Căn cứ quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành có thể phân tích như sau:

 

1. Khái niệm “thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh”

Hiện nay, pháp luật về cạnh tranh chưa quy định định nghĩa về thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh. Khoản 8 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018 chỉ đưa ra định nghĩa về khái niệm “tố tụng cạnh tranh” là:

“Tố tụng cạnh tranh là hoạt động điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh và giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật này”.

Vụ việc cạnh tranh được hiểu là vụ việc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh bị điều tra, xử lý theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2018, bao gồm vụ việc hạn chế cạnh tranh, vụ việc vi phạm quy định về tập trung kinh tế và vụ việc cạnh tranh không lành mạnh (Khoản 9 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018).

Mặc dù khái niệm “tố tụng cạnh tranh” được sử dụng và định nghĩa một cách chính thức tại khoản 9 Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018. Thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh là các bước, các giai đoạn tố tụng được thiết lập theo một trình tự nhất định với sự tham gia của các cơ quan, tổ chức, cá nhân theo thẩm quyền được pháp luật cạnh tranh quy định nhằm giải quyết một vụ việc cạnh tranh.

Thủ tục giải quyết vụ việc cạnh tranh bao gồm 04 giai đoạn tố tụng, đó là:

Thứ nhất, giai đoạn cơ quan cạnh tranh tiếp nhận và đánh giá các thông tin, khiếu nại làm cơ sở cho việc điều tra vụ việc cạnh tranh.

Thứ hai, giai đoạn điều tra vụ việc cạnh tranh.

Thứ ba, giai đoạn xử lý vụ việc cạnh tranh.

Thứ tư, giai đoạn xem xét lại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh. 

 

2. Giai đoạn tiếp nhận và đánh giá các thông tin, khiếu nại 

Theo quy định của pháp luật cạnh tranh ở Việt Nam hiện nay, cơ quan có thẩm quyền sẽ ra quyết định điều tra vụ việc cạnh tranh khi có đơn khiếu nại đã được thụ lý theo quy định tại Điều 80 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ra quyết định điều tra trong trường hợp việc khiếu nại vụ việc cạnh tranh đã đáp ứng yêu cầu theo quy định và được thụ lý (không thuộc trường hợp bị trả lại hồ sơ khiếu nại).

Điều 77 Luật Cạnh tranh năm 2018 xác định mọi tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh (sau đây gọi chung là bên khiếu nại) có quyền khiếu nại đến Ủy ban cạnh tranh quốc gia. Thời hiệu khiếu nại là 03 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện. Để khiếu nại được chấp nhận, theo Khoản 3 Điều 77 Luật Cạnh tranh năm 2018, bên khiếu nại phải nộp hồ sơ khiếu nại trong đó cung cấp các chứng cứ để chứng minh nội dung khiếu nại là có căn cứ và hợp pháp và các thông tin, chứng cứ liên quan khác mà bên khiếu nại cho rằng cần thiết để giải quyết vụ việc, đồng thời, phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của các chứng cứ đã cung cấp cho Ủy ban cạnh tranh quốc gia. 

Một vụ việc cạnh tranh sẽ bị điều tra, xử lý không chỉ dựa trên yêu cầu của bên khiếu nại mà còn trên cơ sở sự chủ động nhập cuộc của cơ quan cạnh tranh với tính chất là một thiết chế có nhiệm vụ bảo vệ “trật tự cạnh tranh” trong nền kinh tế. Điều 80 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định Thủ trưởng cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh ra quyết định điều tra vụ việc cạnh tranh trong trường hợp Ủy ban cạnh tranh quốc gia phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh trong thời hạn 03 năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh được thực hiện. 

Để có thông tin về hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh làm cơ sở cho việc điều tra, Điều 75 Luật Cạnh tranh năm 2018 quy định: Tổ chức, cá nhân phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm quy định của pháp luật về cạnh tranh có trách nhiệm thông báo và cung cấp thông tin, chứng cứ cho Ủy ban cạnh tranh quốc gia. Ngoài ra, dấu hiệu vi phạm pháp luật cạnh tranh còn có thể được Ủy ban cạnh tranh quốc gia thu thập từ quá trình điều tra tiền tố tụng hoặc từ các phương tiện truyền thông. Ủy ban cạnh tranh quốc gia có trách nhiệm tiếp nhận, xác minh và đánh giá các thông tin, chứng cứ về hành vi có dấu hiệu vi phạm quy định pháp luật cạnh tranh do tổ chức, cá nhân cung cấp. 

 

3. Giai đoạn điều tra vụ việc cạnh tranh

Điều tra vụ việc cạnh tranh là một giai đoạn bắt buộc trong thủ tục giải quyết vụ việc. Đồng thời, cũng có thể hiểu điều tra vụ việc cạnh tranh là một quy trình trong tố tụng cạnh tranh mà theo đó cơ quan cạnh tranh có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp nghiệp vụ cần thiết để xác định hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh và đối tượng thực hiện hành vi làm cơ sở cho việc xử lý vụ việc cạnh tranh. Theo Luật Cạnh tranh năm 2018, chủ thể của hoạt động điều tra vụ việc cạnh tranh là Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh (được xác định là loại cơ quan tiến hành tố tụng), Thủ trưởng Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh và Điều tra viên (được xác định là những người tiến hành tố tụng). 

Thời hạn điều tra vụ việc cạnh tranh được quy định riêng cho từng loại vụ việc cạnh tranh tại Điều 81 Luật Cạnh tranh năm 2018, cụ thể là:

1.Thời hạn điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh là 09 tháng kể từ ngày ra quyết định điều tra; đối với vụ việc phức tạp thì được gia hạn một lần nhưng không quá 03 tháng;

2.Thời hạn điều tra vụ việc vi phạm quy định về tập trung kinh tế là 90 ngày kể từ ngày ra quyết định điều tra; đối với vụ việc phức tạp thì được gia hạn một lần nhưng không quá 60 ngày;

3.Thời hạn điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh là 60 ngày kể từ ngày ra quyết định điều tra; đối với vụ việc phức tạp thì được gia hạn một lần nhưng không quá 45 ngày.

Trong quá trình thực hiện hoạt động điều tra, cơ quan cạnh tranh có thể sử dụng nhiều công cụ, phương tiện pháp lý khác nhau như: Áp dụng các biện pháp ngăn chăn hành chính; lấy lời khai; triệu tập người làm chứng, hoặc chuyển hồ sơ vụ việc cho cơ quan điều tra hình sự nếu phát hiện thấy có dấu hiệu của tội phạm.

Kết thúc gia đoạn điều tra, cơ quan điều tra phải lập Báo cáo điều tra và Kết luận điều tra để trình Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia tổ chức xử lý vụ việc cạnh tranh theo quy định.

- Giai đoạn xử lý vụ việc cạnh tranh:

Sau khi có kết quả điều tra, vụ việc cạnh tranh sẽ được giao cho cơ quan có thẩm quyền xử lý. Căn cứ vào tính chất của từng loại vụ việc cạnh tranh mà Luật Cạnh tranh năm 2018 trao thẩm quyền xử lý cho từng chủ thể khác nhau, cụ thể là:

+ Đối với vụ việc vi phạm quy định về tập trung kinh tế và vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, thẩm quyền xử lý thuộc về Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia;

+ Đối với vụ việc hạn chế cạnh tranh, thẩm quyền xử lý thuộc về Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh. Do tính chất đặc biệt của loại vụ việc này, sau khi nhận được kết quả điều tra từ Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia phải ra quyết định thành lập Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh để xử lý vụ việc thông qua Phiên điều trần. Phiên điều trần được tổ chức theo thủ tục tranh tụng và đảm bảo các nguyên tắc như một phiên xét xử của Tòa tư pháp.

 

4. Giai đoạn xem xét lại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh

Ở Việt Nam, các nhà lập pháp cho rằng quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia hay Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh vẫn là quyết định của cơ quan hành chính nên trong trường hợp không đồng ý với các quyết định này, các bên liên quan có quyền khiếu nại theo thủ tục khiếu nại hành chính trước khi có thể khởi kiện ra một cơ quan tư pháp. Theo Điều 96 Luật Cạnh tranh năm 2018 thì trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, tổ chức, cá nhân không nhất trí với một phần hoặc toàn bộ nội dung quyết định có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia. Việc giải quyết khiếu nại được quy định tại Điều 100 Luật Cạnh tranh năm 2018 như sau: 

+ Đối với vụ việc hạn chế cạnh tranh, sau khi thụ lý đơn khiếu nại, Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia ra quyết định thành lập Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh bao gồm Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia và tất cả các thành viên khác của Ủy ban cạnh tranh quốc gia, trừ các thành viên đã tham gia Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh trước đó. Việc ra quyết định giải quyết khiếu nại phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên Hội đồng giải quyết khiếu nại tham gia và Quyết định giải quyết khiếu nại được thông qua bằng cách biểu quyết theo đa số; trường hợp số phiếu ngang nhau thì quyết định theo ý kiến của Chủ tịch Hội đồng giải quyết khiếu nại (Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia).

+ Đối với vụ việc vi phạm quy định về tập trung kinh tế và vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, sau khi thụ lý đơn khiếu nại, Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia có trách nhiệm giải quyết khiếu nại theo thẩm quyền.

Theo quy định tại Điều 103 Luật Cạnh tranh năm 2018, trong trường hợp không nhất trí với Quyết định giải quyết khiếu nại do Hội đồng giải quyết khiếu nại hoặc Chủ tịch Ủy ban cạnh tranh quốc gia đã đưa ra, các bên liên quan có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với một phần hoặc toàn bộ nội dung của Quyết định giải quyết khiếu nại ra Toà án có thẩm quyền theo quy định của Luật Tố tụng hành chính (Tòa án cấp Tỉnh nơi mà bên khởi kiện cư trú, làm việc hoặc có trụ sở). 

Theo quy định của Điều 11 Luật Tố tụng hành chính năm 2015, vụ án hành chính được đảm bảo xét xử theo hai cấp xét xử là sơ thẩm và phúc thẩm, thậm chí trong trường hợp bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì còn có thể được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

 

5. Một số câu hỏi khác liên quan đến giải quyết vụ việc cạnh tranh

5.1 Nhiệm vụ, quyền hạn nào của thư ký phiên điều trần?

Căn cứ vào Điều 64 Luật Cạnh tranh năm 2018, nhiệm vụ và quyền hạn của thư ký phiên điều trần:

- Chuẩn bị các công tác nghiệp vụ cần thiết trước khi khai mạc phiên điều trần.

- Phổ biến nội quy phiên điều trần.

- Báo cáo với Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập đến phiên điều trần.

- Ghi biên bản phiên điều trần.

- Thực hiện nhiệm vụ khác theo phân công của Chủ tịch Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh.

 

5.2 Chủ thể nào tham gia tố tụng cạnh tranh?

Điều 66 Luật Cạnh tranh năm 2018: Bên khiếu nại; Bên bị khiếu nại; Bên bị điều tra; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên khiếu nại, bên bị khiếu nại, bên bị điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; Người làm chứng; Người giám định; Người phiên dịch.

 

5.3 Người làm chứng trong vụ việc cạnh tranh là người như thế nào?

Khoản 1 Điều 69 Luật cạnh tranh năm 2018, người làm chứng là người biết các tình tiết có liên quan đến nội dung vụ việc cạnh tranh có thể được Cơ quan điều tra vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh triệu tập tham gia tố tụng cạnh tranh với tư cách là người làm chứng. Người mất năng lực hành vi dân sự không thể là người làm chứng.