Những sai phạm này không chỉ gây thiệt hại nghiêm trọng về tài sản cho Nhà nước và người dân mà còn làm suy giảm lòng tin của công chúng, dẫn đến các vụ khiếu kiện kéo dài và gây bất ổn xã hội. Trong bối cảnh đó, tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định tại Điều 230 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và năm 2025 là một công cụ pháp lý quan trọng để xử lý các hành vi sai phạm.

Trong bài viết này, Luật Minh Khuê đi sâu phân tích một cách toàn diện, từ cơ sở lý luận đến thực tiễn áp dụng, nhằm cung cấp một cái nhìn đa chiều về tội danh này. Đồng thời sẽ làm rõ các yếu tố cấu thành tội phạm, so sánh những thay đổi chính sách pháp luật qua các thời kỳ, tổng hợp các dạng vi phạm điển hình từ thực tiễn và đưa ra những câu hỏi nghiên cứu chuyên sâu, có giá trị học thuật và thực tiễn cao.

Nội dung Điều 230 Bội luật hình sự năm 2015 quy định về tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất như sau:

Điều 230. Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong những hành vi sau đây, gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Vi phạm quy định của pháp luật về bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư;

b) Vi phạm quy định của pháp luật về bồi thường về tài sản, về sản xuất kinh doanh.

2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm:

a) Vì vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác;

b) Có tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt;

d) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

đ) Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.

3. Phạm tội gây thiệt hại 1.000.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

 

1. Cấu thành tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Khái niệm bồi thường thiệt hại do thu hồi đất được hiểu là quyền của chủ thể đang sử dụng đất bị thu hồi nhằm bù đắp thiệt hại về vật chất cho người sử dụng đất trong trường hợp bị thu hổi đất để chuyển sang sử dụng vào mục đích khác hoặc vì nhu cầu của nhà nước và xã hội.

Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được cấu thành bởi 04 yếu tố sau:

1.1 Chủ thể của tội phạm

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt. Chỉ những người có chức vụ, quyền hạn trong việc bồi thường, hỗ trợ tái định cư mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

Người có chức vụ là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một nhiệm vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ, nhiệm vụ. Người có quyền hạn có thể là người có hoặc không có chức vụ, nhưng được giao cho quyền hạn nhất định về lĩnh vực đó.

Người có chức vụ, quyền hạn, phải là người có trách nhiệm trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, nếu họ không có trách nhiệm trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì cũng không thể là chủ thể của tội này được. Đây là điều kiện cần và đủ để một người có thể trở thành chủ thể của tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Ngoài ra, chủ thể của tội phạm cũng phại là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự. Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều nhưng không có điều nào thuộc Chương XVIII Bộ luật hình sự. Như vậy chủ thể của tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân thực hiện tội phạm một mình nhưng cũng có thể là nhiều người cùng thực hiện tội phạm. Trường hợp nhiều người thực hiện cùng một tội phạm được quy định theo Điều 17 Bộ luật Hình sự về đồng phạm: "Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm."

1.2. Mặt khách quan của tội phạm

Hành vi khách quan: Hành vi khách quan của tội phạm là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là trường hợp người phạm tội có chức vụ, quyền hạn và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn có thể thực hiện một trong các hành vi như sau:

  • Vi phạm quy định của pháp luật về bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư;
  • Vi phạm quy định của pháp luật về bồi thường về tài sản, về sản xuất kinh doanh.

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi hậu quả vi phạm quy định quản lý đất đai thuộc một trong những trường hợp sau:

  • Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên
  • Dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm

Trường hợp hậu quả chưa đạt đến mức nghiêm trọng theo quy định trên, người thực hiện hành vi khách quan tuy không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vẫn phải chịu xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 91/2019/NĐ-CP ngày 19 tháng 11 năm 2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

1.3. Mặt khách thể

Về mặt khách thể, tội phạm này không chỉ xâm phạm trật tự quản lý kinh tế mà còn trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, ảnh hưởng đến chính sách đất đai của Nhà nước. Đối tượng tác động của tội phạm là quyền lợi của người dân khi bị thu hồi đất. Chủ thể của tội phạm là chủ thể đặc biệt, là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai hoặc các tổ chức liên quan trực tiếp đến công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, ví dụ như cán bộ địa chính hay trưởng ban giải phóng mặt bằng.

1.4. Mặt chủ quan

Về mặt chủ quan, tội phạm này được thực hiện với lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, có thể gây thiệt hại nhưng vẫn cố ý thực hiện. Tùy thuộc vào mức độ thiệt hại và các tình tiết định khung tăng nặng khác, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 1 năm đến 20 năm. Các tình tiết tăng nặng bao gồm thiệt hại từ 300 triệu đồng trở lên, có tổ chức, dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, và đặc biệt là tình tiết "vì vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác".

 

2. Hình phạt tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

Điều 230 BLHS 2015, sửa đổi 2017 quy định ba khung hình phạt chính (01 khung hình phạt bổ sung), tương ứng với mức độ thiệt hại về tài sản:

  • Khung 1 (Khoản 1): Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Áp dụng đối với hành vi gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng, hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm.  
  • Khung 2 (Khoản 2): Phạt tù từ 03 năm đến 12 năm. Áp dụng đối với hành vi gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng hoặc thuộc một trong các trường hợp tăng nặng khác.  
  • Khung 3 (Khoản 3): Phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Áp dụng đối với hành vi gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên.  
  • Khung 4 (khoản 4): Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Bảng dưới đây tóm tắt các khung hình phạt chính và bổ sung của tội danh này:

Khung Hình Phạt Mức Thiệt Hại và Các Tình Tiết Định Khung Hình Phạt Chính Hình Phạt Bổ Sung
Khoản 1 Thiệt hại từ 100.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng. Hoặc dưới 100.000.000 đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm. Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm. Cấm đảm nhiệm chức vụ, làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm; Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Khoản 2 Thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng. Hoặc vì vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác; Có tổ chức; Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt; Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Phạt tù từ 03 năm đến 12 năm. Cấm đảm nhiệm chức vụ, làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm; Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.
Khoản 3 Thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên. Phạt tù từ 10 năm đến 20 năm. Cấm đảm nhiệm chức vụ, làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm; Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Ngoài các hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung, bao gồm:

  • Cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.  
  • Tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.  

2.1. Tình tiết định khung tăng nặng 

Ngoài mức thiệt hại về tài sản, các tình tiết sau đây cũng làm tăng tính chất nghiêm trọng của tội phạm, dẫn đến việc áp dụng khung hình phạt cao hơn:

  • Vì vụ lợi hoặc vì động cơ cá nhân khác.  
  • Có tổ chức.  
  • Dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt.  
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.  
  • Gây thiệt hại từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng.
  • Gây thiệt hại từ 1.000.000.000 đồng trở lên.

Việc quy định tình tiết "gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội" cho thấy rằng bản chất của tội danh này không chỉ dừng lại ở hậu quả kinh tế mà còn bao gồm cả hậu quả phi vật chất, ảnh hưởng đến sự ổn định xã hội. Hành vi vi phạm có thể gây ra bất bình, khiếu kiện tập thể, làm suy giảm lòng tin của người dân vào chính quyền, và đây là một yếu tố nghiêm trọng được pháp luật hình sự xem xét.  

2.2. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự

Tình tiết giảm nhẹ là những yếu tố làm giảm tính chất nguy hiểm của tội phạm, không thuộc cấu thành tội phạm nhưng được Tòa án xem xét khi quyết định hình phạt. Theo Điều 51 Bộ luật Hình sự, một số tình tiết giảm nhẹ bao gồm:

  • Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả.
  • Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
  • Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.
  • Tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm.
  • Đã lập công chuộc tội.

Ngoài ra, việc người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của họ xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cũng có thể được xem xét nếu vụ án chỉ gây thiệt hại về sức khỏe hoặc tài sản.

2.3. Các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự

Đây là những trường hợp mà một hành vi có dấu hiệu của tội phạm nhưng người thực hiện không phải chịu trách nhiệm hình sự do không thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm. Một số trường hợp được Bộ luật Hình sự quy định bao gồm:

  • Sự kiện bất ngờ: Người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả đó.
  • Tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự: Người thực hiện hành vi nguy hiểm khi mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi của mình.
  • Phòng vệ chính đáng: Hành vi chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các quyền, lợi ích chính đáng của bản thân, người khác, Nhà nước, hoặc cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, nếu vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.
  • Tình thế cấp thiết: Gây thiệt hại nhỏ hơn để ngăn ngừa một thiệt hại lớn hơn. Nếu thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết, người đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

 

3. So sánh với tội danh tương tự dễ nhầm lẫn

 Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 230) thường dễ bị nhầm lẫn với một số tội danh về tham nhũng và chức vụ khác, đặc biệt là Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355 BLHS) và Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356 BLHS).

Tiêu chí

Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (Điều 230 BLHS)

Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản (Điều 355 BLHS)

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ (Điều 356 BLHS)

Khách thể

Trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là các quy định về bồi thường đất.

Hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước và quan hệ sở hữu.

Hoạt động đúng đắn của cơ quan nhà nước.

Chủ thể

Chủ thể đặc biệt: người có chức vụ, quyền hạn trong việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Chủ thể đặc biệt: người có chức vụ, quyền hạn.

Chủ thể đặc biệt: người có chức vụ, quyền hạn.

Mặt khách quan (Hành vi)

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vi phạm các quy định pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Sử dụng chức vụ, quyền hạn làm phương tiện để chiếm đoạt tài sản.

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm trái công vụ gây thiệt hại.

Mặt chủ quan (Lỗi, mục đích)

Lỗi cố ý. Mục đích vụ lợi là tình tiết định khung tăng nặng, không bắt buộc.

Lỗi cố ý. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu cấu thành bắt buộc.

Lỗi cố ý. Mục đích không phải là dấu hiệu cấu thành bắt buộc.

Hậu quả

Cấu thành vật chất. Hậu quả bắt buộc là thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng trở lên.

Cấu thành vật chất. Hậu quả bắt buộc là thiệt hại về tài sản từ 2.000.000 đồng trở lên.

Cấu thành hình thức. Hậu quả "gây hậu quả nghiêm trọng" là dấu hiệu định khung.

Ý nghĩa của sự phân biệt

Là tội danh chuyên biệt, giúp xử lý chính xác các sai phạm trong lĩnh vực quản lý đất đai.

Là tội danh chung, liên quan đến hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác.

Là tội danh chung, áp dụng khi hậu quả không nhất thiết là thiệt hại về tài sản mà là các hậu quả nghiêm trọng khác.

So sánh chi tiết cho thấy điểm khác biệt mấu chốt nằm ở mục đíchhành vi. Tội danh tại Điều 355 BLHS có mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc, trong khi đối với tội danh tại Điều 230, mục đích "vì vụ lợi" chỉ là một tình tiết làm tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Sự phân biệt rõ ràng giữa các tội danh này là rất quan trọng trong thực tiễn tố tụng. Việc định tội danh không chính xác có thể dẫn đến việc áp dụng sai khung hình phạt, gây ra sai lầm trong xét xử và làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật.

 

4.  Phân tích thực tiễn áp dụng và các dạng vi phạm điển hình

4.1. Phân tích các bản án hình sự liên quan đến Điều 230 BLHS

Thực tiễn xét xử tội danh này cho thấy tính phức tạp và nhạy cảm của các vụ án liên quan đến đất đai. Các bản án được công bố cung cấp một cái nhìn tổng quan về việc áp dụng pháp luật, mặc dù thông tin chi tiết về hành vi và cách tính toán thiệt hại thường không được công khai đầy đủ. Mặc dù đã có các quy định pháp luật tương đối đầy đủ, việc áp dụng Điều 230 BLHS trong thực tiễn vẫn gặp nhiều vướng mắc, đặc biệt trong các giai đoạn điều tra, truy tố, và xét xử.

  • Vướng mắc trong việc xác định thiệt hại: Việc xác định chính xác giá trị thiệt hại là một thách thức lớn. Giá đất biến động liên tục theo thị trường, việc xác định giá tại thời điểm xảy ra hành vi phạm tội (hoặc thời điểm kết thúc hành vi) thường gặp phải sự thiếu thống nhất và cơ sở dữ liệu không đầy đủ.
  • Vướng mắc trong xác định nguồn gốc đất: Nhiều vụ án liên quan đến việc làm giả hồ sơ, xác nhận sai nguồn gốc đất để được hưởng bồi thường sai quy định. Việc xác minh lại nguồn gốc đất, đặc biệt là với các hồ sơ cũ, không rõ ràng, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức.
  • Ranh giới giữa các tội danh: Ranh giới giữa Tội vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư (Điều 230) và các tội danh khác như "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng" (Điều 360) đôi khi rất mong manh. Trong vụ án tại Sóc Sơn, Hà Nội, cựu Phó Chủ tịch xã Trần Quốc Tuấn bị truy tố về tội Thiếu trách nhiệm vì tin tưởng cấp dưới mà không kiểm tra lại hồ sơ, trong khi người trực tiếp làm sai hồ sơ là cựu cán bộ địa chính Nguyễn Văn Thắng lại bị truy tố về tội Vi phạm quy định về bồi thường....
  • Thiếu thống nhất trong xét xử: Một số vụ án lớn liên quan đến sai phạm trong đền bù giải phóng mặt bằng, như vụ án thủy điện Sơn La, có thể được xét xử theo các tội danh cũ như "Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế" (Điều 165 BLHS 1999) do hành vi diễn ra trước khi Điều 230 BLHS 2015 có hiệu lực. Điều này cho thấy sự phức tạp trong việc áp dụng pháp luật hình sự đối với các hành vi sai phạm liên quan đến đất đai và yêu cầu sự thống nhất trong nhận thức pháp lý giữa các cấp xét xử.

Những thông tin này cho thấy việc xét xử các vụ án vi phạm Điều 230 có thể gặp phải sự thiếu nhất quán, và việc xác định mức thiệt hại cũng như hành vi vi phạm đòi hỏi sự thẩm định kỹ lưỡng của cơ quan tố tụng. Sự thiếu vắng các án lệ chính thức về tội danh này, như được ghi nhận trong các bản án công bố, khiến việc phân tích chuyên sâu trở nên khó khăn và làm giảm tính dự đoán của pháp luật. Điều này cho thấy rằng thực tiễn xét xử vẫn đang trong quá trình định hình, và mỗi vụ việc đều có những đặc thù riêng cần được xem xét cẩn trọng.

4.2. Hậu quả và tác động toàn diện tội phạm

Hậu quả của hành vi vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư là rất nghiêm trọng và đa chiều. Về mặt pháp lý, người vi phạm phải đối mặt với các khung hình phạt nghiêm khắc được quy định tại Điều 230 BLHS, bao gồm cả hình phạt bổ sung như cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc tịch thu tài sản.

Về hậu quả kinh tế, các sai phạm gây ra thiệt hại kép. Đối với Nhà nước, ngân sách bị thất thoát thông qua các khoản chi trả sai quy định. Đối với người dân, họ phải chấp nhận bồi thường với giá không thỏa đáng, mất đi tư liệu sản xuất và nơi ở, gây ra khó khăn lớn trong việc ổn định cuộc sống sau thu hồi đất.

Hậu quả xã hội là mối lo ngại lớn nhất. Sự thiếu công khai, minh bạch trong quy trình và việc xác định giá bồi thường thấp là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài và phức tạp. Các xung đột này làm xói mòn lòng tin của người dân vào chính sách của Nhà nước và có thể gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

Những hành vi vi phạm này có mối liên hệ mật thiết với các hiện tượng tiêu cực như tham nhũng và lạm quyền. Hành vi "lợi dụng chức vụ, quyền hạn" để vi phạm các quy định về bồi thường đất chính là một dạng biểu hiện của tội phạm tham nhũng. Các báo cáo thanh tra và kiểm toán đã chỉ ra các hành vi "trục lợi chính sách" và "xác định sai đối tượng" , cho thấy có sự móc nối giữa các cá nhân có quyền hạn để chiếm đoạt tài sản. Mặc dù ranh giới giữa tội phạm quản lý kinh tế và tội phạm tham nhũng đôi khi còn mờ nhạt, nhưng các hành vi vi phạm Điều 230 BLHS thường là một phần của một chuỗi hành vi tiêu cực có mục đích tư lợi. Việc khó khăn trong việc chứng minh yếu tố "vụ lợi" trong nhiều vụ án đã dẫn đến việc các cơ quan tố tụng phải chuyển hướng sang xử lý theo các tội danh khác , điều này cho thấy sự cần thiết phải hoàn thiện cơ chế pháp lý để xử lý triệt để các hành vi tham nhũng trong lĩnh vực đất đai.

Kết luận

Sự ra đời của Luật Đất đai 2024 với các quy định mới là một nỗ lực đáng ghi nhận của Nhà nước nhằm hoàn thiện hành lang pháp lý, khắc phục các bất cập đã tồn tại trong thực tiễn. Các quy định về bồi thường bằng đất, hỗ trợ đa dạng hơn và đảm bảo tái định cư trước khi thu hồi là những bước đi chiến lược, trực tiếp giải quyết các nguyên nhân cốt lõi của các vụ khiếu kiện. Tuy nhiên, việc thực thi các quy định mới này một cách hiệu quả vẫn là một thách thức lớn. Do đó, các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung làm rõ các vấn đề còn bỏ ngỏ như cách xác định yếu tố "vụ lợi", tác động của chính sách mới và các giải pháp tăng cường giám sát ở cấp cơ sở. Chỉ khi hành lang pháp lý được hoàn thiện và việc thực thi được siết chặt, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân mới được bảo vệ, và công tác quản lý đất đai mới thực sự đạt được sự công bằng và minh bạch.