Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và công nghiệp văn hóa đang trở thành động lực tăng trưởng quan trọng tại Việt Nam, việc xác lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, đặc biệt là quyền tác giả và quyền liên quan, đóng vai trò then chốt. Mặc dù theo nguyên tắc của Công ước Berne và Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam, quyền tác giả phát sinh tự động ngay khi tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định mà không phụ thuộc vào thủ tục đăng ký; tuy nhiên, thủ tục hành chính để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giảGiấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan lại mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc thiết lập chứng cứ pháp lý, giảm thiểu gánh nặng chứng minh trong tranh chấp và tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch thương mại hóa tài sản trí tuệ.

Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan" được quy định tại Điều 51 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019 và 2022) và các văn bản hướng dẫn thi hành bao gồm Nghị định số 17/2023/NĐ-CP, Thông tư số 08/2023/TT-BVHTTDL và Quyết định số 693/QĐ-BVHTTDL năm 2025 quy định về chức năng, nhiệm vụ của Cục Bản quyền tác giả.

1. Khái quát về Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan

Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan (sau đây gọi tắt là Giấy chứng nhận) là văn bản hành chính do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp cho tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu và các quyền liên quan. Khác với văn bằng bảo hộ sáng chế hay nhãn hiệu (vốn có tính chất xác lập quyền), Giấy chứng nhận quyền tác giả mang tính chất ghi nhận.

Giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận nằm ở quy định tại Điều 49 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 (Luật SHTT): Tổ chức, cá nhân đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại. Đây là sự cụ thể hóa của nguyên tắc "chứng cứ ban đầu". Trong thực tiễn tố tụng và xử lý vi phạm hành chính, việc sở hữu Giấy chứng nhận giúp chủ thể quyền chuyển gánh nặng chứng minh sang phía bên xâm phạm hoặc bên tranh chấp, tạo ra một lợi thế pháp lý to lớn.

Phạm vi đối tượng được cấp Giấy chứng nhận bao trùm toàn bộ các loại hình tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học được quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ (từ tác phẩm văn học, âm nhạc, điện ảnh đến chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu...) và các đối tượng của quyền liên quan (cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng).

Về mặt không gian, Giấy chứng nhận có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Điều này đồng nghĩa với việc một quyết định hành chính được ban hành bởi cơ quan trung ương (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch hoặc Cục Bản quyền tác giả) sẽ có giá trị thi hành thống nhất tại 63 tỉnh, thành phố, ràng buộc trách nhiệm công nhận của tất cả các cơ quan thực thi pháp luật khác như Tòa án, Thanh tra, Quản lý thị trường và Hải quan.

2. Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan

2.1. Cơ quan quản lý nhà nước và sự phân cấp thẩm quyền 

Khoản 1 Điều 51 Luật Sở hữu trí tuệ quy định: "Cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan có quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan". Để hiểu rõ quy định này, cần phân tích cấu trúc bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực này.

a. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (BVHTTDL)

Ở cấp độ cao nhất, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước đối với quyền tác giả và quyền liên quan. Bộ có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (Thông tư), quy định mẫu giấy chứng nhận, và hoạch định chiến lược phát triển. Tuy nhiên, Bộ không trực tiếp thực hiện các thao tác nghiệp vụ xử lý hồ sơ hàng ngày mà ủy quyền và giao nhiệm vụ này cho cơ quan chuyên môn trực thuộc.

b. Cục Bản quyền tác giả (COV) - Cơ quan thực thi trực tiếp

Căn cứ vào Quyết định số 693/QĐ-BVHTTDL ngày 18 tháng 3 năm 2025 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Cục Bản quyền tác giả được xác định là tổ chức hành chính thuộc Bộ, có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng quản lý nhà nước và tổ chức thực thi pháp luật về bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan và công nghiệp văn hóa trên phạm vi cả nước.

Quyết định 693/2025 đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong việc kiện toàn bộ máy của Cục Bản quyền tác giả so với các quy định trước đây (như Quyết định 912/2023). Theo đó, Cục Bản quyền tác giả có tư cách pháp nhân, con dấu riêng và tài khoản tại Kho bạc Nhà nước. Điều này có ý nghĩa pháp lý quan trọng: Người ký trên Giấy chứng nhận là Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (thừa ủy quyền hoặc theo thẩm quyền trực tiếp) và con dấu đóng trên Giấy chứng nhận là con dấu của Cục, không phải con dấu của Bộ.

2.2. Thẩm quyền Cấp lại, Cấp đổi và Hủy bỏ (Khoản 2 Điều 51)

Khoản 2 Điều 51 Luật SHTT xác lập nguyên tắc hành chính: "Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan có quyền cấp lại, đổi, huỷ bỏ giấy chứng nhận đó". Đây là quy định nhằm đảm bảo tính thống nhất trong quản lý hồ sơ: cơ quan nào tạo lập hồ sơ thì cơ quan đó có trách nhiệm chỉnh sửa hoặc thu hồi.

a.  Phân biệt thẩm quyền và quy trình Cấp lại và Cấp đổi

Việc phân biệt rõ hai thủ tục này là rất quan trọng vì chúng có căn cứ pháp lý, thành phần hồ sơ và thời hạn giải quyết khác nhau, được quy định chi tiết tại Nghị định 17/2023/NĐ-CP.

Thứ nhất, đối với thủ tục Cấp lại, căn cứ pháp lý là Điều 40 Nghị định 17/2023/NĐ-CP. Thủ tục này được thực hiện khi Giấy chứng nhận bị mất, rách nát hoặc hư hỏng về mặt vật lý. Hồ sơ bao gồm tờ khai, 02 bản sao tác phẩm (nếu cần), văn bản ủy quyền và giải trình lý do mất hoặc hư hỏng. Thời hạn xử lý là 07 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Thứ hai, đối với thủ tục Cấp đổi, căn cứ pháp lý là Điều 41 Nghị định 17/2023/NĐ-CP. Thủ tục này áp dụng khi có sự thay đổi chủ sở hữu (như chuyển nhượng, thừa kế, sáp nhập) hoặc thay đổi thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu (như đổi tên, địa chỉ, sửa đổi nhỏ tác phẩm). Hồ sơ yêu cầu tờ khai, 02 bản sao tác phẩm, văn bản ủy quyền, tài liệu chứng minh sự thay đổi (như hợp đồng chuyển nhượng, giấy chứng tử, quyết định sáp nhập...) và đặc biệt là bắt buộc phải nộp lại bản gốc Giấy chứng nhận cũ để thu hồi. Thời hạn xử lý dài hơn, là 12 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.

Cả hai thủ tục đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Cục Bản quyền tác giả. Quá trình này đòi hỏi Cục phải thực hiện việc rà soát hồ sơ trong thời hạn 01 tháng (để kiểm tra tính hợp lệ) trước khi ra quyết định cấp.

b. Thẩm quyền hủy bỏ hiệu lự

Hủy bỏ hiệu lực là biện pháp chấm dứt giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận đã cấp. Đây là một quyết định hành chính có tác động lớn đến quyền tài sản của tổ chức, cá nhân. Theo Điều 55 Luật SHTT và Điều 42 Nghị định 17/2023/NĐ-CP, Cục Bản quyền tác giả thực hiện thẩm quyền này trong các trường hợp sau:

Hủy bỏ theo đề nghị của chủ thể quyền: Tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả có thể tự nguyện nộp đơn đề nghị hủy bỏ hiệu lực Giấy chứng nhận của chính mình (ví dụ: khi muốn từ bỏ quyền, đưa tác phẩm vào công chúng, hoặc phát hiện sai sót không thể sửa chữa).

Hủy bỏ do vi phạm quy định pháp luật (theo thẩm quyền hoặc bên thứ 3 kiến nghị):

Người được cấp Giấy chứng nhận không phải là tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực sự (gian lận, mạo danh).

Tác phẩm/đối tượng đăng ký không thuộc diện được bảo hộ (ví dụ: đăng ký ý tưởng, quy trình, phương pháp thuần túy chưa được định hình, hoặc đối tượng trái đạo đức xã hội).

Hủy bỏ theo phán quyết của Tòa án: Khi có tranh chấp về quyền tác giả, Tòa án có thẩm quyền xét xử và xác định chủ sở hữu đích thực. Nếu phán quyết của Tòa án (đã có hiệu lực pháp luật) xác định người đứng tên trên Giấy chứng nhận không phải là chủ sở hữu, Cục Bản quyền tác giả có trách nhiệm căn cứ vào bản án đó để ra quyết định hủy bỏ Giấy chứng nhận đã cấp sai.

3. Quy định mẫu Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan

Khoản 3 Điều 51 Luật SHTT trao quyền cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định chi tiết về hình thức của văn bằng này: "Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan". Hiện thực hóa quy định này, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số 08/2023/TT-BVHTTDL ngày 02/6/2023 quy định các mẫu trong hoạt động đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan. 

Thông tư 08/2023/TT-BVHTTDL ban hành kèm theo Phụ lục 2 gồm hai mẫu chính: Mẫu số 01 (Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả)Mẫu số 02 (Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan). Các mẫu này được thiết kế để in trên khổ giấy A4, đảm bảo sự trang trọng và thống nhất trong lưu trữ. Một Giấy chứng nhận hợp pháp phải bao gồm đầy đủ các trường thông tin sau, phản ánh chính xác dữ liệu từ Tờ khai đăng ký:

Quốc hiệu và Tiêu ngữ: Khẳng định chủ quyền và hệ thống pháp luật.

Cơ quan cấp: Ghi rõ "BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH" và "CỤC BẢN QUYỀN TÁC GIẢ".

Số Giấy chứng nhận: Mã số định danh duy nhất, phục vụ việc tra cứu trên Sổ đăng ký quốc gia và cơ sở dữ liệu trực tuyến.

Thông tin về Tác phẩm/Đối tượng:

Tên tác phẩm (ghi đúng theo Tờ khai).

Loại hình tác phẩm (căn cứ Điều 14 Luật SHTT, ví dụ: Tác phẩm văn học, Tác phẩm mỹ thuật ứng dụng, Chương trình máy tính...). Việc xác định đúng loại hình là cực kỳ quan trọng vì nó quyết định thời hạn bảo hộ (ví dụ: Mỹ thuật ứng dụng là 75 năm, Văn học là suốt đời + 50 năm).

Thông tin về Tác giả: Họ tên, bút danh, ngày sinh, quốc tịch, số giấy tờ tùy thân. Trường hợp tác giả đã chết phải ghi rõ năm mất.

Thông tin về Chủ sở hữu quyền: Tên tổ chức/cá nhân, số ĐKKD/CMND, địa chỉ. Phân biệt rõ trường hợp tác giả đồng thời là chủ sở hữu hoặc chủ sở hữu là người được chuyển giao quyền.

Ngày cấp, Chữ ký và Con dấu: Ngày ký quyết định cấp, chữ ký của Cục trưởng (hoặc Phó Cục trưởng) và con dấu đỏ của Cục Bản quyền tác giả.

Thông tin trên Giấy chứng nhận là kết quả trích xuất từ Tờ khai đăng ký (các mẫu từ 01 đến 08 tại Phụ lục 1 Thông tư 08/2023).  Gắn liền với thẩm quyền cấp giấy là quy định về phí, lệ phí. Theo các quy định hiện hành và thực tiễn áp dụng tại Cục Bản quyền tác giả, mức phí đăng ký dao động tùy thuộc vào loại hình tác phẩm. Ví dụ, mức phí cấp lại Giấy chứng nhận đối với một số loại hình là 150.000 VNĐ, trong khi phí đăng ký mới hoặc cấp đổi có thể cao hơn tùy đối tượng (ví dụ 500.000 - 600.000 VNĐ đối với một số thủ tục). Việc nộp phí là điều kiện bắt buộc để hồ sơ được coi là hợp lệ.

4. Kết luận

Tóm lại, chế định về thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan khẳng định nguyên tắc quản lý nhà nước tập trung và thống nhất, trong đó Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm chung và Cục Bản quyền tác giả là cơ quan đầu mối duy nhất có thẩm quyền thực thi toàn diện từ việc cấp mới, cấp lại, cấp đổi đến hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ. Sự phân công quyền hạn rõ ràng này, cùng với tư cách pháp nhân độc lập của Cục Bản quyền tác giả trong việc ký kết và đóng dấu quyết định, không chỉ đảm bảo quy trình hành chính được vận hành minh bạch, chặt chẽ trên phạm vi toàn quốc mà còn củng cố giá trị pháp lý của Giấy chứng nhận như một công cụ chứng cứ "suy đoán về quyền" thiết yếu, bảo vệ tối đa lợi ích của các chủ thể sáng tạo trong môi trường kinh doanh và pháp lý hiện đại.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email  để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.