Em làm đến giữa tháng 11/2017 thì nghỉ đến 24/11/2017 thì em sinh.Nhưng đến nay tiền thai sản em vẫn chưa có,em hỏi thì công ty trả lời là em tham gia bảo hiểm khi đã mang thai nên bên bảo hiểm cần phúc tra lại và chỉ giải quyết khi em vào làm lại một hai tháng. Bây giờ em vì hoàn cảnh nên muốn xin nghỉ làm luôn. Vậy cho hỏi như vậy tiền thai sản em có được lãnh hay không. Em xin luật sư giải đáp dùm em. Em xin cảm ơn.

Luật sư trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu tư vấn đến Công ty Luật Minh Khuê của chúng tôi, trường hợp của bạn được tư vấn như sau:

1. Cơ sở pháp lý

Luật bảo hiểm xã hội năm 2014

Nghị định 95/2013/NĐ-CP

2. Chuyên viên tư vấn:

Theo thông tin bạn nêu trên thì bạn cần xác định rõ một số nội dung sau để giải quyết vấn đề của mình:

Em vào làm tháng 3/2016 thì cuối năm công ty có hứa qua năm 2017 mới kí hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm cho em. Nhưng đến tháng 5/2017 công ty mới đóng bảo hiểm cho em khi đó thì em mang thai đã 3 tháng, em làm đến giữa tháng 11/2017 thì nghỉ đến 24/11/2017 thì em sinh. Nhưng đến nay tiền thai sản em vẫn chưa có,em hỏi thì công ty trả lời là em tham gia bảo hiểm khi đã mang thai nên bên bảo hiểm cần phúc tra lại và chỉ giải quyết khi em vào làm lại một hai tháng. Bây giờ em vì hoàn cảnh nên muốn xin nghỉ làm luôn. 

Theo như bạn nêu công ty bạn đã thực hiện hành vi sai phạm theo Nghị định 95/2013/NĐ-CP về việc không giao kết hợp đồng lao động và đóng chậm bảo hiểm xã hội cho bạn:

Điều 5. Vi phạm quy định về giao kết hợp đồng lao động

1. Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc cố định có thời hạn trên 3 tháng; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động theo quy định tại Điều 22 của Bộ luật lao động theo một trong các mức sau đây:

a) Từ 500.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;

Điều 26. Vi phạm quy định về đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người lao động có hành vi thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.

2. Phạt tiền với mức từ 12% đến 15% tổng số tiền phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp tại thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính nhưng tối đa không quá 75.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp;

b) Đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp không đúng mức quy định

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc truy nộp số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 1, Khoản 2 và Khoản 3 Điều này;

b) Buộc đóng số tiền lãi của số tiền bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp chưa đóng, chậm đóng theo mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ Quỹ bảo hiểm xã hội trong năm đối với vi phạm quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.

Việc công ty đóng chậm bảo hiểm xã hội cho bạn thì bạn có quyền kiến nghị  đến Phòng lao động thương binh và xã hội nơi công ty bạn đặt trụ sở để có hình thức xử lý với hành vi đóng chậm bảo hiểm xã hội của bạn và bên cơ quan có thẩm quyền sẽ buộc phía công ty của bạn phải đóng phần bảo hiểm xã hội còn thiếu và phần lãi suất tương đương với quy định trên.

Còn về điều kiện để hưởng chế độ thai sản của bạn thì sẽ đối chiếu với quy định sau:

Điều 31. Điều kiện hưởng chế độ thai sản

1. Người lao động được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Lao động nữ mang thai;

b) Lao động nữ sinh con;

c) Lao động nữ mang thai hộ và người mẹ nhờ mang thai hộ;

d) Người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi;

đ) Lao động nữ đặt vòng tránh thai, người lao động thực hiện biện pháp triệt sản;

e) Lao động nam đang đóng bảo hiểm xã hội có vợ sinh con.

2. Người lao động quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều này phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con hoặc nhận nuôi con nuôi.

3. Người lao động quy định tại điểm b khoản 1 Điều này đã đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 12 tháng trở lên mà khi mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền thì phải đóng bảo hiểm xã hội từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng trước khi sinh con.

4. Người lao động đủ điều kiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con hoặc nhận con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 34, 36, 38 và khoản 1 Điều 39 của Luật này.

Nếu xét theo thông tin bạn nêu thì bạn vẫn đủ điều kiện để hưởng chế độ thai sản, nhưng nếu bên bảo hiểm nghi ngờ hoặc phúc tra lại vấn đề của bạn, bạn có quyền nói rõ vấn đề của mình để đảm bảo quyền lợi của bạn do hành vi sai phạm của công ty.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Lao động - Công ty luật Minh Khuê