1. Phạm vi của nghĩa vụ đăng ký kinh doanh

Đăng ký kinh doanh là một nghĩa vụ cơ bản của thương nhân, bởi pháp luật cần kiểm soát thương nhân vì lợi ích của cộng đổng. Luật Thương mại 2005 tại Điều 7 qui định: "Thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh theo qui định của phẳp luật".
Những nội dung được yêu cầu phải khai báo khi đăng ký kinh doanh và các tài liệu chứng minh cho các nội dung đó tùy thuộc vào loại thương nhân, doanh nghiệp và ngành nghề kinh doanh. Việc đăng ký kinh doanh được tiên hành tại nhà chức trách đăng ký kinh doanh có thẩm quyền (được phân chia theo địa hạt và loại thương nhân). Việc đăng ký kinh doanh hoàn tâ't được thể hiện bằng việc, nhà chức trách đăng ký kinh doanh có thẩm quyền cấp cho người xin đăng ký một Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Ngoài nghĩa vụ đăng ký kinh doanh khi vào nghề, thương nhân có nghĩa vụ đăng ký tại nhà chức trách đăng ký kinh doanh có thẩm quyêh khi có sự thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh. Thương nhân đăng ký thay đổi được cap lại Giâỳ chứng nhận đăng ký kinh doanh theo nội dung thay đổi. Việc bán doanh nghiệp hay sản nghiệp thương mại, ngừng hay chấm dứt hoạt động kinh doanh vì bâ't kê’ lý do gì cũng phải được đăng ký. Nghĩa vụ đăng ký như vậy cũng được ân định đối với việc lập chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh.
Đối với nhà đầu tư nước ngoài lần đầu đầu tư vào Việt Nam, thì việc đăng ký đê’ thành lập doanh nghiệp phải gắn liền vói dự án đầu tư đã được xác định và thực hiện theo thủ tục đăng ký đầu tư hoặc thẩm tra đầu tư, và sẽ được câp Giâỳ chứng nhận đăng ký đầu tư mà đổng thời được coi là Giây chứng nhận đăng ký kinh doanh .
Trách nhiệm đăng ký kinh doanh của các thương nhân là như thế nào?
>> Luật sư tư vấn pháp luật Doanh nghiệp, gọi: 1900.6162

2. Nhà chức trách có thẩm quyền đăng ký kinh doanh và trình tự đăng ký kinh doanh

2.1 Thương nhân phải đăng ký kinh doanh

Ở nước ta hiện nay, thương nhân phải đăng ký kinh doanh tại các cơ quan đăng ký kinh doanh. Các cơ quan này là các cơ quan hành chính được tô’ chức ở cấp tỉnh và cấp huyện, có thẩm quyền khác nhau. Ở cap tỉnh, cơ quan đăng ký kinh doanh được gọi là Phòng đăng ký kinh doanh câ'p tỉnh thuộc Sở Kế hoạch và Đầu tư có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp. Ở câ'p huyện, cơ quan đăng ký kinh doanh được gọi là Phòng đăng ký kinh doanh câp huyện có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh. Tuy nhiên không phải huyện hay đơn vị hành chính tương đương nào cũng thành lạp Phòng đăng ký kinh doanh mà chỉ thành lập Phòng đăng ký kinh doanh tại đó nêù có số lượng hộ kinh doanh và họp tác xã đăng ký thành lập mới hàng năm trung bình từ 500 trở lên trong hai năm gẩn nhâ't. Nếu huyện hoặc đơn vị hành chính tương đương nào không thành lập Phòng đăng ký kinh doanh, thì Phòng Tài chính - Kê' hoạch thực hiện công việc đăng ký kinh doanh. Tại các khu kinh tế do Thủ tướng quyết định thành lập, có thể thành lập Phòng đăng ký kinh doanh bởi sự thống nhâ't giữa ủy ban nhân dân cap tỉnh và Ban quản lý khu kinh tế đó.

2.2 Trình tự đăng ký kinh doanh

Trình tự đăng ký kinh doanh ở nước ta hiện nay theo ba bước: Nộp hồ sơ, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, và cấp giây chứng nhận đăng ký kinh doanh. Hồ sơ phải nộp tại nhà chức trách đăng ký kinh doanh có thẩm quyền. Yêu cầu về hồ sơ đăng ký kinh doanh có khác nhau giữa các hình thức kinh doanh (như hộ kinh doanh, doanh nghiệp tư nhân, công ty họp danh, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn). Có hai loại yêu cầu về hồ sơ đăng ký kinh doanh nói chung. Thứ nhất, yêu cầu thông thường là yêu cầu đáp ứng các tài liệu chung cần thiết, bao gổm: Giâỳ đề nghị đăng ký kinh doanh theo mẫu do pháp luật qui định; giây tờ chứng minh nhân thân của thương nhân thể nhân; Điểu lệ dự thảo (nếu là công ty); danh sách thành viên và các giây tờ chứng minh nhân thân của từng người hoặc chứng minh tính họp pháp của tổ chức (là thành viên) cùng giâỳ ủy quyền, cũng như các giây tờ chứng minh nhân thân người đại diện theo ủy quyền của tố chức đó (nêu là công ty). Thứ hai, yêu cầu đặc biệt là yêu cầu riêng cho trường hợp đăng ký kinh doanh những ngành nghề có qui định về vôn pháp định và những ngành nghề mà theo qui định của pháp luật thành viên, người điều hành hay nhân viên khác của công ty phải có chứng chỉ hành nghề. Vậy trong hổ sơ tùy từng trường hợp cần có thêm văn bản xác nhận vốn pháp định và/ hoặc chứng chỉ hành nghề. Cơ quan đăng ký kinh doanh phải xem xét và chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký kinh doanh. Trong thời hạn mười ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hổ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh phải cap Giây chứng nhận đăng ký kinh doanh khi thương nhân hội đủ các điều kiện câ'p Giây chứng nhận đăng ký kinh doanh. Việc từ chối câp Giâỳ chứng nhận đăng ký kinh doanh phải thông báo bằng văn bản cho người xin đăng ký, đổng thời phải nêu rõ lý do từ chối và các yêu cầu sửa đổi, bổ sung hổ sơ đẵng ký kinh doanh. Điều kiện cap Giây chứng nhận đăng ký kinh doanh bao gồm: (1) Ngành nghề đăng ký kinh doanh không bị câm; (2) tên của thương nhân được đặt theo đúng qui định của pháp luật; (3) .có trụ sở chính trế n lãnh thổ Việt Nam và tại địa chỉ xác định; (4) có hồ sơ đăng ký kinh doanh hợp lệ; và (5) đã nộp đủ lệ phí đăng ký kinh doanh
Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh bao gổm các nội dung liên quan tới tên và cư sở của thương nhân, ngành nghề kinh doanh, vôn đầu tư, vôh pháp định (nếu có yêu cầu) thành viên hoặc cố đông sáng lập, người đại diện theo pháp luật (nêù là thương nhân pháp nhân), tên và địa chỉ của chi nhánh, của văn phòng đại diện, của địa điểm kinh doanh. Điều đáng quan tâm là có sự giống nhau gần như hoàn toàn giữa "Giâỳ chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty hợp danh" với "Giây chứng nhân đăng ký kinh doanh công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên" và "Giâỳ chứng nhận đăng ký kinh doanh công ty cổ phần", kể cả nội dung về người đại diện theo pháp luật của các công ty này, trọng khi Luật Doanh nghiệp 2020 qui định thành viên hợp danh có quyền nhân danh công ty tiền hành các hoạt động kinh doanh các ngành nghề đã đăng ký, đàm phán ký kê't hợp đổng, thỏa thuận hoặc giao ước VỚỊ nhũng điểu kiện mà thành viên hợp danh đó cho là có lợi nhâ't cho công ty
Mỗi doanh nghiệp được đăng ký kinh doanh có một mã số. Đó là mã sô' duy nhất được ghi trên Giâỳ chứng nhận đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế. Mã số doanh nghiệp đồng thời là mã sô' thuê'của doanh nghiệp. Trong suốt quá trình hoạt động từ khi đăng ký thành lập cho đến khi không còn tồn tại, mã sô' doanh nghiệp được dùng để kê khai nộp thuê' cho tâ't cả các loại thuê' phải nộp, kể cả trường hợp (loanh nghiệp kinh doanh nhiều ngành, nghề khác nhau hoặc hoạt động sản xuất kinh doanh tại các địa bàn khác nhau.
Định kỳ hàng tháng Phòng đăng ký kinh doanh câp tinh phải gửi các thông tin chi tiết về đăng ký kinh doanh, thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh, giải thể, phá sản của thưong nhân lên Bộ Kế hoạch - Đẩu tư, cơ quan thuê', cơ quan thông kê, cơ quan quản lý ngành kinh tế kỹ thuật cùng câ'p, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện và ủy ban nhân dân xã, phường, thị trân nơi có trụ sở chính của thương nhân.
Luật Doanh nghiệp 2020 tại Điều 11 qui định câm một sô' hành vi trong hoạt động đăng ký kinh doanh như sau: (1) Cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho người không đủ điểu kiện hoặc từ chối câ'p Giây chứng nhận đăng ký kinh doanh cho người đủ điều kiện; (2) gây chậm trễ, phiền hà, cản trở, sách nhiễu người yêu cầu đăng ký kinh doanh; (3) hoạt động kinh doanh mà không đăng ký kinh doanh hoặc tiếp tục kinh doanh khi đã bị thu hồi Giâỳ chứng nhận đăng ký kinh doanh; (4) kê khai không trung thực, không chính xác nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh; và (5) kê khai không trung thực, không chính xác, không kịp thời những thay đổi trong nội dung hổ sơ đăng ký kinh doanh.

3. Hiệu lực của đăng ký kinh doanh

Các qui định của pháp luật nước ta hiện nay vể đăng ký kinh doanh nghiêng về bảo đảm cho việc quản lý nhà nước đôì với thương nhân, có nghĩa xem đăng ký kinh doanh là một công việc có tính châ't hành chính, chứ không thê’ hiện đầy đủ tính châ't hành chính tư pháp. Ý nghĩa, hiệu lực của đăng ký kinh doanh về mặt pháp lý không được đề cập rõ ràng bởi pháp luật.
Mặc dù về nguyên tắc, có thể hiểu, thương nhân được câ'p Giây chúng nhận đăng ký kinh doanh khi có hồ sơ hợp lệ, có nghĩa là hồ sơ có đầy đủ giâỳ tờ và có nội dung kê khai đầy đủ theo qui định của pháp luật, nhưng có lẽ do sự mập mờ của một sô' qui định khiên cho người ta nghĩ tới sự mâu thuẫn trong các qui định pháp luật về đăng ký kinh doanh ở nước ta hiện nay: một mặt cho phép cơ quan đăng ký kinh doanh kiểm tra nội dung hồ sơ đăng ký kinh doanh, nhưng mặt khác cho phép cơ quan đăng ký kinh doanh trôn tránh trách nhiệm về sự sai lạc của hổ sơ. Luật Doanh nghiệp 2020 xác định cơ quan đăng ký kinh doanh có nhiệm vụ và quyền hạn "Trực tiếp hoặc đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiểm tra doanh nghiệp theo những nội dung trong hồ sơ đăng ký kinh doanh". Trong khi đó Luật Doanh nghiệp 2020 cho phép cơ qhan đăng ký kinh doanh chỉ chịu trách nhiệm về tính hợp lệ của hồ sơ đăng ký kinh doanh. về nguyên lý pháp lý, người câp một giây xác nhận về một vâh đề gì đó sau khi đã có sự kiểm tra vâh đề đó phải chịu trách nhiệm trước người thứ ba (người bị thiệt hại) từ các sai lạc đưa ra trong giấy xác nhận đó, bởi người thứ ba đã tin vào sự xác nhận đó để hành động. Chẳng hạn ở Na- Uy, Đạo luật về đăng ký kinh doanh 2005 nói rõ đăng ký kinh doanh thuộc quyển lực của Nhà Vua, và thiết lập một nhà chức trách đăng ký kinh doanh do Nhà Vua chỉ định hành xử nhân danh quyền lực ây. Đạo luật cho phép nhà chức trách thẩm tra các khai báo để đăng ký và cơ sở của các khai báo đó, cũng như hình thức khai báo có phù hợp với pháp luật hay không (Điều 5-1). Do đó dẫn đến hệ quả logic rằng người bị thiệt hại được bổi thường từ nhà nước do các thông tin được cung câp từ việc đăng ký thiếu chính xác (Điều 10-3).
Có thể nói, Luật Doanh nghiệp 2020 nghiêng về quan điểm đăng ký tạo lập nên thương nhân hay doanh nghiệp. Trong khi đó Luật Thương mại 2020 có quan điểm thương nhân có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh, còn nêu chưa đăng ký kinh doanh thì vẫn được xem là thương nhân và phải chịu mọi trách nhiệm theo pháp luật. Qui định này của Luật Thương mại 2005 râ't gần gũi với quan niệm về đăng ký kinh doanh theo pháp luật của Pháp và pháp luật ở các chế độ cũ ở Việt Nam. Sự đăng ký kinh doanh theo pháp luật của Pháp chỉ tạo ra sự suy đoán pháp lý rằng người đăng ký là một thương nhân, và những sai lệch trong đăng ký kinh doanh tước đi của thương nhân những đặc quyền liên quan tới qui chế thương nhân . Tuy nhiên các hành vi như không thực hiện nghĩa vụ đăng ký kinh doanh, cố ý khai man, và một số hành vi khác liên quan bị xem là tội phạm. Chẳng hạn Bộ luật Thương mại 1972 của Chính quyền cũ ở Sài Gòn có qui định: "Sẽ bị phạt tù từ mười một ngày đến sáu tháng và bị phạt vạ từ 3.000 đổng đêh 30.000 đổng hay là một trong hai hình phạt nói trên, thương gia nào, bâ't luận thê’ nhân hay pháp nhân, phải khai trình để ghi tên, sửa đổi hay bổ túc các lời ghi trước, hoặc để gạch bỏ sự ghi tên, mà đã không làm các việc này trong thời hạn đã định" (Điều thứ 31, đoạn 1). Khác với quan niệm trên, pháp luật Đức cho rằng một người đã đăng ký là một thương nhân trong Sổ đăng ký thương mại phải được đôì x’ử như anh ta là thương nhân thậm chí phẩm châ't theo qui định của Bộ luật Thương mại . Pháp luật Đức nhìn thương nhân bởi hình thức đăng ký. Còn hệ thôhg của Pháp nhìn thương nhân bởi bản chất. Theo hệ thôhg của Pháp, người thứ ba không thê’ dựa vào sự kiện có đăng ký thương mại đê’ buộc cho người đăng ký có tư cách thương nhân mà phải chứng minh người đó có thực hiện hành vi thương mại và sinh sống bằng nghề thương mại . Sự suy đoán thương nhân qua hành vi đăng ký đôi với thương nhân thể nhân không có giá trị đôì với cơ quan nhà nước và người thứ ba bởi họ có thể chứng minh ngược lại . Tuy nhiên, đối với người đăng ký thương mại thì việc chứng minh mình không phải là thương nhân chưa hoàn tất, mà còn phụ thuộc vào việc các bên đôì tác có biết anh ta là thương nhân hay không bởi anh ta không thê’ dựa vào sự suy đoán để gây ảnh hưởng đến người khác hoặc làm lợi cho mình. Lưu ý, thương nhân pháp nhân luôn luôn được xem là thương nhân bởi hình thức hay bởi mục đích hoạt động. Việc đăng ký thương mại hay đăng ký kinh doanh dẫn đến một hệ quả quan trọng là đôì kháng với người thứ ba. Chẳng hạn Bộ luật Thương mại Nhật Bản có qui định:
Những nội dung được yêu cẩu đăng ký không thể chống lại người thứ ba ngay tình cho tới khi việc đăng ký và thông báo công khai từ đó đã có hiệu lực thật sự; thậm chí sau khi đăng ký và thông báo công khai về những nội dung đó, thì các nội dung đó không thể chôhg lại người thứ ba mà bởi bâ't kỳ lý do chính đáng nào không biết các nội dung đó".
"Thương gia, thê’ nhân hay pháp nhân, chỉ có thể đem đối kháng với đệ tam nhân giao thiệp thương mại với mình những việc liên quan đến tình trạng pháp lý của mình nêu các việc này đã khai trình hợp lệ và ghi vào sổ thương mại theo các điều kiện đã nói ở các điều trên.
Thương gia, thể nhân hay pháp nhân, đã bán cửa hàng của mình hay cho thuê cửa hàng, chỉ có thể viện dẫn sự chuyển nhượng hay sự cho thuê đê’ giải trừ trách nhiệm vè các sự kết ước của người kệ'quyền kê’ từ ngày chuyển nhượng hay cho thuê được công bô'vào sô’ thương mại" (Điểu thứ 33).
Trong thời hạn ba mươi ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, thương nhân phải công bố nội dung đăng ký kinh doanh. Việc công bố được thực hiện bằng việc đăng báo ba sô' liên tiếp tại một tờ báo viết hay báo điện tử, hoặc đưa lên mạng thông tin doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh. Nội dung công bô' phù hợp với Luật Doanh nghiệp 2020, bao gồm một sô' thông tin về thương nhân đã đăng ký. Nghĩa vụ công bô' nội dung đăng ký kinh doanh này cũng gắn cho trường hợp đăng ký thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật Doanh nghiệp - Công ty luật Minh Khuê