Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi thắc mắc đến công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào thông tin bạn cung cấp xin tư vấn cho bạn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

Bộ luật dân sự 2005

2. Nội dung tư vấn:

Hợp đồng vay tài sản được quy định trong bộ luật dân sự 2005 như sau:

" Điều 471. Hợp đồng vay tài sản

Hợp đồng vay tài sản là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định."

Hiện tại thì chưa có quy định bắt buộc việc cho vay tài sản phải lập thành văn bản, hay có công chứng, chứng thực, do đó đối với hợp đồng vay nợ giữa cá nhân với cá nhân thì không nhất thiết phải lập thành văn bản. Tuy nhiên nếu sau này có tranh chấp xảy ra thì khi muốn khởi kiện bên khởi kiện vẫn phải cung cấp được chứng cứ chứng minh được mình có quyền khởi kiện. Do đó để đảm bảo quyền lợi của mình thì bạn nên giao kết một hợp đồng vay nợ hoặc ghi âm lại vấn đề này.

Về hợp đồng vay nợ thì có các loại hợp đồng sau:

>> Xem thêm:  Thế nào là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ? Hình phạt hành vi chiếm đoạt tài sản

" Điều 477. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác.

2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.

Điều 478. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý.

2. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản trước kỳ hạn, nhưng phải trả toàn bộ lãi theo kỳ hạn, nếu không có thoả thuận khác."

Ngoài ra về phần lãi suất thì các bên cho vay nên cân nhắc về vấn đề này, mức lãi suất tối đa được quy định như sau:

" Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ."

>> Xem thêm:  Không có giấy vay tiền có khởi kiện đòi nợ được không ? Con nợ bỏ trốn có đòi được không ?

Lãi suất cơ bản do ngân hàng nhà nước công bố hiện tại như sau: tại Điều 1 Quyết định 2868/QĐ-NHNN quy định mức lãi suất cơ bản bằng đồng Việt Nam là 9,0%/năm . Như vậy, lãi suất do các bên thỏa thuận sẽ không được vượt quá: 9% x 150% = 13,5%/năm và lãi suất cho vay tối đa trung bình một tháng sẽ là: 13,5 : 12 = 1,125%/tháng. 

công ty tôi đứng tên vay ngân hàng cho một người không thuộc công ty. Người đó lại mượn bìa của một người khác để vay. Hiện tại đã quá hạn trả mà người vay không có khả năng chi trả. các ngân hàng đã khóa không cho công ty tôi vay tiền và gửi giấy về để chúng tôi trả nợ. Nhưng công ty không phải người vay chính thức. Người cho mượn bìa đất không muốn mất miếng đất. Xin hỏi luật sư, Giờ chúng tôi phải làm gì để công ty tránh không phải trả tiền vay?

 Công ty bạn không phải người vay chính thức nhưng trên giấy tờ thì công ty mình lại đứng ra ký kết với tư cách là người vay, do đó trong trường hợp này khi đưa ra pháp luật thì công ty bạn mới là bên vay và phải có trách nhiệm trả nợ cho bên kia.

Việc bạn sử dụng giấy chứng nhận quyền sử đất của người khác để thế chấp là không đúng theo quy dịnh của pháp luật hiện tại:

Nghị định 11/2012/NĐ-CP quyđịnh về tài sản bảo đảm như sau:

" Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm như sau:

1. Sửa đổi khoản 1 và khoản 9 Điều 3 như sau:

“1. Bên bảo đảm là bên dùng tài sản thuộc sở hữu của mình, dùng quyền sử dụng đất của mình, dùng uy tín hoặc cam kết thực hiện công việc đối với bên nhận bảo đảm để bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của chính mình hoặc của người khác, bao gồm bên cầm cố, bên thế chấp, bên đặt cọc, bên ký cược, bên ký quỹ, bên bảo lãnh và tổ chức chính trị - xã hội tại cơ sở trong trường hợp tín chấp.”

“9. Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch.”

Theo đó nếu như hợp đồng vay này mà giao kết từ ngày 10/4/2012 ngày nghị định trên có hiệu lực thì việc sử dụng đất của ngưởi khác để thế chấp là không đúng. Còn nếu giao kết trước mà được sự đồng ý của ngưởi chủ sử dụng rồi, thì vẫn được chấp nhận, ngân hàng có quyền thanh lý mảnh đất này theo sự thỏa thuận trong hợp đồng.

 bo luat em chào các anh cac chị cho e hỏi e có đứng tên ra vay tiền của ngân hàng dùm cho dì của e số tiền là 27tr d . dì e đã đống được 1 năm rồi . tại tháng này dì e kẹt nên chưa có tiền ra đống bên ngân hàng có gọi điện thoại dì e nói cho xin qua tuần đống nhưng bên ngân hàng bảo k cho và còn nói e cố tình chiếm đoạt tài sản của ngân hàng cố tình làm ảnh hương uy tín của ngân hàng như vậy có đúng k ah ngân hàng còn đòi báo công an như vậy có đúng k nhờ các anh các chị tư vấn dùm e cảm ơn

Trường hợp này là dì bạn không có đủ khả năng trả nợ chứ không phải có hành vi trốn tránh không trả nợ hay có ý định lừa dối ngân hàng từ trước để nhằm giao kết hợp đồng vay này, nên hành vi của mẹ bạn chưa cấu thành trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Mẹ không thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng với lỗi cố ý.

>> Xem thêm:  Bị đòi nợ trước thời hạn trả đã thỏa thuận trong hợp đồng vay xử lý thế nào ?

chào luật sư khuê.tôi muôn hỏi luật sư là.tôi có một số tiền khoảng 10tr cho bạn tui vay .thì tôi có viết giấy như sau .tôi chỉ ghi họ tên ng vay và ky tên rùi tôi lấy dấu vân tay của ng đó như thế đã đủ để lm bằng chứng kiện cáo trước pháp luật chưa ạ mong luật sư khuê giúp đỡ.....

Theo như phân tích ở trên thì hợp đồng vay nợ không nhất thiết phải băng văn bản có công chứng, chứng thực. Do đó trong trường của bạn nếu trong giấy vay nợ có đầy đủ thông tin người cho vay, người vay, số tiền vay, chữ ký của hai bên là được.

luật sư cho em hoi em có vay tiền cua công ty ppf số tiền là 25 triều đồng, mỗi tháng số tiền phai tra là 2.818.000 đ trong 15 tháng như vậy lãi suất đã vượt qua lãi suất quy định cua nhà nước chưa ah

 Số tiền bạn phải trả là 42.270.000 triệu, như vậy tiền lãi là 17.270.000 triệu. Một tháng tiền lãi của bạn là 1.152.000 triệu, quy ra là 4,6%/tháng, theo quy định trên thì mức lãi suất này đã vượt quá mức lãi suất cao nhất mà pháp luật cho phép, tuy nhiên thì chưa đến mức phạm phải tội cho vay nặng lãi theo quy định của bộ luật hình sự như sau:

" Điều 163. Tội cho vay lãi nặng

1. Người nào cho vay với mức lãi suất cao hơn mức lãi suất cao nhất mà pháp luật quy định từ mười lần trở lên có tính chất chuyên bóc lột, thì bị phạt tiền từ một lần đến mười lần số tiền lãi hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến một năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính lớn thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số lợi bất chính, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Vay tiền có giấy viết tay, tin nhắn nợ tiền thì có khởi kiện để đòi nợ được không ?

Trân trọng./.

Bộ phận Luật sư dân sự.

>> Xem thêm:  Thời hạn giải quyết đơn khởi kiện đòi nợ ? Có nên khởi kiện đòi nợ hay không ?