1. Trẻ em bất ngờ lao ra đường dẫn đến tai nạn giao thông thì ai chịu trách nhiệm?

Hiện nay, xuất hiện một số trường hợp gia đình sống gần đường cho trẻ em đi lại trực tiếp ra đường giao thông. Trong một số trường hợp, do sơ suất và thiếu quan sát của phụ huynh, trẻ em đã bất ngờ chạy ra đường và bị xe cộ không kịp phản ứng dẫn đến tai nạn giao thông. Trong tình hình này, vấn đề về trách nhiệm hình sự được quy định như thế nào?

Theo Điều 32, Khoản 5 của Luật Giao thông Đường bộ năm 2008, trẻ em dưới 7 tuổi khi đi qua đường trong khu đô thị hoặc trên các tuyến đường thường xuyên có xe cơ giới phải được người lớn dắt theo. Mọi người đều có trách nhiệm giúp đỡ trẻ em dưới 7 tuổi khi họ đi qua đường.

Theo quy định, trẻ em dưới 7 tuổi tham gia giao thông phải được giám sát bởi người lớn. Phụ huynh và người chăm sóc trẻ không được phép để trẻ em tự ý di chuyển vào đường giao thông. Vì vậy, trước hết, trách nhiệm về việc trẻ em chạy ra đường thuộc về người chăm sóc trẻ.

Về việc chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, theo quy định của Điều 586 trong Bộ Luật Dân sự năm 2015, năng lực chịu trách nhiệm của cá nhân được quy định như sau:

- Người từ đủ mười tám tuổi trở lên gây ra thiệt hại sẽ phải tự chịu trách nhiệm bồi thường.

- Người chưa đủ mười lăm tuổi gây ra thiệt hại và có cha mẹ, thì cha mẹ sẽ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha mẹ không đủ để bồi thường, và con không thành niên có tài sản riêng, thì tài sản riêng của con sẽ được sử dụng để bồi thường phần thiếu, trừ các trường hợp được quy định tại Điều 599 của Bộ luật này.

- Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây ra thiệt hại sẽ phải bồi thường bằng tài sản cá nhân của mình; nếu không có đủ tài sản để bồi thường, thì cha mẹ sẽ phải bồi thường phần thiếu bằng tài sản của mình.

- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức hoặc làm chủ hành vi gây ra thiệt hại, nếu có người giám hộ, thì người giám hộ sẽ sử dụng tài sản của người được giám hộ để bồi thường; nếu người được giám hộ không có tài sản hoặc không đủ tài sản để bồi thường, thì người giám hộ sẽ phải bồi thường bằng tài sản của mình; trừ trường hợp người giám hộ chứng minh được mình không có lỗi trong việc giám hộ, khi đó không phải sử dụng tài sản của mình để bồi thường.

Thường thì, đối với người chưa đủ 15 tuổi, cha mẹ hoặc người giám hộ sẽ chịu trách nhiệm bồi thường nếu có thiệt hại xảy ra do hành vi khiến trẻ em bất ngờ lao ra đường và gây ra tai nạn giao thông.

 

2. Trẻ em bất ngờ lao ra đường dẫn đến tai nạn giao thông, người lái xe chịu trách nhiệm gì?

Đối với câu hỏi này cần phân tích thành hai trường hợp sau đây:

- Trong trường hợp trẻ em đột ngột chạy ra đường mà người lái xe không thể quan sát được, có thể coi là tình trạng bất khả kháng và người lái xe không chịu lỗi về sự việc, theo quy định tại Khoản 3 của Điều 601 trong Bộ Luật Dân sự năm 2015. Theo đó:

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hoặc sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại, ngay cả khi không có lỗi, trừ khi:

+ Thiệt hại là kết quả của hành vi cố ý của bên bị thiệt hại;

+ Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế khẩn cấp, trừ khi có quy định khác của pháp luật.

Do đó, nếu tai nạn giao thông xảy ra do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, thì người lái xe sẽ được miễn trừ khỏi việc bồi thường thiệt hại dân sự.

- Trong trường hợp người lái xe có khả năng quan sát và nhận biết được sự xuất hiện của đứa bé trước đó, và cần phải dự đoán được bé trai đó có thể chạy qua đường, cùng với việc phải thực hiện các biện pháp như giảm tốc độ, nếu người lái xe không thực hiện điều này mà cố tình chủ quan, thì không thể được xem xét là tình trạng bất khả kháng. Trong trường hợp này, người lái xe sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, theo quy định tại Khoản 3 của Điều 601 trong Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, người lái xe trong trường hợp này có thể bị xử phạt vi phạm hành chính từ 4.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây ra tai nạn giao thông đối với xe mô tô, gắn máy và các loại xe tương tự, theo quy định tại điểm b, Khoản 7 của Điều 6 trong Nghị định số 100/2019/NĐ-CP.

Ngoài ra, đối với xe ô tô, người lái xe có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng, theo quy định tại điểm a, Khoản 7 của Điều 5 trong Nghị định số 100/2019/NĐ-CP.

Hơn nữa, trong trường hợp gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe và tính mạng con người, người lái xe có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, theo quy định tại Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

 

3. Các khoản bồi thường khi gây tai nạn giao thông là gì?

Tai nạn giao thông là một sự cố mà không ai mong muốn phải đối mặt, cả cho bản thân và gia đình, nhưng luôn tiềm ẩn mỗi khi tham gia vào giao thông. Các vụ va chạm, tai nạn đã gây ra tổn thất về tính mạng và sức khỏe đối với những người tham gia.

Trong trường hợp người gây ra tai nạn giao thông bị truy cứu trách nhiệm hình sự, ngoài việc phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, họ còn phải chịu trách nhiệm bồi thường các tổn thất về tài sản, tính mạng hoặc sức khỏe do hành động của mình gây ra cho người khác, theo quy định của Bộ luật dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Như vậy, hai trách nhiệm này của người gây ra tai nạn là tương đối độc lập với nhau. Người gây tai nạn phải thực hiện cả hai loại trách nhiệm này, không thể tránh khỏi trách nhiệm bồi thường chỉ vì đã thực hiện trách nhiệm hình sự, và ngược lại, không thể tránh khỏi trách nhiệm hình sự chỉ vì đã bồi thường thiệt hại về dân sự.

Theo quy định của pháp luật, các bên có thể thỏa thuận với nhau về mức đền bù thiệt hại. Trong trường hợp không đạt được thỏa thuận, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Theo quy định của pháp luật, các khoản thiệt hại cần được bồi thường là những thiệt hại thực tế đã phát sinh, cùng với các chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục hậu quả của các thiệt hại đó.

Sau khi xác định được chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong một vụ tai nạn giao thông, người bồi thường có thể phải chịu các khoản tiền sau:

- Thiệt hại gây ra cho tài sản bị tổn thất, theo quy định tại Điều 589 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.

- Thiệt hại gây ra cho sức khỏe của người bị ảnh hưởng, theo quy định tại Điều 590 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.

- Thiệt hại gây ra cho tính mạng của người bị ảnh hưởng, theo quy định tại Điều 591 của Bộ Luật Dân sự năm 2015.

Trong trường hợp các thiệt hại không thể định lượng chính xác, như tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị tổn thương hoặc tính mạng bị đe dọa, nếu các bên không thể đạt được thỏa thuận, pháp luật sẽ xác định một mức tối đa. Ví dụ, mức đền bù cho tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị tổn thương không vượt quá 50 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định cho một người; và mức đền bù cho tổn thất về tinh thần do tính mạng bị đe dọa không vượt quá 100 lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định. Tòa án sẽ dựa vào những quy định này để đưa ra quyết định về mức đền bù phù hợp cho từng trường hợp cụ thể trong thực tế.

Bài viết liên quan: Gây tai nạn giao thông trong trường hợp nào sẽ bị phạt tù?

Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!