1. Một số khái niệm về trường đại học tư thục

Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) đã từng đưa ra nhận định về sự khác biệt giữa trường công và trường tư, cụ thể:

- Trường công là trường “được kiểm soát và quản lý trực tiếp bởi chính quyền hoặc một cơ quan phụ trách giáo dục công, hoặc trực tiếp bởi một cơ quan của Chính phủ, hoặc bởi một tổ chức lãnh đạo (hội đồng, ban...) mà phần lớn các thành viên của tổ chức đó được Nhà nước bổ nhiệm hoặc được cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của nhà trường tín nhiệm bình bầu ra.

- Trường tư là trường “được kiểm soát và quản lý bởi một tổ chức phi chính phủ (ví dụ như công ty hoặc doanh nghiệp) mà ở đó, phần lớn các thành viên của ban lãnh đạo do các tổ chức tư bổ nhiệm”. Như vậy, theo OECD, sự khác biệt giữa trường công và trường tư là chủ thể quản lý và cơ chế quản lý khác nhau; từ đó, dẫn đến cơ chế hình thành đội ngũ quản lý khác nhau.

Ở Việt Nam, quan niệm về trường công và trường tư được thể hiện trong Luật Giáo dục Đại học (GDĐH) năm 2012. Khoản 2, tiết a và b, Điều 7, chương I của Luật này nêu rõ: “Cơ sở GDĐH công lập thuộc sở hữu nhà nước, do Nhà nước đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất”; “Cơ sở GDĐH tư thục thuộc sở hữu của tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân, do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế tư nhân hoặc cá nhân đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất.”

Như vậy, với Việt Nam, sự khác biệt giữa trường công và trường tư là chủ sở hữu; từ đó định hướng chính sách của Việt Nam là phân biệt rõ trường tư vì lợi nhuận hay không vì lợi nhuận. Điều này cho thấy, quan niệm của thế giới về phân biệt trường công và trường tư chủ yếu dựa vào cấu trúc quản trị; trong khi, quan niệm của Việt Nam dựa chủ yếu vào quyền sở hữu. Đây là khác biệt khá lớn của nền giáo dục Việt Nam so với thế giới.

2. Phân loại các trường đai học tư thục

Trường đại học tư thục là một trong hai loại hình cơ sở giáo dục đại học được quy định trong Luật Giáo dục đại học 2018. Theo đó, cơ sở giáo dục đại học bao gồm cơ sở giáo dục đại học công lập và tư thục. Nếu cơ sở giáo dục đại học công lập do Nhà nước đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động và là đại diện chủ sở hữu, thì cơ sở giáo dục đại học tư thục do nhà đầu tư trong nước hoặc nước ngoài đầu tư, bảo đảm điều kiện hoạt động.

Trường đại học tư thục bao gồm trường đại học tư thục hoạt động vì lợi nhuận và không vì lợi nhuận. Tuy nhiên, thực ra thì trong luật thực định hay ngoài thực tiễn đều không có định nghĩa trực tiếp để chỉ khái niệm “trường đại học tư thục hoạt động vì lợi nhuận”. Đối với loại hình đại học này, luật giáo dục đại học cũng chỉ gọi là “trường đại học tư thục” nói chung. Cũng như vậy, cụm từ “trường đại học tư thục hoạt động vì lợi nhuận” chỉ xuất hiện khi đặt bên cạnh để so sánh với “trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận”.

Còn trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận là cơ sở giáo dục đại học mà nhà đầu tư cam kết hoạt động không vì lợi nhuận, không rút vốn. Nhà đầu tư của trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận cũng không hưởng lợi tức; thay vào đó, phần lợi nhuận tích lũy hàng năm thuộc sở hữu chung, hợp nhất, không phân chia để tiếp tục đầu tư phát triển nhà trường.

3. Quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục

Thứ nhất: Tiêu chuẩn, số nhiệm kỳ, việc ủy quyền của chủ tịch hội đồng trường.

Thứ hai: Tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn, thủ tục bầu, miễn nhiệm phó chủ tịch (nếu có) và thư ký hội đồng trường.

Thứ ba: Số lượng, cơ cấu thành viên; việc bổ sung, thay thế thành viên; hình thức quyết định của hội đồng trường đối với từng loại hoạt động.

Thứ tư: Thủ tục hội đồng trường quyết định nhân sự hiệu trưởng trường đại học, việc quyết định chức danh quản lý khác của trường đại học trong quy trình bổ nhiệm nhân sự; căn cứ và thủ tục đề xuất bãi nhiệm, miễn nhiệm hiệu trưởng trường đại học; số lượng cán bộ quản lý cấp phó; thời gian tối đa giữ chức vụ hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và chức danh quản lý khác của trường đại học.

Thứ năm: Ngân sách hoạt động, cơ quan thường trực, cơ quan kiểm soát và bộ máy giúp việc của hội đồng trường; thủ tục, thành phần của hội nghị toàn thể hoặc hội nghị đại biểu của trường đại học.

Thứ sáu: Phân định trách nhiệm và quyền hạn khác giữa hội đồng trường và hiệu trưởng trường đại học.

Thứ bảy: Nội dung khác theo yêu cầu tổ chức và hoạt động của hội đồng trường.

Thứ tám: Quy định tỷ lệ đại diện nhà đầu tư trong tổng số thành viên hội đồng trường đại học.

Chính phủ quy định chi tiết thủ tục thành lập, công nhận hội đồng trường; việc công nhận, bãi nhiệm, miễn nhiệm chủ tịch hội đồng trường.

4. Quy trình thành lập trường đại học tư thục

4.1. Đối với trường đại học tư thục thành lập mới:

Thủ tục thành lập trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận theo quy định hiện hành.

4.2. Đối với trường đại học tư thục chuyển đổi sang hoạt động không vì lợi nhuận:

Bước 1: Chủ tịch hội đồng quản trị tổ chức hợp đại hội đồng cổ đông thông qua việc trường đại học tư thục chuyển sang hoạt động không vì lợi nhuận;

Bước 2: Gửi hồ sơ đề nghị trường đại học tư thục chuyển sang hoạt động không vì lợi nhuận về Bộ Giáo dục và Đào tạo để tổ chức thẩm định theo quy định;

Bước 3: Bộ Giáo dục và Đào tạo trình Thủ tướng Chính phủ ra quyết định chuyển đổi thành trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận..

Hồ sơ được gửi qua đường bưu điện hoặc chuyển trực tiếp về Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Lưu ý:

- Đối với trường đại học tư thục thành lập mới:

Ngoài hồ sơ xin thành lập trường đại học theo quy định, trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận cần bổ sung:

+ Minh chứng về tài sản chung hợp nhất không phân chia đầu tiên của nhà trường (nếu có);

+ Văn bản cam kết của các tổ chức, cá nhân là thành viên góp vốn xây dựng trường (nếu có) về việc nhận lợi tức theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 6 và văn bản cam kết việc sử dụng phần tài chính chênh lệch giữa thu và chi của nhà trường theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 6 của Nghị định số 141/2013/NĐ-CP của Chính phủ.

- Đối với trường đại học tư thục chuyển sang hoạt động không vì lợi nhuận, hồ sơ gồm:

+ Tờ trình đề nghị chuyển sang hoạt động không vì lợi nhuận, trong đó nêu rõ tôn chỉ, mục đích hoạt động không vì lợi nhuận; phần vốn góp, phần tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất không phân chia của nhà trường; cam kết việc sử dụng phần tài chính chênh lệch giữa thu và chi của nhà trường theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 6 của Nghị định số 141/2013/NĐ-CP của Chính phủ;

+ Biên bản họp đại hội đồng cổ đông thông qua việc trường đại học tư thục chuyển sang hoạt động không vì lợi nhuận. Biên bản này phải được sự đồng ý của đại diện tối thiểu 75% tổng số vốn góp của các thành viên góp vốn, trừ khi quy chế tổ chức và hoạt động của trường có quy định tỷ lệ này cao hơn;

+ Văn bản cam kết của các tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu nguồn vốn đầu tư thực hiện quy định tại Điều 6 của Nghị định số 141/2013/NĐ-CP của Chính phủ;

+ Dự thảo quy chế tổ chức và hoạt động; quy chế tài chính nội bộ của nhà trường và các minh chứng liên quan đến vốn điều lệ của trường.

- Số lượng: 01 bộ.

5.  Hiệu trưởng, hội đồng trường và hội nghị nhà đầu tư trong mô hình quản trị trường đại học tư thục

Luật Giáo dục đại học 2018 sử dụng thuật ngữ “hội nghị nhà đầu tư” và “hội đồng trường” thay thế cho “đại hội đồng cổ đông” và “hội đồng quản trị”. Theo đó, bộ khung mô hình quản trị đại học trong trường đại học tư thục sẽ bao gồm hội nghị nhà đầu tư, hội đồng trường, hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng, ban kiểm soát (có thể có hoặc không có), cùng các hội đồng, phòng, ban, khoa, bộ môn… cùng thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà trường.

Về hội nghị nhà đầu tư, nếu như Luật Giáo dục đại học 2012 quy định “Hội đồng quản trị là tổ chức đại diện duy nhất cho chủ sở hữu của nhà trường” mà không minh định một cơ cấu nào khác đại diện cho quyền lợi của nhà đầu tư, thì Luật Giáo dục đại học 2018 đã quy định “nhà đầu tư là một cấp cao nhất trong cơ cấu quản trị trường đại học tư thục thông qua hội nghị nhà đầu tư”. Hội nghị nhà đầu tư là hội nghị của tất cả các nhà đầu tư của trường đại học tư thục được quy định trong Luật Giáo dục đại học.

Điều kiện, hình thức quyết định, tổ chức và hoạt động của hội nghị nhà đầu tư gần như để ngỏ chưa được nhắc đến trong Luật Giáo dục đại học 2018. Tuy nhiên, luật cũng ghi chú tất cả những vấn đề này phải được quy định cụ thể trong quy chế tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục đại học. Ngược lại, quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục, theo quy định tại Điểm đ, Khoản 2, Điều 16a, Luật Giáo dục đại học 2018, lại do hội nghị nhà đầu tư thông qua nội dung.

Về hội đồng trường, Luật Giáo dục đại học 2012 dù chưa có thiết chế hội đồng trường đối với trường đại học tư thục, nhưng thay vào đó “hội đồng quản trị là tổ chức đại diện duy nhất cho chủ sở hữu” của trường đại học tư thục. Hiện nay, Luật Giáo dục đại học 2018 định nghĩa hội đồng trường dựa theo loại hình.

Theo đó, đối với trường đại học tư thục và trường đại học tư thục hoạt động không vì lợi nhuận, Hội đồng trường “là tổ chức quản trị, đại diện cho nhà đầu tư và các bên có lợi ích liên quan” (Khoản 1, Điều 17, Luật Giáo dục đại học 2018); trong khi đó, đối với trường đại học công lập, Hội đồng trường “là tổ chức quản trị, thực hiện quyền đại diện của chủ sở hữu và các bên có lợi ích liên quan” (Khoản 1, Điều 16, Luật Giáo dục đại học 2018).

Về hiệu trưởng, vai trò điều hành của hiệu trưởng được quy định rõ từ Luật Giáo dục đại học 2012 cho tới Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018. Theo đó, hiệu trưởng “là người chịu trách nhiệm quản lý, điều hành các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học…” phù hợp với một cơ cấu quản trị.

6. Nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng trường đại học tư thục

Tổ chức thực hiện hoạt động chuyên môn, học thuật, tổ chức, nhân sự, tài chính, tài sản, hợp tác trong nước, quốc tế là những nhiệm vụ và quyền hạn đặc thù của chức danh hiệu trưởng nhằm đạt được các mục tiêu chung tối thiểu của một cơ sở giáo dục đại học, dù là công lập hay tư thục. Thậm chí, Điểm c, Khoản 4, Điều 17, Luật Giáo dục đại học 2018 còn dự liệu trường hợp chủ tịch hội đồng trường là người nắm giữ hết hoặc chia sẻ những nhiệm vụ và quyền hạn trên thì phải có đủ những tiêu chuẩn như hiệu trưởng.

Trừ những văn bản đã minh định trong luật hoặc trong quy chế tổ chức hoạt động của trường là thuộc thẩm quyền của hội nghị nhà đầu tư hoặc của hội đồng trường, hiệu trưởng có thẩm quyền ban hành nhiều quy định trong công tác quản lý hoạt động hàng ngày của cơ sở giáo dục đại học, như: bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm chức danh quản lý thuộc thẩm quyền, quyết định dự án đầu tư.

Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước pháp luật, hội đồng trường, và các bên liên quan về việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn được giao, bao gồm: thực hiện công khai, minh bạch thông tin; thực hiện chế độ báo cáo và chịu sự thanh tra, kiểm tra của cơ quan có thẩm quyền; thực hiện trách nhiệm giải trình trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn được giao đó.

7. Tiêu chuẩn và nhiệm kỳ của hiệu trưởng trường đại học tư thục

Tiêu chuẩn của hiệu trưởng trường đại học là một điều từng gấy tranh cãi nhiều trong thực tiễn khi thực hiện Luật Giáo dục đại học 2012. Theo đó, hiệu trưởng phải “có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có uy tín về khoa học, giáo dục, có năng lực quản lý và đã tham gia quản lý cấp khoa, phòng của cơ sở giáo dục đại học ít nhất 05 năm; có trình độ tiến sĩ trở lên”. Luật Giáo dục đại học 2018 đã thay thế tiêu chuẩn “đã tham gia quản lý cấp khoa, phòng ít nhất 05 năm” bằng quy định linh hoạt hơn, đó là có “kinh nghiệm quản lý giáo dục đại học”.

Nhiệm kỳ của hiệu trưởng theo quy định trong Luật Giáo dục đại học 2012 là 05 năm. Điều này cũng đã được linh hoạt hóa trong Luật Giáo dục đại học 2018 khi quy định nhiệm kỳ hiệu trưởng do hội đồng trường quyết định trong phạm vi nhiệm kỳ của hội đồng trường.