Xin chân thành cám ơn luật sư!
Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn pháp luật Đất đai của công ty Luật Minh Khuê

Luật sư tư vấn pháp luật Đất đai - 1900.6162
Trả lời:
Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới bạn lời chào trân trọng và cảm ơn bạn đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Vấn đề bạn đang vướng mắc chúng tôi xin được tư vấn như sau
Cơ sở pháp lý:
Nội dung phân tích:
Chủ sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình đối với tài sản nhưng không được gây thiệt hại hoặc làm ảnh hưởng đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Nhà nước công nhận và bảo đảm quyền của chủ sở hữu đối với tài sản của chủ sở hữu đó. Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, Nhà nước bảo đảm cho người sử dụng đất bằng cách cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất đó.
Người sử dụng đất có các quyền quy định tại Điều 179 Luật Đất đai 2013 gồm chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; thế chấp, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Điều kiện để thực hiện các quyền trên là:
- Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
- Đất không có tranh chấp;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
- Trong thời hạn sử dụng đất.
Nếu mảnh đất nhà bác đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì những người có tên trong Giấy chứng nhận đó được quyền chuyển nhượng cho người khác.
Trường hợp Giấy chứng nhận cấp cho cá nhân thì người đó và vợ (chồng) (nếu tại thời điểm cấp giấy chứng nhận người đó đã kết hôn) được toàn quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất đó. Nếu người được cấp là vợ chồng bác thì chỉ vợ chồng bác có quyền chuyển nhượng mảnh đất mà không cần phải có sự đồng ý của các con.
Trường hợp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình, thì tất cả những thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên trong hộ gia đình bác đều phải ký vào văn bản chuyển nhượng. Hiện nay, việc xác định những người có quyền đối với quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình được căn cứ vào sổ hộ khẩu. Theo đó những người có tên trong sổ hộ khẩu tại thời điểm mảnh đất được cấp giấy chứng nhận và vợ hoặc chồng của những người đó (nếu tại thời điểm cấp giấy chứng nhận họ đã đăng ký kết hôn) đều có quyền sử dụng đối với mảnh đất và đều có quyền chuyển nhượng mảnh đất đó. Nếu trong hộ có người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì việc chuyển nhượng mảnh đất do người giám hộ của họ thực hiện. Như vậy, nếu tại thời điểm mảnh đất nhà bác được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên hộ gia đình mà người con trai thứ hai có tên trong sổ hộ khẩu nhà bác thì con trai bác cũng có quyền đối với mảnh đất đó (kể cả hiện nay con trai bác đã chuyển hộ khẩu đi nơi khác hay chưa). Vợ chồng bác không thể bán mảnh đất đó khi chưa có sự đồng ý của người con và những thành viên khác trong gia đình. Trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cần có sự tham gia và chữ ký của tất cả các thành viên trong gia đình tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận.
Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà quý khách đang quan tâm. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra bản tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ emailTư vấn pháp luật đất đai qua Emailhoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162 Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.
Trân trọng./.
BỘ PHẬN TƯ VẤN PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI.