều 250 BLHS 2015.

Điểm khác biệt cốt lõi nhất và cũng là thách thức lớn nhất trong thực tiễn xét xử là việc xác định "mục đích" của người phạm tội. Ví dụ, trong vụ án của Huỳnh Quốc Thương, mặc dù bị bắt quả tang khi đang trên đường đi bán ma túy, nhưng cơ quan điều tra chủ yếu dựa vào lời khai của bị cáo để xác định mục đích phạm tội, trong khi lại không có chứng cứ độc lập nào khác để bổ trợ. Điều này cho thấy sự phụ thuộc đáng kể vào lời khai của bị can, bị cáo. Nếu người phạm tội thay đổi lời khai, quá trình tố tụng sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc định tội danh. Đây là một vấn đề pháp lý quan trọng bởi theo Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam, lời nhận tội không thể là bằng chứng duy nhất để buộc tội và kết tội. Việc chứng minh mục đích kinh doanh đòi hỏi sự kết hợp của nhiều loại chứng cứ khác, như lịch sử giao dịch, tin nhắn trao đổi, và lời khai của các bên liên quan.

Bảng  tóm tắt sự khác biệt chính giữa ba tội danh này:

Tiêu chí Tội Mua bán trái phép chất ma túy Tội Tàng trữ trái phép chất ma túy Tội Vận chuyển trái phép chất ma túy
Định nghĩa Hành vi mua hoặc bán trái phép chất ma túy Hành vi cất giữ, cất giấu trái phép chất ma túy Hành vi dịch chuyển trái phép chất ma túy từ nơi này đến nơi khác
Mục đích Mua để bán, bán để thu lợi (có yếu tố kinh doanh) Để sử dụng cá nhân, không nhằm mục đích mua bán, sản xuất, vận chuyển Để sử dụng cá nhân, không nhằm mục đích mua bán, sản xuất, tàng trữ
Mức khối lượng khởi điểm Không quy định mức tối thiểu. Bất kỳ khối lượng nào cũng có thể cấu thành tội phạm.

Có quy định mức tối thiểu. Phải đạt khối lượng nhất định theo từng loại ma túy để bị truy cứu hình sự.

Có quy định mức tối thiểu. Phải đạt khối lượng nhất định theo từng loại ma túy để bị truy cứu hình sự.

 

5. Các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia liên quan đến phòng chống ma túy

Việt Nam đã thể hiện cam kết mạnh mẽ trong cuộc chiến chống ma túy bằng việc tham gia ba Công ước của Liên Hợp Quốc về kiểm soát ma túy :

  • Công ước thống nhất về các chất ma túy năm 1961: Đây là công ước nền tảng, nhằm kiểm soát các chất ma túy truyền thống như thuốc phiện và cần sa.
  • Công ước về các chất hướng thần năm 1971: Công ước này mở rộng phạm vi kiểm soát đối với các chất hướng thần tổng hợp mới xuất hiện.
  • Công ước Liên Hợp Quốc về chống buôn bán bất hợp pháp các chất ma túy và chất hướng thần năm 1988: Đây là công ước quan trọng nhất trong việc phòng chống các hoạt động buôn bán ma túy xuyên quốc gia, tập trung vào việc tịch thu tài sản do phạm tội mà có và tăng cường hợp tác quốc tế.

Việc Việt Nam tham gia các công ước này từ năm 1997 là cơ sở pháp lý vững chắc cho việc hợp tác với các quốc gia khác trong đấu tranh phòng, chống tội phạm ma túy xuyên quốc gia.

Lưu ý về ảnh hưởng của các công ước này đến việc xét xử các vụ án ma túy có yếu tố nước ngoài:

Các công ước quốc tế này không chỉ là những văn bản lý thuyết mà còn tạo ra khuôn khổ cho hoạt động "tương trợ tư pháp hình sự" giữa các quốc gia. Luật Tương trợ tư pháp về hình sự của Việt Nam là công cụ cụ thể để thực thi các nghĩa vụ quốc tế này. Nhờ đó, Việt Nam có thể phối hợp với các quốc gia khác để thu thập chứng cứ, lấy lời khai của các đối tượng ở nước ngoài, hoặc chuyển giao người đang bị tạm giam để phục vụ điều tra, xét xử.

Vụ án TAND TP.HCM với 18 bị cáo bị tuyên án tử hình là một ví dụ điển hình về sự ảnh hưởng của yếu tố quốc tế. Các bị cáo bao gồm cả người Hàn Quốc và người Trung Quốc, trong một đường dây mua bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia. Việc truy tố và xét xử thành công các đối tượng này, dù có yếu tố nước ngoài phức tạp, đã thể hiện hiệu quả của cơ chế tương trợ tư pháp hình sự. Nếu không có sự hợp tác chặt chẽ này, việc điều tra, xác minh và truy tố các đường dây ma túy quốc tế sẽ gần như là bất khả thi.

Mặc dù các công ước quốc tế và luật pháp trong nước đều nghiêm trị tội phạm ma túy, chính sách pháp luật Việt Nam vẫn đang có những bước điều chỉnh linh hoạt. Gần đây, Bộ Công an đã đề xuất bỏ hình phạt tử hình đối với Tội vận chuyển trái phép chất ma túy với lý do rằng nhiều người phạm tội ở tội danh này chỉ đóng vai trò trung gian, hưởng lợi ít, và thường là người dân tộc thiểu số, có hoàn cảnh khó khăn hoặc bị các đối tượng cầm đầu lợi dụng. Đề xuất này cho thấy một sự thay đổi trong quan điểm pháp lý, hướng tới việc phân hóa trách nhiệm hình sự, tập trung trừng trị những đối tượng chủ mưu, cầm đầu, đồng thời vẫn đảm bảo tính nhân văn trong chính sách hình sự.

Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác này, có thể kể đến một số kiến nghị cụ thể:

  • Hoàn thiện khung pháp lý: Cần có các văn bản hướng dẫn mới, hoặc thậm chí là các điều chỉnh pháp luật, để định nghĩa và quy định rõ ràng về các giao dịch ma túy có liên quan đến tiền mã hóa và chứng cứ điện tử. Điều này sẽ giúp các cơ quan tố tụng có cơ sở pháp lý vững chắc hơn trong việc xử lý các vụ án phức tạp.
  • Tăng cường năng lực chuyên môn: Các cơ quan điều tra, kiểm sát và xét xử cần được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng điều tra tội phạm công nghệ cao, phân tích dữ liệu số và truy vết giao dịch tài chính bất hợp pháp.
  • Đẩy mạnh hợp tác quốc tế: Tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ tương trợ tư pháp hình sự với các quốc gia trên thế giới, đặc biệt là với các nước có đường biên giới chung hoặc là nguồn cung ma túy lớn.
  • Cải cách chính sách hình sự: Tiếp tục nghiên cứu và có sự phân hóa rõ ràng hơn trong việc xử lý các đối tượng trong đường dây tội phạm ma túy, đảm bảo trừng trị thích đáng đối tượng chủ mưu, cầm đầu, trong khi vẫn có chính sách nhân văn đối với những người bị lợi dụng.

Kết luận 

Nghiên cứu về Tội mua bán trái phép chất ma túy tại Việt Nam cho thấy một bức tranh phức tạp và không ngừng thay đổi. Sự phân định tội danh dựa trên "mục đích" là yếu tố cốt lõi nhưng cũng là thách thức lớn nhất trong thực tiễn xét xử, đặc biệt khi các đối tượng phạm tội sử dụng các thủ đoạn tinh vi, công nghệ cao để che giấu hành vi. Việc sử dụng giao dịch trực tuyến và tiền mã hóa đã tạo ra một khoảng trống pháp lý, gây khó khăn cho các cơ quan tố tụng trong việc thu thập chứng cứ và truy vết tội phạm. Tuy nhiên, với sự nghiêm minh của pháp luật, thể hiện qua các bản án tử hình đối với các vụ án đặc biệt nghiêm trọng, cùng với cơ chế hợp tác quốc tế hiệu quả, Việt Nam vẫn đang đạt được nhiều thành công trong cuộc chiến chống tội phạm ma túy.