1. Khái niệm tranh chấp lao động.

Trong quá trình tồn tại, phát triển của quan hệ lao động thì việc tranh chấp xảy ra giữa các bên về quyền, lợi ích là điều khó tránh khỏi, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường thì người sử dụng lao động thường hướng đến lợi nhuận, cố gắng cắt giảm chi phí sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến quyền lợi của người lao động. Từ đó đặt ra yêu cầu giải quyết tranh chấp lao động một cách có hiệu quả để duy trì hài hòa quan hệ lao động, cân bằng lợi ích giữa các bên, bảo đảm ổn định sản xuất kinh doanh, ổn định nền kinh tế.
Bộ luật Lao động 2019 tuy không đưa ra khái niệm rõ ràng về tranh chấp lao động nhưng dựa trên các quy định về lao động có thể hiểu tranh chấp lao động là việc cơ quan, cá nhân có thẩm quyền đưa ra cách thức, phương pháp giải quyết những mâu thuẫn làm phát sinh tranh chấp lao động giữa cá nhân, tập thể người lao động với người sử dụng lao động về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động. Nói cách khác, tranh chấp lao động là những mâu thuẫn bất đồng không thể tự dàn xếp được giữa cá nhân hoặc tập thể người lao động và người sử dụng lao động liên quan đến quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ lao động.

2. Điều kiện thụ lý vụ án.

2.1. Nhận và kiểm tra đơn khởi kiện, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn khởi kiện.

Người khởi kiện có thể gửi đơn khởi kiện kèm theo tài liệu, chứng cứ mà mình hiện có đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng một trong các phương thức:
Nộp trực tiếp tại Tòa án; Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính; Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).
Trường hợp người khởi kiện nộp đơn tại tòa thì phải ghi vào sổ nhận đơn và cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. trường hợp người khởi kiện nộp đơn qua bưu điện bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn, trong thời hạn 02 ngày làmviệc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện.

>> Xem thêm:  Tranh chấp lao động là gì ? Phân tích khái niệm và đặc điểm của các tranh chấp lao động ?

Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện trực tuyến bằng hình thức điện tử qua
Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Tòa án nhận đơn khởi kiện thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn và xử lý đơn khởi kiện theo quy định của pháp luật tố tụng. Tòa án gửi thông báo đã nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ cho người khởi kiện từ Cổng thông tin điện tử của Tòa án đến địa chỉ thư điện tử đã đăng ký của người khởi kiện.
Người khởi kiện nộp đơn khởi kiện tranh chấp lao động Tòa án kiểm tra tính hợp pháp của đơn khởi kiện. đơn khởi kiện phải đầy đủ các nội dung như: " Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện; Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện; Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó; Tên, nơi cư trú, làm việc của người có  quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có); Tên nơi cư trú, alfm việc của người  bị kiện là các cá nhân hoặc trụ sở người bị kiện là cơ quan, tổ chức, số điện thoại, fax địa chỉ thư điện tử nếu có; Tên nơi cư trú của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có); Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện. "
Để được chấp nhận đơn khởi kiện thì những giấy tờ kèm theo phải chính xác đầy đủ người khởi kiện phải gửi đầy đủ các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn Tòa án tiếp nhận đơn kiểm tra những tài liệu chứng cứ đó:
Đối với những tranh chấp lao động cá nhân phải qua hòa giải cơ sở người nộp phải nộp những tài liệu sau: tài liệu giấy tờ chứng minh cho quan hệ lao động như hợp đồng, phụ lục hơp đồng.., những giấy tờ tài liệu chứng minh cho sự kiện tranh chấp, biên bản hòa giải không thành của hội đồng hòa giải lao động cấp cơ sở hoặc giấy tờ chứng minh hội đồng hòa giải không hòa giải trong vòng 7 ngày.
 Đối với tranh chấp lao động cá nhân không bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở người khởi kiện cũng phải nộp cho Tòa những giấy tờ tài liệu chứng minh quan hệ lao động, tranh chấp lao động khi nhận đơn cán bộ thụ lý cần đọc kĩ đơn xem tranh chấp đã qua hòa giải cơ sở chưa nếu chưa Tòa án có thể yêu cầu Hội đồng hòa giải lao động cơ sở tiến hành hòa giải.
Sau khi kiểm tra những giấy tờ tài liệu kèm theo đơn khởi kiện Tòa án phải đưa ra các kết luận:

>> Xem thêm:  Hòa giải viên lao động là gì? Trình tự giải quyết tranh chấp lao động của hòa giải viên và chế độ cho hòa giải viên lao động có gì thay đổi?

" Người khởi kiện có quyền khởi kiện hay không?: những chủ thể có quyền khởi kiện trong tranh chấp lao động gồm : các bên trong tranh chấp như người lao động, tập thể lao động, người sử dụng lao động, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan...; công đoàn cấp trên của công đoàn cơ sở khởi kiện vì lợi ích tập thể lao động. Tòa án cần lưu ý những đối tượng cụ thể:
 Người khởi kiện là người lao động: người lao động từ 15 tuổi trở lên có quyền khởi kiện hoặc ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện.
Nếu người khởi kiện dưới 15 tuổi được pháp luật cho phép tham gia vào quan hệ lao động nhất định, người lao động có nhược điểm về thể chất tinh thần thì thông qua người đại diện hợp pháp.
Người khởi kiện là tập thể lao động: ban chấp hành công đoàn cơ sở sẽ là tổ chức đại diện để tiến hành việc khởi kiện. 
Người khởi kiện là người sử dụng lao động: trường hợp là cá nhân thìphải từ 18 tuổi tự mình thực hiện hoặc ủy quyền bằng văn bản cho người khác là tổ chức thì thông qua người đại diện hợp pháp như giám đốc...
Tranh chấp đã được hòa giải hay chưa? : khác với những loại tranh chấp dân sự khác đối với tranh chấp lao động người khởi kiện không thể trực tiếp khởi kiện ra Tòa án nếu chưa qua quá trình giải quyết trước đó trừ một số tranh chấp cá nhân nhất định.
Đối với tranh chấp lao động cá nhân bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở: Tòa án chỉ thụ lý nếu tranh chấp đó đã qua hòa giải nhưng không thành.
Đối với tranh chấp lao động cá nhân không bắt buộc phải qua hòa giải cơ sở: bao gồm các tranh chấp về xử lý kỉ luật lao động theo hình thức sa thải trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động...
Tòa án sẽ chấp nhận đơn khởi kiện nếu đáp ứng các điều kiện khởi kiện. Tuy nhiên pháp luật không hạn chế trường hợp các bên đưa tranh chấp ra hòa giải cơ sở đó trong trường hợp các bên đã đưa việc tranh chấp ra hòa giải thì Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc nếu hòa giải không thành.
 Đối với tranh chấp lao động tập thể: Tòa án chỉ thụ lý khi tranh chấp đã được hòa giải cơ sở nhưng không thành và Hội đồng trọng tài cấp tỉnh đã đưa ra quyết định giải quyết nhưng các bên không đồng ý."

2.2 Yêu cầu sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện.

Qua kiểm tra đơn khởi kiện nếu thấy không đầy đủ nội dung yêu cầu về đơn khởi kiện tại khoản 4 Bộ luật dân sự 2015 hay thiếu sót về giấy tờ tài liệu kèm theo Tòa án phải báo cho người khởi kiện sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện và các giấy tài liệu kèm theo không được quá 30 ngày trong trường hợp đặc biệt Tòa án có thể gia hạn thêm.
Trong thông báo phải nêu rõ người thông báo, thông báo yêu cầu những vân đề sửađổi, bổ sung là gì, thời hạn thực hiện, ghi hậu quả pháp lý của việc không thực hiện yêu cầu. Văn bản thông báo có thể được gửi trực tiếp hoặc thông qua bưu điện, sau khi người khởi kiện đã sửa đổi bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu thì Tòa án tiếp tục thụ lý vụ án.

2.4. Xem xét yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 187 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quyền yêu cầu, kiến nghị Tòa án đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án; trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật dân sự 2015 đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án.

>> Xem thêm:  Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp lao động cá nhân ?

2.5.Trả lại đơn khởi kiện.

Những trường hợp phải trả lại đơn khởi kiện theo khoản 1 điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 gồm những trường hợp:
Thời hiệu khởi kiện đã hết; Người khởi kiện không có quyền làm đơn khởi kiện hoặc không có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự; Chưa có đủ điều kiện khởi kiện là trường hợp pháp luật có quy định về các điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án khi còn thiếu một trong các điều kiện đó; Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn, yêu cầu thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, yêu cầu thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản, thay đổi người giám hộ hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Tòa án chưa chấp nhận yêu cầu và theo quy định của pháp luật được quyền khởi kiện lại; Hết thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 195 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp người khởi kiện được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng án phí hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng; Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Người khởi kiện rút đơn khởi kiện.
Trong văn bản thông báo Tòa án phải ghi rõ lý do vì sao lại trả lại đơn khởi kiện có thể gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện.
Trong trường hợp tranh chấp này không thuộc thẩm quyền của mình Tòa án sẽ chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án khác có thẩm quyền trong vụ tranh chấp và báo cho người khởi kiện biết.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục, trình tự giải quyết tranh chấp lao động cá nhân