Trong thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm, công tác bào chữa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng nhận thấy: rất nhiều cơ quan điều tra cũng như luật sư, chuyên viên sử dụng dữ liệu được trích xuất từ danh sách cuộc gọi của nghi can, bị can, bị cáo làm chứng cứ. Vậy dữ liệu này có được coi là chứng cứ không? Sau đây tôi xin đưa ra một số ý kiến bàn luận để làm sáng tỏ vấn đề.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định về chứng cứ như sau:

Điều 86. Chứng cứ

Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Theo đó, chứng cứ phải đáp ứng được các thuộc tính:
  1. Tính có thật: sự việc xảy ra phải là những gì có trên thực tế.
  2. Tính khách quan: sự việc tồn tài một cách độc lập với suy nghĩ chủ quan của một người nào đó.
  3. Tính liên quan: sự việc này phải có liên quan tới nội dung vụ việc, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp.
  4. Được thu thập theo trình tự pháp luật quy định.
Như vậy, với tư cách là dữ liệu được trích xuất từ danh sách cuộc gọi trong điện thoại sẽ không đảm bảo được tính khách quan của chứng cứ. Có nghĩa là danh sách một cuộc gọi nào đó hoàn toàn có thể thêm, bớt hay tự thực hiện được bởi người khác. Vì vậy mà kéo theo dữ liệu này không đảm bảo được tính có thật.
Từ đó khẳng định: Dữ liệu trích xuất từ điện thoại không được coi là chứng cứ mà chỉ có thể xem xét đó là nguồn chứng cứ hay không. Lệnh trích xuất phải có các nội dung sau:
  • Cơ quan, họ tên, chức vụ, cấp bậc người ra lệnh;
  • Họ tên, năm sinh, quốc tịch, nơi cư trú, hành vi vi phạm pháp luật, ngày bị tạm giữ, ngày bị tạm giam của người được trích xuất;
  • Mục đích và thời hạn trích xuất;
  • Họ tên, chức vụ, cấp bậc, cơ quan của người làm nhiệm vụ áp giải người được trích xuất hoặc cơ quan làm nhiệm vụ áp giải;
  • Họ tên, chức vụ, cấp bậc (nếu có) của người nhận trích xuất của cơ quan có thẩm quyền ra lệnh trích xuất;
  • Ngày, tháng, năm ra lệnh; chữ ký của người ra lệnh và đóng dấu.
Nếu cần trao đổi ý kiến, quan điểm pháp lý vui lòng liên hệ  1900.6162 để trao đổi ý kiến, quan điểm pháp lý. Luật Minh Khuê phân tích chi tiết hơn về vấn đề này như sau:
 

1. Chứng cứ được hiểu như thế nào?

Để Tòa án có thể đưa ra các phán quyết và quyết định đúng đắn nhất, công bằng nhất thì việc dựa trên những chứng cứ có trong một vụ việc là điều không thể thiếu. 

Theo đó, chứng cứ được hiểu là toàn bộ những gì có thật đã diễn ra, được thể hiện thông qua các vật chứng cụ thể trên thực tế mà con người có thể thu thập được thông qua một trình tự, thủ tục nhất định theo quy định của pháp luật. Có thể nói, chứng cứ có vai trò là cơ sở để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể dựa vào để đánh giá sự thật khách quan và đưa ra hướng giải quyết vụ án một cách chính xác.

Cụ thể, căn cứ theo Điều 86 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì chứng cứ được quy định cụ thể như sau:

- Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.

Theo đó, các thuộc tính của chứng cứ bao gồm: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Cụ thể:

- Tính khách quan: Chứng cứ phản ánh những sự kiện có thật đã diễn ra và không bị phụ thuộc vào ý chí con người. Như vậy, tính khách quan còn thể hiện ở chỗ những gì là suy đoán, tưởng tượng, không có thật thì không phải là chứng cứ. Tính khách quan bắt đầu từ thời điểm chứng cứ được sinh ra.

- Tính liên quan: Chứng cứ được thu thập dù thông qua hình thức trực tiếp hay gián tiếp thì đều phải là những gì có liên quan đến vụ án, tranh chấp đang cần giải quyết. Nội dung phản ánh của chứng cứ phải có tác dụng xác định các vấn đề pháp lý để giải quyết vụ án. Như vậy, nếu những gì tồn tại khách quan nhưng không liên quan đến vụ án thì không phải là chứng cứ.

- Tính hợp pháp: Chứng cứ phải được thu thập thông qua trình tự, thủ tục theo đúng quy định của pháp luật và phải được công nhận. Tính hợp pháp được xác định nhằm đảm bảo giá trị chứng minh của chứng cứ.

 

2. Nguồn của chứng cứ

2.1. Đối với nguồn của chứng cứ trong tố tụng dân sự

Hiện nay, theo quy định tại Điều 94 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:

- Tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện tử.

- Vật chứng;

- Lời khai của đương sự.

- Lời khai của người làm chứng.

- Kết luận giám định.

- Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ.

- Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản.

- Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập.

- Văn bản công chứng, chứng thực.

- Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.

Như vậy, dựa vào quy định pháp luật trên so với Bộ luật tố tụng dân sự trước đó thì Bộ luật tố tụng dân sự 2015 đã bổ sung thêm một nguồn chứng chứng cứ rất quan trọng là văn bản công chứng, chứng thực. Trước đây, văn bản công chứng, chứng thực chưa được coi là nguồn chứng cứ chính thức mà thường phải xác định thông qua các nguồn chứng cứ khác.

Đồng thời, Bộ luật tố tụng dân sự 2015 lần này đã loại bỏ nguồn chứng cứ là tập quán. Đây là một quy định trước đây đã gây rất nhiều tranh cãi và không phải bất kỳ nguồn chứng cứ nào cũng được xác định là chứng cứ mà các nguồn chứng cứ phải đáp ứng được các điều kiện riêng quy định tại Điều 95 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

 

2.2. Đối với nguồn của chứng cứ trong tố tụng hình sự

Hiện nay, căn cứ theo quy định tại Điều 87 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 thì chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn sau đây:

- Vật chứng;

- Lời khai, lời trình bày;

- Dữ liệu điện tử;

- Kết luận giám định, định giá tài sản;

- Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;

- Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;

- Các tài liệu, đồ vật khác.

Bên cạnh đó, những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định thì không có giá trị pháp lý và sẽ không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự.

 

3. Chứng cứ điện tử được pháp luật quy định như thế nào? 

Hiện nay, chứng cứ điện tử được pháp luật hình sự quy định cụ thể theo khoản 1, Điều 99 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015, cụ thể như sau:

- Dữ liệu điện tử là ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự được tạo ra, lưu trữ, truyền đi hoặc nhận được bởi phương tiện điện tử.

Căn cứ theo cách hiểu như trên, có thể nói chứng cứ điện tử mang những đặc điểm như sau:

- Không thể nhìn thấy bằng mắt thường

Chứng cứ điện tử được tìm thông qua các lệnh, đôi khi chúng được tìm thấy ở những nơi mà các chuyên gia mới có thể tìm kiếm hoặc ở những nơi chỉ có thể tiếp cận bằng các công cụ đặc biệt.

- Dễ bị ẩn hay biến mất

Một số thiết bị và một số điều kiện nhất định bộ nhớ máy tính (dữ liệu chứa chứng cứ) có thể bị đè (hoặc thay đổi) bởi chức năng hoặc hoạt động thông thường của thiết bị. Điều này có thể do sự dừng đột ngột của hệ thống hay do cài đặt thông tin mới đè lên thông tin cũ do thiếu dung lượng bộ nhớ hay có thể yếu tố môi trường như nhiệt độ cao, ẩm ướt làm hỏng bộ nhớ lưu trữ.

- Có thể bị thay đổi hoặc bị phá hủy

Trong quá trình sử dụng thông thường, các thiết bị điện tử luôn thay đổi trạng thái bộ nhớ của chúng theo yêu cầu của người sử dụng trong quá trình cập nhật dữ liệu hay lưu các thay đổi hay do quá trình cập nhật tự động dữ liệu của hệ điều hành thiết bị.

- Tính nguyên bản

Dữ liệu điện tử có thể được sao chép vô thời hạn với bản sao giống hệt như bản gốc. Tức là, mặc dù bản sao nhưng vẫn có thể xem là chứng cứ bởi mang đầy đủ các đặc tính nguyên bản của bản gốc.

 

4. Trích xuất danh sách cuộc gọi có được coi là chứng cứ?

Như đã trình bày ở trên, một tài liệu hay dữ liệu được coi là chứng cứ phải đáp ứng được các thuộc tính của chứng cứ, bao gồm tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp. Cụ thể: 

  • Tính khách quan thể hiện ở việc chứng cứ này phải tồn tài một cách độc lập với suy nghĩ chủ quan của một người nào đó.
  • Tính liên quan thể hiện ở chỗ chứng cứ này phải có liên quan tới nội dung vụ việc cần chứng minh, có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp.
  • Tính hợp pháp thể hiện ở chỗ chứng cứ này phải được thu thập theo đúng trình tự pháp luật quy định.

Có thể nói, với tư cách là dữ liệu được trích xuất từ danh sách cuộc gọi trong điện thoại thì sẽ không đảm bảo được tính khách quan của chứng cứ. Cụ thể, chứng cứ phải là dữ liệu phát sinh trên những sự kiện có thật, phản ánh trung thực những tình tiết của vụ án đã xảy ra, không bị xuyên tạc, bóp méo theo ý chí chủ quan của bất cứ người nào.

Như vậy, tính khách quan của chứng cứ đòi hỏi bản thân các nguồn thông tin này phải có thật và không phụ thuộc vào khả năng con người có thể nhận biết hay tác động vào chúng.

Tuy nhiên trong khi đó, danh sách cuộc gọi trong điện thoại nào đó hoàn toàn có thể thêm cuộc gọi, xóa bớt cuộc gọi hay tự thực hiện các thao tác nào đó bởi người khác. Vì vậy mà kéo theo dữ liệu này không đảm bảo được tính có khách quan của chứng cứ.

Từ đó có thể đưa ra khẳng định, dữ liệu trích xuất từ danh sách cuộc gọi trong điện thoại không được coi là chứng cứ mà chỉ có thể xem xét đó là nguồn chứng cứ hay không.

Mọi vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại 24/7, gọi ngay tới số: 1900.6162 hoặc gửi email trực tiếp tại: Tư vấn pháp luật qua Email để được giải đáp. Cảm ơn quý khách hàng đã quan tâm theo dõi bài viết của Luật Minh Khuê./.