1. Khái niệm
Triết học. Nhân thân, như là một khái niệm của triết học luật, được hiểu là xu hướng của cá nhân trở thành chủ thể của quan hệ pháp luật.. Xu hướng này hình thành một cách tự nhiên, không điều kiện và như nhau đối với tất cả mọi cá nhân, mọi thành viên trong xã hội có tổ chức. Xã hội học. Nội dung xã hội học của nhân thân còn được gọi là thân phận của cá nhân. Thân phận được hiểu là các điều kiện chủ quan và khách quan mà trong những điều kiện ấy, cá nhân xác lập các quan hệ xã hội. Tham gia vào đời sống xã hội, mỗi cá nhân mang thân phận của mình. Thân phận ấy quyết định các khả năng hưởng quyền của cá nhân, thông qua việc lựa chọn loại hình giao dịch, đối tác giao dịch trong hoàn cảnh, điều kiện cho phép. Có thể hình dung: người nghèo chỉ mua xe đạp hoặc xe máy rẻ tiền và trở thành chủ sở hữu của xe đạp, xe máy rẻ tiền chứ không mua ô tô hoặc xe máy đắt tiền; người giàu có thể ra nước ngoài để học đại học, chứ không học trong nước; người có nhiều của cải có thể nghĩ đến việc định đoạt tài sản của mình sau khi chết bằng di chúc; người nghèo thường để lại gia tài khiêm tốn của mình cho những người thừa kế theo pháp luật; người mang thân phận con của một người khác là người thừa kế theo pháp luật của người sau này;.. Thân phận của mỗi người có thể thay đổi do tác động của các nỗ lực chủ quan (phấn đấu) hoặc của hoàn cảnh khách quan (may mắn hoặc xui xẻo); do giao dịch (được nhận làm con nuôi) hoặc do sự kiện pháp lý (khi người chồng chết, người vợ trở thành goá bụa). Luật. Nhân thân, như là một khái niệm pháp lý, có thể được định nghĩa là tổng hợp các quan hệ pháp luật có tác dụng ghi nhận sự hiện hữu của một cá nhân trong cuộc sống pháp lý, với tư cách là chủ thể của quyền và nghĩa vụ pháp lý. Tư cách chủ thể của quyền và nghĩa vụ pháp lý, đến lượt mình, là điều kiện đề cá nhân được hưởng và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý cụ thể, đặc thù. Bởi vậy, ta nói rằng nhân thân của cá nhân là cơ sở của việc xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân trong khuôn khổ pháp luật.
2. Thời gian tồn tại của nhân thân
Nguyên tắc. Được thừa nhận như nhau cho tất cả mọi người, nhân thân của cá nhân gắn liền với cuộc sống của cá nhân đó. Bất kỳ người nào đến với thế giới này đều trở thành chủ thể của luật dân sự . Bởi vậy, một người có nhân thân khi được sinh ra và chấm dứt nhân thân khi chết. Cuộc sống sinh học của con người đòi hỏi được nhìn nhận về mặt pháp lý và sự nhìn nhận đó biến cuộc sống sinh học thành cuộc sống pháp lý. Trong một số trường hợp đặc thù, cuộc sống của cá nhân bắt đầu không phải từ lúc cá nhân được sinh ra mà ngay từ lúc cá nhân thành thai, tất nhiên với điều kiện sinh ra và còn sống Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng nhân thân của cá nhân tồn tại một cách đầy đủ trước khi cá nhân sinh ra. Theo một câu ngạn ngữ trong luật học La Mã, infans conceptus pro nato habetur quoties de comodo ejus agitur (trẻ con thành thai được coi như đã sinh ra, một khi điều đó có lợi cho trẻ đó), việc ghi nhận sự tồn tại của cá nhân ngay từ lúc thành thai chỉ được thực hiện trong những trường hợp được pháp luật dự kiến và chỉ có ý nghĩa phục vụ cho việc giải quyết một hoặc một số vấn đề pháp lý đặc thù phát sinh trong những trường hợp đó (thừa kế di sản của một người; suy đoán một người là con trong giá thú của một cặp vợ chồng;…). Nếu vấn đề pháp lý đặc thù không phát sinh thì vấn đề nhân thân của người mới thành thai cũng không được đặt ra.
3. Nhân thân và năng lực
Nhân thân và năng lực pháp luật. Theo BLDS Điều 14 khoản 1, năng lực pháp luật của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Điều 14 khoản 2 thừa nhận rằng mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật như nhau. Thực ra, năng lực pháp luật của các cá nhân không như nhau. Ví dụ, trong luật Việt Nam hiện hành, người thuộc giới tính nam mà chưa được 20 tuổi không thể có khả năng có quyền kết hôn trong bất kỳ trường hợp nào và do đó, không thể được coi là có năng lực pháp luật kết hôn; trong khi tất cả những người trên 20 tuổi, trên nguyên tắc, đều có năng lực pháp luật kết hôn34 . Đáng lý ra, luật phải quy định rằng tất cả các cá nhân đều có nhân thân pháp lý như nhau, chứ không phải năng lực pháp luật như nhau. sự tồn tại của nhân thân là cơ sở của việc xác lập năng lực pháp luật; còn năng lực pháp luật có được xác lập hay không, lại lệ thuộc vào việc cá nhân có hay không có đủ các điều kiện do pháp luật quy định để được huởng một quyền nào đó. Cần nhấn mạnh rằng cả trong trường hợp cá nhân không có năng lực pháp luật hoặc trong trường hợp năng lực pháp luật bị tước bỏ đối với một hoặc nhiều quyền nào đó, thì nhân thân vẫn tồn tại một cách trọn vẹn; bởi nhân thân chỉ là thiên hướng, là tiềm năng có quyền chứ chưa phải là khả năng có quyền. Nói cách khác, nhân thân là điều kiện để có năng lực pháp luật và điều kiện này được thiết lập như nhau đối với tất cả các cá nhân. Có lẽ, do muốn đồng hoá hai khái niệm nhân thân và năng lực pháp luật mà các tác giả BLDS năm 2005 đã thừa nhận rằng năng lực pháp luật của các cá nhân là như nhau. Dẫu sao, tình trạng có những người không có năng lực pháp luật đối với một quyền nào đó, trong khi những người khác lại có năng lực pháp luật đối với quyền đó lại cũng được ghi nhận trong chính BLDS, như ta đã biết. Mặt khác, tình trạng mất năng lực pháp luật luôn luôn có tính chất cá biệt và chỉ được ghi nhận trong các trường hợp cụ thể trong các quan hệ cụ thể. Ví dụ, con có hành vi xâm phạm tính mạng của cha sẽ không có quyền hưởng di sản do cha để lại, áp dụng BLDS Điều 643; nhưng con trong trường hợp này vẫn duy trì năng lực pháp luật thừa kế đối với tất cả những người khác, đặc biệt là đối với mẹ của mình. Nhân thân và năng lực hành vi. Theo BLDS Điều 17, năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự. Nếu nhân thân là điều kiện để có năng lực pháp luật, thì năng lực pháp luật là điều kiện để có năng lực hành vi. Năng lực hành vi có thể chưa có, chưa có đủ, bị mất hoặc bị hạn chế35 , do tuổi tác, sức khoẻ, khả năng nhận thức hoặc do nhiễm thói hự, tật xấu dẫn đến sự suy đồi về nhân cách, phẩm hạnh.. Thế nhưng, trong bất kỳ trường hợp nào, nhân thân vẫn còn nguyên vẹn. Nói cách khác, nhân thân của cá nhân không bị ảnh hưởng bởi tính hoàn hảo hay không hoàn hảo của năng lực hành vi.
4. Các trường hợp đặc thù
Các trường hợp đặc thù
Trong các trường hợp sau đây, cá nhân chưa hẳn đã chấm dứt cuộc sống sinh học của mình, nhưng cuộc sống pháp lý trở nên mong manh và điều đó khiến cho tính hiện thực của nhân thân bị suy yếu. Tuỳ theo mức độ suy yếu của nhân thân pháp lý, luật thực định Việt Nam ghi nhận các trường hợp vắng mặt, mất tích và tuyên bố một người là đã chết.
Vắng mặt
Khái niệm. Vắng mặt, theo nghĩa thông dụng, được hiểu là việc một cá nhân ngưng xuất hiện ở nơi cư trú mà cũng không để lại tin tức cho những người thân quen cũng như những người có quan tâm và tình trạng này kéo dài trong một thời gian. Luật Việt Nam hiện hành không định nghĩa vắng mặt về phương diện pháp lý mà chỉ quy định các điều kiện để xác lập tình trạng này bằng con đường tư pháp.
5.Điều kiện
Điều luật. Theo BLDS Điều 74, khi một người biệt tích từ sáu tháng liền trở lên, thì những người có quyền và lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Toà án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Toà án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt theo quy định tại Điều 75 của Bộ luật này. Có thể rút ra từ điều luật ấy các điều kiện cần và đủ của việc xác lập tình trạng vắng mặt như sau: có sự biệt tích của một người, sự biệt tích kéo dài trong một thời gian và có thông báo tìm kiếm của Toà án. Biệt tích. Luật không định nghĩa cụm từ biệt tích. Thực tiễn, về phần mình, thừa nhận rằng chỉ coi là biệt tích một khi đương sự vắng mặt không chỉ tại nơi cư trú thường xuyên mà cả tại những nơi đương sự tạm trú, thậm chí tại những nơi đương sự thường lui tới trong quá trình sống và giao tiếp hàng ngày (cơ quan làm việc, nơi lui tới mua sắm, ăn uống, giải trí , thư giãn hàng ngày,…). Một cách tổng quát, sự biệt tích được ghi nhận một khi không còn sự xuất hiện của đương sự theo ghi nhận của tất cả những người có khả năng nhận biết đương sự, bao gồm người thân, bạn bè, người láng giềng, người quen và thậm chí cả những người không quen nhưng có những hiểu biết tối thiểu về đương sự để có thể phân biệt đương sự với những người khác trong cuộc sống hàng ngày. Sự biệt tích có thể do cố ý hoặc không cố ý. Song, điều quan trọng là những người có quyền và lợi ích liên quan không thể tiếp cận và cũng không thể liên lạc với đương sự thông qua tất cả các kênh, các phương tiện giao tiếp thông thường: gặp gỡ trực tiếp, điện thoại, thư từ thông thường, email,…. Thời gian biệt tích. Để sự vắng mặt có thể được ghi nhận như một sự kiện pháp lý, thời gian biệt tích của đương sự phải kéo dài ít nhất là sáu tháng. Thời gian này bắt đầu tính từ ngày đương sự ngưng xuất hiện ở những nơi mà đương sự thường xuất hiện theo thói quen, theo sự ghi nhận của tất cả những người có thể nhận biết đương sự. Thời gian biệt tích phải liên tục: chỉ cần đương sự xuất hiện trở lại, thời gian biệt tích sẽ lập tức bị gián đoạn. Thông báo tìm kiếm. Tình trạng vắng mặt không được xác lập một cách đương nhiên sau sáu tháng biệt tích liên tục. Cần có một người nào đó có quyền, lợi ích liên quan, ví dụ, vợ (chồng), con, cha mẹ hoặc một người thân thích, thậm chí bạn bè, chủ nợ lên tiếng yêu cầu Toà án thông báo việc tìm kiếm người biệt tích. Theo Bộ luật TTDS Điều 33 khoản 2 điểm a và Điều 35 khoản 2 điểm b, Toà án thụ lý yêu cầu là Toà án cấp quận (huyện, thành phố, thị xã thuộc tỉnh) nơi cư trú cuối cùng của người được tìm kiếm. Tuy nhiên, theo Điêu 36 khoản 2 điểm a, người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án quận (huyện) nơi cư trú làm việc hoặc nơi có trụ sở của mình (nếu là pháp nhân) giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm đối với một người khác đang vắng mặt mà mình quan tâm. Toà án quyết định phát hay không phát thông báo tìm kiếm trên cơ sở đánh giá các thông tin được cung cấp (BLTTDS Điều 326 khoản 1)36; trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu, thì Toà án ra quyết định chấp nhận đơn yêu cầu và ra thông báo (Điều 326 khoản 2). Thông báo tìm kiếm được thực hiện theo các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, thông báo tìm kiếm phải có các thông tin sau đây (BLTTDS Điều 327). - Ngày, tháng, năm ra thông báo; - Tên Toà án ra thông báo; - Số và ngày, tháng, năm của quyết định Toà án chấp nhẫn đơn yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú; - Tên, địa chỉ của người yêu cầu Toà án thông báo; - Họ, tên và ngày, tháng, n8m sinh hoặc tuổi của người cần tìm kiếm và địa chỉ của người đó trước khi biệt tích; - Địa chỉ liên hệ của cá nhân, cơ quan, tổ chức, nếu người cần được tìm kiếm biết được thông báo hoặc người khác có được tin tức về người cần tìm kiếm. Về thể thức, thông báo tìm kiếm phải được đăng trên báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên đài phát thanh và đài truyền hình của trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp. Chi phí thông báo do người yêu cầu thông báo chịu (Điều 155 khoán 1; Điều 329 khoản 2).
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập)