Sự phát triển vũ bão của Cuộc cách mạng Công nghiệp 4.0 và quá trình chuyển đổi số quốc gia đã làm thay đổi sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội. Tuy nhiên, đi kèm với những lợi ích to lớn về kinh tế và xã hội, tội phạm công nghệ cao cũng gia tăng nhanh chóng về quy mô, độ phức tạp, và tính nguy hiểm. Đối tượng tấn công không chỉ dừng lại ở cá nhân mà đã mở rộng sang các hệ thống tài chính, cơ sở hạ tầng thông tin trọng yếu quốc gia, gây thiệt hại kinh tế hàng tỷ đồng và đe dọa trực tiếp đến an ninh quốc gia. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng và hoàn thiện một khung pháp lý hình sự vững chắc là nhiệm vụ cấp thiết.

1. Tội phạm công nghệ cao là gì?

Theo Nghị định 25/2014/NĐ-CP quy định về phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật khác có sử dụng công nghệ cao. Theo đó, tội phạm có sử dụng công nghệ cao là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Chương XXI Bộ luật Hình sự có sử dụng công nghệ cao. Tội phạm công nghệ cao là loại tội phạm sử dụng internet, mạng viễn thông, mạng máy tính và các thiết bị số để thực hiện hành vi phạm tội gây ảnh hưởng và thiệt hại đến người dùng, thực hiện các hành vi lừa đảo gây ra các mối đe dọa,...

Tội phạm công nghệ cao là tội phạm sử dụng tri thức, kỹ năng, kiến thức, công cụ và phương tiện công nghệ thông tin để tác động đến các thông tin, dữ liệu, tín hiệu được lưu trữ, xử lý, truyền tải trong hệ thống mạng máy tính, xâm phạm đến trạt tự an toàn thông tin, gây tổn thất đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức. Tội phạm công nghệ cao thuộc nhóm tội phạm hình sự.

>> Xem thêm: Dấu hiệu cấu thành tội phạm công nghệ cao

2. Đặc điểm của tội phạm công nghệ cao

Xã hội ngày càng phát triển, đặc biệt là hệ thống công nghệ thông tin, vì thế tội phạm công nghệ cao ngày càng nhiều và lộng hành hơn. Tương tự tội phạm truyền thống thì tội phạm công nghệ cao cũng thực hiện các hành vi phạm tội vi phạm pháp luật nhằm mục đích tư lợi cá nhân. Tuy nhiên, tội phạm công nghệ cao phạm tội bằng các cách tinh vi hơn tội phạm truyền thống, thực hiện hành vi phạm tội bằng các công cụ, kĩ thuật hiện đại và tiên tiến phát triển hơn; thiết bị công nghệ và hệ thống mạng. Người dùng internet chỉ cần sử hở một chút là có thể bị đánh cắp dữ liệu cá nhân, thông tin hay thậm chí là mất tiền,... Tội phạm công nghệ cao có những đặc điểm nổi bật sau:

Thứ nhất, tội phạm công nghệ cao xâm phạm vào trật tự an ninh an toàn thông tin, gây ra các tổn thất, tổn hại cho lợi ích Nhà nước, quyền và các lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Khách thể của tội phạm công nghệ cao là trật tự an toàn thông tin. Và trật tự an toàn thông tin là các quy tắc đảm bảo an toàn thông tin và những quy tắc liên quan đến trật tự pháp luật trong khai thác sử dụng thông tin. Những hành vi vi phạm tội sử dụng công nghệ cao tác động đến tính bảo mật của hệ thống máy tính, tính toàn vẹn và tính khả dụng của thông tin. 

Thứ hai, tội phạm công nghệ cao có những hành vi được xác định là tội phạm quy định tại Bộ luật Hình sự. Hành vi xâm phạm đến trật tự an toàn thông tin gây tổn hại cho xã hội là hành vi của tội phạm công nghệ cao.

Thứ ba, tội phạm sử dụng tri thức, kỹ năng, công cụ và phương tiện công nghệ thông tin trình độ cao. Tội phạm công nghệ cao có các hành vi truy cập bất hợp pháp; cản trở bất hợp pháp việc truyền tải dữ liệu máy tính; can thiệp trái phép vào dữ liệu, hệ thống cá nhân; sử dụng trái phép thiết bị, gian lận, vi phạm liên quan đến máy tính,...

Thứ tư, chủ thể của tội phạm công nghệ cao là những cá nhận có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, tuy nhiên, chủ thể trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội là những người có kiến thức, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin với trình độ cao để trực tiếp khai thác, sử dụng các công cụ, phương tiện, máy móc hiện đại.

3. Mục đích của tội phạm công nghệ cao

Khác với tội phạm truyền thống, tội phạm công nghệ cao thực hiện hành vi phạm tội với mục đích rõ ràng, vụ lợi cho bản thân:

- Lấy cắp dữ liệu cá nhân, tổ chức trên các thiết bị công nghệ cao nhằm thực hiện hành vi phạm tội. các thông tin dữ liệu có tính bảo mật bị xâm phạm, ảnh hưởng đến cá nhân tố chức, quyền và lợi ích hợp pháp của những người liên quan.

- Đánh cắp thông tin cá nhân, tài khaonr thẻ ngân hàng của cá nhân khác để rút tiền, thanh toán dịch vụ,... nhằm mục đích hưởng lợi bất chính từ hành vi phạm tội. Và hiện nay, việc lấy cắp tiền thông qua hành vi này xảy ra rất phổ biến, các lợi ích vật chất bị tội phạm tìm kiếm và xâm phạm trực tiếp.

- Hành vi lừa đảo thông qua việc bán hàng trên mạng. người dùng thường sẽ không cảnh giác sẽ bị mất tiền hay thông tin cá nhân. Nhóm tội phạm công nghệ cao chiếm đoạt tài sản thông qua hoạt động thương điện tử: Các đối tượng phạm tội sẽ mở tài khoản trang cá nhân bán hàng online, đặt hàng, sau đó quảng cáo, rao bán các mặt hàng và yêu cầu chuyển tiền đặt cọc trước khi giao hàng. Sau khi nhận cọc hay được chuyển khoản trước để đặt mua hàng thì tội phạm không giao hàng hoặc giao hàng giả, hàng kém chất lượng, chúng thường khóa trang cá nhân hoặc xóa không để lại dấu vết, bỏ số điện thoại và chiếm đoạt tài sản của người bị hại.

- Tấn công email cá nhân hay tổ chức để chiếm đoạt tài sản, cụ thể như tấn công hộp thư điện tử, thay đổi nội dung thư, nội dung các giao dịch, hợp đồng để chiếm đoạt tài sản.

- Truy cập trái phép mạng viễn thông để ăn cắp cước viễn thông,...

- Giả mạo cán bộ ngân hàng, cơ quan nhà nước và yêu cầu người bị hại cung cấp mật khẩu, mã pin hoặc thông tin thẻ để xử lý sự cố nhưng thực chất đây là hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản.

Ngoài ra, tội phạm công nghệ cao còn sử dụng rất nhiều các chiêu thức khác nhau và ngày càng tinh vi hơn để thực hiện hành vi phạm tội nguy hiểm, gây thiệt hại thực tế rất lớn khiến cho các cơ quan chức năng khó có thể phát hiện được để ngăn chặn kịp thời, gây khó khăn đối với cơ quan chức năng trong công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao. Nhằm tránh tình trạng bị lừa đảo thông qua không gian mạng, thì người dân cần nâng cao tính cảnh giác, không tin vào các chiêu trò lừa đảo trên mạng xã hội, không đưa thông tin cá nhân cho bất kì ai hay không đưa thông tin cá nhân lên mạng xã hội,... tránh để các đối tượng phạm tội khai thạc trục lợi, chiếm đoạt tài sản.

4. Phân loại tội phạm công nghệ cao

Căn cứ vào Bộ luật Hình sự quy định về tội phạm trong lĩnh vực công nghệ thông tin mạng viễn thông. Các loại tội phạm công nghệ cao được chia thành các nhóm sau:

4.1. Phân loại dựa trên vai trò của công nghệ trong việc thực hiện hành vi phạm tội

Tội phạm công nghệ cao thuần túy: nhóm tội phạm gây tổn hại tính bảo mật, tính toàn vẹn và tính khả dụng của hệ thống máy tính chính là nhóm tội phạm sử dụng công nghệ cao thuần túy xâm phạm trật tự an toàn thông tin gồm:

- Điều 285. Tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho các công cụ, thiết bị để sử dụng vào mục đích trái pháp luật;

- Điều 286. Tội phát tán các chương tình tin học gây hại cho hoạt động của máy tính, mạng viễn thông, các phương tiện điện tử;

- Điều 287. Tội cản trở, gây rối loạn các hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông các phương tiện điện tử;

- Điều 288. Tội đưa, sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông;

- Điều 289. Tội xâm phạm trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc các phương tiện điện tử của người khác.

Tội phạm truyền thống có sử dụng công nghệ cao: Tội phạm sử dụng máy tính, thiết bị số, mạng máy tính, mạng viễn thông làm công cụ, phương tiện phạm tội gồm các 'tội phạm truyền thống" nhưng được thực hiện với cấc thủ đoạn tinh vi hơn đó là sử dụng công nghệ thông tin để thực hiện hành vi phạm tội. Chẳng hạn như Tội phạm sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản theo Điều 290 BLHS. Sử dụng thông tin cá nhân, thẻ ngân hàng của các cá nhân, tổ chức hoặc làm giả thẻ ngân hàng để nhằm mục đích vụ lợi chiếm đoạt tài sản của chủ thể hoặc thanh toán hóa đơn, dịch vụ. Lừa đảo trong thương mại điện tử, kinh doanh tiền tệ, huy động vốn mua bán thanh toán cổ phiếu qua mạng; truy cập bất hợp pháp vào tài khoản của cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiện chiếm đoạt, lừa đảo tài sản.

4.2. Phân loại theo mục đích và khách thể xâm phạm

Nhóm 1: Xâm phạm An toàn thông tin: Nhóm này có mục tiêu là hệ thống hoặc các dữ liệu. Các hành vi bao gồm xâm nhập trái phép, đánh cắp hoặc hủy hoại dữ liệu.

Nhóm 2: Chiếm đoạt tài sản: mục tiêu là tiền hoặc lợi ích vật chất. Các hành vi phổ biến là lừa đảo qua mạng xã hội, email hoặc sử dụng mạng máy tính chiếm đoạt tài sản 

Nhóm 3: Vi phạm khác: Bao gồm các hành vi như tổ chức đánh bạc, cá độ trực tuyến, sản xuất, mua bán công cụ/phần mềm phạm pháp

5. Chế tài xử phạt đối với tội phạm sử dụng công nghệ cao

Pháp luật có đưa ra hình phạt đối với hành vi phạm tội của tội phạm công nghệ cao. Căn cứ vào các văn bản pháp lý hiện hành đối với việc phòng, chống và xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao như Chương XXI BLHS 2015; Luật An ninh mạng 2018; Nghị định 15/2020/NĐ-CP có thể thấy tùy thuộc vào mức độ nguy hiểm của hành vi, mức độ nghiêm trọng của hậu quả để xét khung pháp lý, nhẹ nhất là từ phạt hành chính từ 20.000.000 vnđ đến 500.000.000 vnđ, nặng hơn thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự như phạt cải tạo từ 01 năm đến 05 năm.

Tội phạm công nghệ cao đã và đang là mối đe dọa đa chiều đối với an ninh và kinh tế tại xã hội Việt Nam. Tuy đã có các quy định pháp lý để làm cơ sở nhưng đối mặt với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội và công nghệ thì pháp luật phòng chống và chế tài xử lý tội phạm xử dụng công nghệ cao còn phải cập nhật và thay đổi cho phù hợp hơn.

Tội phạm công nghệ cao mang những đặc điểm tội phạm học vượt trội so với tội phạm truyền thống. Chủ thể phạm tội thường thể hiện Tính chuyên nghiệp và trí tuệ cao, có khả năng che giấu danh tính thông qua việc sử dụng các công nghệ ẩn danh và không hạn chế về phạm vi. Chính vì vậy việc phòng chống và xử phật tội phạm công nghệ cao còn gặp nhiều thách thức, pháp luật vẫn đang trong quá trình hoàn thiện nhưng phần nào đã đảm bảo được những bước đầu trong công tác này.

Trong trường hợp còn băn khoăn chưa rõ về nội dung trong bài viết, mời quý khách liên hệ về tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162 hoặc gửi email để nhận sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.