1. Trúng đấu giá toàn bộ doanh nghiệp Nhà nước sở hữu 100% vốn phải thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp?

Theo quy định tại khoản 2 của Điều 28 Nghị định số 23/2022/NĐ-CP, trong quá trình bán toàn bộ doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, người chiến thắng đấu giá phải chịu trách nhiệm thanh toán các khoản nợ phải trả và thu hồi các khoản nợ phải thu theo cam kết. Đồng thời, người chiến thắng đấu giá cũng được quyền và phải thừa kế các quyền, lợi ích pháp lý, và nghĩa vụ của doanh nghiệp theo hợp đồng mua bán toàn bộ doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và các hợp đồng khác đã ký kết.

Lưu ý: Ngoài trách nhiệm đã nêu ở trên, trong quá trình bán toàn bộ doanh nghiệp mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, người chiến thắng đấu giá cũng có các trách nhiệm sau: Thanh toán số tiền mua doanh nghiệp theo hợp đồng đã ký; Không được chuyển nhượng hoặc bán một phần vốn và tài sản của doanh nghiệp trước khi hoàn tất việc thanh toán số tiền mua doanh nghiệp và các cam kết khác (nếu có) trong hợp đồng mua bán toàn bộ doanh nghiệp; Có quyền lựa chọn hình thức pháp lý cho doanh nghiệp sau khi mua và thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Hồ sơ đăng ký doanh nghiệp phải tuân thủ theo quy định của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp.

Trong trường hợp này, hợp đồng chuyển nhượng hoặc các tài liệu chứng minh đã hoàn tất việc chuyển nhượng sẽ được thay thế bằng quyết định của cơ quan có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch bán toàn bộ doanh nghiệp và thông báo việc hoàn thành quá trình bán toàn bộ doanh nghiệp; Đối với các tổ chức tín dụng chiến thắng đấu giá, cần phải tuân thủ các quy định pháp luật về ngân hàng sau khi hoàn tất việc mua doanh nghiệp.

 

2. Trách nhiệm chuyển giao tài sản của doanh nghiệp Nhà nước sở hữu 100% vốn cho người trúng đấu giá?

Theo quy định tại khoản 3 của Điều 27 Nghị định số 23/2022/NĐ-CP về trách nhiệm trong tổ chức thực hiện bán toàn bộ doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ: Doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được bán phải chịu trách nhiệm bàn giao tài sản, sổ sách và các hồ sơ liên quan cho người chiến thắng đấu giá. Điều này đảm bảo rằng người mua có mọi thông tin cần thiết và quyền lợi trong việc quản lý và điều hành doanh nghiệp sau khi mua. Đồng thời, việc bàn giao này cũng giúp đảm bảo tính minh bạch và tuân thủ pháp luật trong quá trình chuyển giao quản lý doanh nghiệp từ bên bán sang bên mua.

Ngoài ra, doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ được bán còn phải thực hiện các trách nhiệm sau:

- Tự chuẩn bị hồ sơ, tài liệu theo quy định tại điểm a khoản 1 của Điều 25 Nghị định 23/2022/NĐ-CP; tổ chức xử lý các vấn đề tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp theo quy định của pháp luật;

- Trình cơ quan đại diện của chủ sở hữu quyết định hoặc phê duyệt theo thẩm quyền các nội dung quy định tại điểm b khoản 1 Điều 27 Nghị định 23/2022/NĐ-CP (đối với doanh nghiệp do Thủ tướng Chính phủ thành lập) hoặc điểm a khoản 2 Điều 27 Nghị định 23/2022/NĐ-CP (đối với doanh nghiệp do cơ quan đại diện của chủ sở hữu thành lập hoặc được giao quản lý).

- Ký kết hợp đồng thuê tư vấn định giá doanh nghiệp theo ủy quyền của cơ quan đại diện chủ sở hữu trong trường hợp được ủy quyền. Đây là một phương thức phổ biến được áp dụng trong các trường hợp cần định giá tài sản, đặc biệt là khi có sự tham gia của Nhà nước trong việc quản lý và sở hữu doanh nghiệp. Cơ quan đại diện chủ sở hữu có thể ủy quyền cho một đơn vị tư vấn hoặc chuyên gia ngoại bộ để thực hiện công việc định giá theo quy định của pháp luật. Hợp đồng thuê tư vấn định giá doanh nghiệp thông thường sẽ ghi rõ các điều khoản như mục đích và phạm vi của việc định giá, các phương pháp và tiêu chí định giá được sử dụng, thời gian và cách thức thanh toán, các cam kết và trách nhiệm của các bên liên quan. Việc có một hợp đồng thuê tư vấn định giá rõ ràng và chi tiết giúp đảm bảo tính minh bạch, công bằng và chính xác trong quá trình định giá tài sản của doanh nghiệp, đồng thời cũng tạo điều kiện cho cơ quan đại diện chủ sở hữu và các bên liên quan để theo dõi và kiểm soát công việc được thực hiện.

- Tạo điều kiện cho người đăng ký mua doanh nghiệp tiếp cận tài liệu theo quy định tại khoản 1 của Điều 28 Nghị định 23/2022/NĐ-CP;

- Tổ chức và thực hiện phương án bán toàn bộ doanh nghiệp theo phương thức đấu giá quy định tại Điều 26 Nghị định 23/2022/NĐ-CP; báo cáo kết quả bán doanh nghiệp cho cơ quan đại diện của chủ sở hữu;

- Báo cáo cơ quan đại diện của chủ sở hữu xem xét và quyết định về việc xử lý các khoản chi phí bán doanh nghiệp trong trường hợp không bán được hoặc dừng bán toàn bộ doanh nghiệp. Điều này bao gồm việc quản lý các chi phí phát sinh trong quá trình chuẩn bị cho việc bán, chi phí tư vấn, chi phí tiến hành các thủ tục pháp lý và quản lý, cũng như các chi phí khác mà doanh nghiệp phải chịu trong quá trình này. Cơ quan đại diện của chủ sở hữu thường sẽ tiến hành xem xét kỹ lưỡng các chi phí này và quyết định cách thức xử lý dựa trên các quy định pháp luật, hợp đồng và các quy định nội bộ. Các quyết định có thể bao gồm việc hoàn trả một phần hoặc toàn bộ chi phí cho các bên liên quan, áp dụng các biện pháp kiểm soát chi phí hoặc phân bổ chi phí cho các hoạt động khác của doanh nghiệp.

 

3. Tiền bán toàn bộ doanh nghiệp Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ có cần nộp vào ngân sách Nhà nước?

Theo quy định tại Điều 31 của Nghị định số 23/2022/NĐ-CP, số tiền thu được từ việc bán toàn bộ doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải được nộp vào ngân sách trung ương và ngân sách địa phương theo quy định của Chính phủ, sau khi đã trừ đi các chi phí sau: Chi phí liên quan đến quá trình bán toàn bộ doanh nghiệp; Chi phí thực hiện các chính sách đối với người lao động và người giữ chức danh lãnh đạo quản lý.

Lưu ý: Các trường hợp bán toàn bộ doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm: Doanh nghiệp thuộc diện được cổ phần hóa theo quy định nhưng không đủ điều kiện thực hiện cổ phần hóa và được quyết định chuyển sang hình thức bán toàn bộ doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bởi Thủ tướng Chính phủ. Trong trường hợp này, việc bán toàn bộ doanh nghiệp có thể được xem xét là một phương án để thu hồi vốn và tái cấu trúc doanh nghiệp. Các trường hợp khác mà Thủ tướng Chính phủ quyết định dựa trên đề nghị của cơ quan đại diện chủ sở hữu. Điều này có thể bao gồm các tình huống đặc biệt khác như: cần tái cấu trúc doanh nghiệp, cần thu hồi vốn đầu tư để đầu tư vào lĩnh vực khác có tiềm năng phát triển cao hơn, hoặc có các yếu tố khác ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Trong mỗi trường hợp, quyết định bán toàn bộ doanh nghiệp mà Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ thường được đưa ra sau khi đã tiến hành các nghiên cứu, đánh giá và thảo luận kỹ lưỡng từ phía các cơ quan quản lý nhà nước và cơ quan đại diện chủ sở hữu. Đảm bảo tính minh bạch, công bằng và hiệu quả trong quá trình bán doanh nghiệp là rất quan trọng để bảo vệ lợi ích của các bên liên quan và đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết Khoản lợi nhuận còn lại của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ phải nộp ngân sách nhà nước được xác định như thế nào?. Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu tới địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!