1. Tóm tắt nội dung câu hỏi của khách hàng:

Xuất phát từ những mâu thuẫn trong kinh doanh. Anh Nguyễn C đã đăng những bài viết chỉ đích danh tên tôi là T và một đồng nghiệp của tôi tên là Th với nội dung: “lừa đảo khách hàng, lừa lọc anh em đâm sau lưng anh em sống bất nhân, thất đức....” lên tài khoản face book của anh Nguyễn C. Sau đó chia sẻ lên các nhóm hội. Điều này đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của chúng tôi đặc biệt liên quan đến hoạt động kinh doanh của chúng tôi. Chúng tôi có các chứng cứ hình ảnh ghi lại những bài viết trên face book của anh C , các tin nhắn sms và ghi âm cuộc gọi mà anh C gọi đến.

Vậy đối với trường hợp này chúng tôi có thể xử lý như thế nào? Cảm ơn luật sư!

Luật sư trả lời:

2. Hành vi đăng thông tin bôi nhọ danh dự, nhân phẩm người khác trên MXH có vi phạm pháp luật?

Căn cứ Điều 34 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín như sau:

“Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín

1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.

2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.

Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.

4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.

5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.”

Căn cứ khoản 4 Điều 20 Nghị định 72/2013/NĐ-CP quy định về quản lý sử dụng dịch vụ internet và thông tin trên mạng quy định trang thông tin điện tử cá nhân như sau:

“Điều 20. Phân loại trang thông tin điện tử

Trang thông tin điện tử được phân loại như sau:

1. Báo điện tử dưới hình thức trang thông tin điện tử.

2. Trang thông tin điện tử tổng hợp là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin tổng hợp trên cơ sở trích dẫn nguyên văn, chính xác nguồn tin chính thức và ghi rõ tên tác giả hoặc tên cơ quan của nguồn tin chính thức, thời gian đã đăng, phát thông tin đó.

3. Trang thông tin điện tử nội bộ là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp thông tin về chức năng, quyền hạn, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, dịch vụ, sản phẩm, ngành nghề và thông tin khác phục vụ cho hoạt động của chính cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp đó và không cung cấp thông tin tổng hợp.

4. Trang thông tin điện tử cá nhân là trang thông tin điện tử do cá nhân thiết lập hoặc thiết lập thông qua việc sử dụng dịch vụ mạng xã hội để cung cấp, trao đổi thông tin của chính cá nhân đó, không đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân khác và không cung cấp thông tin tổng hợp.

5. Trang thông tin điện tử ứng dụng chuyên ngành là trang thông tin điện tử của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ ứng dụng trong lĩnh vực viễn thông, công nghệ thông tin, phát thanh, truyền hình, thương mại, tài chính, ngân hàng, văn hóa, y tế, giáo dục và các lĩnh vực chuyên ngành khác và không cung cấp thông tin tổng hợp

Như vậy, dựa vào căn cứ cơ sở pháp lý trên cùng tình tiết vụ việc của khách hàng cung cấp thấy rằng việc đưa thông tin sai sự thật, không có cơ sở chứng minh gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự nhân phẩm, uy tín của cá nhân tổ chức là hành vi vi phạm pháp luật.

3. Cách thức giải quyết, xử lý hành vi bôi nhọ danh dự, nhân phẩm, uy tín người khác

3.1. Khởi kiện dân sự:

Yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình. Đồng thời yêu cầu bồi thường danh dự nhân phẩm theo quy định tại Điều 592 Bộ luật dân sự 2015.

3.2. Trình báo với cơ quan công an:

Trình báo ra cơ quan công an cấp huyện về hành vi làm nhục người khác thông qua trang thông tin điện tử cá nhân. Trường hợp có đủ yếu tố cấu thành tội danh sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác hoặc nếu những thông tin trên là những thông tin sai sự thật để nhằm xúc phạm nhân phẩm danh dự của cá nhân và để lại những hậu quả nghiêm trọng thì đây là hành vi vu khống:

>> Xem thêm:  Bị người yêu cũ nhắn tin và công khai xúc phạm trên mạng xã hôi thì giải quyết thế nào ?

Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;

b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;

đ) Đối với người đang thi hành công vụ;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Vì động cơ đê hèn;

b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

c) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

4. Xử lý vi phạm hành chính

Căn khoản 3 Điều 99 Nghị định 15/2020/NĐ-CP ngày 03 tháng 2 năm 2020 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin và giao dịch điện tử quy định như sau:

“Điều 99. Vi phạm quy định về trang thông tin điện tử

1. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi cung cấp không đầy đủ hoặc không chính xác thông tin về tên của tổ chức quản lý trang thông tin điện tử, tên cơ quan chủ quản (nếu có), địa chỉ liên lạc, thư điện tử, số điện thoại liên hệ, tên người chịu trách nhiệm quản lý nội dung trên trang chủ của trang thông tin điện tử.

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Cung cấp, chia sẻ đường dẫn đến thông tin trên mạng có nội dung vi phạm quy định của pháp luật;

b) Tuyên truyền, kích động bạo lực, dâm ô, đồi trụy, tội ác, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc.

3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đưa thông tin sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân;

b) Đăng, phát, sử dụng hình ảnh bản đồ Việt Nam không thể hiện đầy đủ hoặc thể hiện sai chủ quyền quốc gia;

c) Quảng cáo, tuyên truyền, mua bán hàng hóa, dịch vụ bị cấm;

d) Giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác;

đ) Đăng, phát các tác phẩm báo chí, văn học, nghệ thuật, xuất bản phẩm mà không được sự đồng ý của chủ thể quyền sở hữu trí tuệ hoặc không được phép lưu hành hoặc đã có quyết định cấm lưu hành hoặc tịch thu.

4. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 3 Điều này.

5. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc gỡ bỏ đường dẫn đến thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn, thông tin vi phạm pháp luật đối với hành vi vi phạm quy định tại các khoản 2 và 3 Điều này;

b) Buộc thu hồi hoặc buộc hoàn trả tên miền do thực hiện hành vi vi phạm quy định tại các khoản 2 và 3 Điều này.

Trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm Hình sự nhưng có đủ cơ sở chứng minh cho hành vi vi phạm sử dụng trang thông tin điện tử làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm uy tín của cá nhân, tổ chức thì sử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 99 Nghị định 15/2020/NĐ-CP. Nếu có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự, Cơ quan điều tra sẽ khởi tố vụ án theo quy định của luật tố tụng hình sự.

5. Bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tin bị xâm phạm

Căn cứ Điều 592 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc bồi thường thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm như sau:

“Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm

1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:

a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;

b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;

c) Thiệt hại khác do luật quy định.

2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.”

Như vậy, nếu bạn có bằng chứng chứng minh về những thiệt hại đã xảy ra do hành vi xúc phạm nhân phẩm, danh dự, uy tín của bên kia gây ra cho mình, bạn có quyền khởi kiện yêu cầu bên kia phải có trách nhiệm bồi thường cho mình những thiệt hại đó. Mức bồi thường thiệt hại do các bên tự thỏa thuận với nhau, trường hợp không thỏa thuận được thì căn cứ quy định tại Điều 592 BLDS 2015, người có lỗi trpng việc gây ra thiệt hại cho bạn phải có trách nhiệm bồi thường các cho phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại, thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của bạn, bồi thường một khoản tiền để bù đắp về mặt tinh thần và các thiệt hại khác theo quy định của pháp luật.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến, chi tiết và cụ thể.

Trên đây là một số tư vấn cho khách hàng! Rất mong nhận được sự hợp tác.

Trân trọng cảm ơn./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hỏi về hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và đe dọa người khác có vi phạm luật không ?

>> Xem thêm:  Xúc phạm danh dự nhân phẩm ở nước ngoài, về Việt Nam khởi kiện thế nào ?