Thời gian gần đây người đấy thường đến nhà cùng với một số người lạ mặt kèm theo những lời lẽ đe doạ. Gia đình tôi đã thoả thuận là sẽ giải quyết từ từ vì điều kiện đang khó khăn không thể trả hết một lần nhưng không được. Vậy bây giờ gia đình xin nhờ pháp luật can thiệp thì sẽ như thế nào hay là có cách giải quyết nào tốt hơn ?

Tôi xin chân thành cảm ơn

Người gửi: T.T.D

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê

Câu hỏi ngày 22-08-2015

Luật sư tư vấn pháp luật dân sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn  đã gửi thắc mắc đến Công ty Luật Minh Khuê, căn cứ vào những thông tin bạn  cung cấp xin được tư vấn cho bạn  như sau:

Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật dân sự 2005

>> Xem thêm:  Ép buộc người khác ký giấy nợ bị xử lý như thế nào ? Thuê đòi nợ có vi phạm không ?

Nội dung phân tích:

1. Về việc trả nợ tiền vay của bố bạn cho bên cho vay

Do bạn không nói rõ việc vay tiền của bố bạn với người kia là hợp đồng vay tiền có kỳ hạn hay không có kỳ hạn nên chúng tôi không thể tư vấn chính xác cho bạn được. Chính vì vậy, trường hợp của bạn chúng tôi sẽ tư vấn cho bạn theo hướng sau đây:

-Thứ nhất: Nếu như vẫn chưa hết thời hạn vay tiền theo hợp đồng vay tiền có kỳ hạn giữa bố bạn với bên cho vay thì:

Điều 474. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay (Bộ luật dân sự)

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

2. Trong trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

4. Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

5. Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

>> Xem thêm:  Hỏi về thanh toán tiền mua tài sản cố định cho công ty?

Theo như quy định trên thì  bố bạn sẽ không vi phạm nghĩa vụ trả tiền cho bên  vì thời hạn trả nợ vẫn chưa hết. Tuy nhiên, đối với khoản tiền lãi thì bố  bạn vẫn sẽ phải trả đủ cho bên cho vay và  việc trả lãi và số lãi này sẽ phải tuân theo mức lãi suất do ngân hàng nhà nước công bố tại thời điểm trả nợ:

Điều 476. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng.

2. Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất thì áp dụng lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

-Thứ hai: Nếu hợp đồng vay tiền của bố  bạn với ngân hàng là hợp đồng vay có kỳ hạn và đã hết hạn trả tiền cho bên cho vay

Theo như quy định trên tại điều 474 bộ luật dân sự 2005 thì  bố bạn sẽ phải trả nợ gốc và lãi nợ quá hạn theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ do vi phạm nghĩa vụ trả nợ với bên cho vay

-Thứ ba: nếu hợp đồng vay tiền của bố  bạn với ngân hàng  là hợp đồng vay không kỳ hạn

Điều 477. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn

1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác.

2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý.

>> Xem thêm:  Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt bao gồm các chứng từ gì ? Chứng từ nào có thể thanh toán bằng tiền mặt ?

Theo quy định trên thì bố bạn có quyền trả lại tiền vay cho bên cho vay vào bất cứ lúc nào nhưng sẽ phải báo cho bên cho vay trước một thời gian hợp lý nếu như không có thỏa thuận khác
Còn nếu như hợp đồng vay tiền giữa bố bạn với bên kia là hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay sẽ có quyền đòi lại tài sản vào bất cứ lúc nào nhưng sẽ phải thông báo trước cho bố bạn biết trước
Như vậy, bạn nên căn cứ vào tình hình thực tế của việc vay tiền giữa bố bạn với bên cho vay để xác định xem bố bạn có vi phạm nghĩa vụ trả nợ hay không
 
2. Về thời hạn khởi kiện yêu cầu  trả nợ của bên cho vay đối với bố bạn

Theo quy định tại khoản 1 Điều 159 Bộ luật Tố tụng dân sự (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011), thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu tòa giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện.

b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là 2 năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.

Để thi hành đúng và thống nhất về thời hiệu khởi kiện, ngày 3/12/2012 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP. Cụ thể tại khoản 3 Điều 23 Nghị quyết quy định:

"- Đối với tranh chấp dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự (hợp đồng vay tài sản, hợp đồng gửi giữ tài sản, thuê tài sản, thuê khoán tài sản, hợp đồng gia công, hợp đồng vận chuyển, hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê lại quyền sử dụng đất) thì giải quyết như sau:

a) Đối với tranh chấp phát sinh từ giao dịch dân sự thì áp dụng thời hiệu quy định trong văn bản quy phạm pháp luật tương ứng đối với loại giao dịch đó.

Ví dụ: Tranh chấp về hợp đồng thuê nhà thì thời hiệu khởi kiện đối với hợp đồng cho thuê tài sản được xác định theo quy định tại Điều 427 của Bộ luật dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện là 2 năm.

b) Đối với tranh chấp về quyền sở hữu tài sản, về đòi lại tài sản, đòi lại quyền sử dụng đất do người khác quản lý, chiếm hữu thông qua giao dịch dân sự thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện."

Như vậy, với các quy định nêu trên, khi tranh chấp hợp đồng vay tiền (đối với nợ gốc), chủ nợ có quyền khởi kiện bất cứ lúc nào vì pháp luật không quy định về thời hiệu khởi kiện. Còn đối với khoản tiền lãi (nếu có) bên cho vay sẽ không có quyền khởi kiện đòi bố bạn trả lại tiền lãi đó vì đã hết thời hạn khởi kiện đối với trường hợp này

Tóm lại, theo quy định trên thì bố bạn nên căn cứ vào hợp đồng vay tiền cụ thể của bố bạn với bên cho vay để có thể xác định nghĩa vụ trả nợ cũng như những thỏa thuận mà 2 bên đã thỏa thuận với nhau về việc giải quyết việc vay tiền khi một bên vi phạm nghĩa vụ để có câu trả lời chính xác nhất

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự.

>> Xem thêm:  Vay nợ không có thế chấp thì có bị tịch thu tài sản để trả nợ không ?