1. Nộp hồ sơ ly hôn qua đường bưu điện được không ?

Xin chào luật sư! Cháu kết hôn năm 2015, cháu ở Gia Lai, chồng ở Hà Nội, đăng ký hộ khẩu thường trú tại Hà Nội nhưng chưa nhập khẩu về nhà chồng. Từ khi cháu bắt đầu có thai là tháng 10/2017 thì cháu về Gia Lai, chúng cháu bắt đầu ly thân đến bây giờ, con cháu hiện gần 10 tháng. Vì cháu ở xa muốn nộp hồ sơ ly hôn qua bưu điện có được không ?
Cháu xin cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Điều 190 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về gửi đơn khởi kiện đến Toà án:

1. Người khởi kiện vụ án gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

a) Nộp trực tiếp tại Tòa án;

b) Gửi đến Tòa án theo đường dịch vụ bưu chính;

c) Gửi trực tuyến bằng hình thức điện tử qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có).

2. Ngày khởi kiện là ngày đương sự nộp đơn khởi kiện tại Tòa án hoặc ngày được ghi trên dấu của tổ chức dịch vụ bưu chính nơi gửi.

Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu chính nơi gửi thì ngày khởi kiện là ngày đương sự gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính. Đương sự phải chứng minh ngày mình gửi đơn tại tổ chức dịch vụ bưu chính; trường hợp đương sự không chứng minh được thì ngày khởi kiện là ngày Tòa án nhận được đơn khởi kiện do tổ chức dịch vụ bưu chính chuyển đến.

3. Trường hợp người khởi kiện gửi đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn.

4. Trường hợp chuyển vụ án cho Tòa án khác theo quy định tại Điều 41 của Bộ luật này thì ngày khởi kiện là ngày gửi đơn khởi kiện đến Tòa án đã thụ lý nhưng không đúng thẩm quyền và được xác định theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này.

5. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.

Có thể thấy BLTTDS hiện hành quy định có hai phương thức để nộp đơn tới Tòa. Cách thứ nhất đó là bạn có thể nộp trực tiếp tại Tòa án có thẩm quyền, cách thứ hai là có thể gửi đơn qua đường bưu điện.

Điều 191 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

"Điều 191. Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện

1. Tòa án qua bộ phận tiếp nhận đơn phải nhận đơn khởi kiện do người khởi kiện nộp trực tiếp tại Tòa án hoặc gửi qua dịch vụ bưu chính và phải ghi vào sổ nhận đơn; trường hợp Tòa án nhận đơn khởi kiện được gửi bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án in ra bản giấy và phải ghi vào sổ nhận đơn.

Khi nhận đơn khởi kiện nộp trực tiếp, Tòa án có trách nhiệm cấp ngay giấy xác nhận đã nhận đơn cho người khởi kiện. Đối với trường hợp nhận đơn qua dịch vụ bưu chính thì trong thời hạn 02 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đơn, Tòa án phải gửi thông báo nhận đơn cho người khởi kiện. Trường hợp nhận đơn khởi kiện bằng phương thức gửi trực tuyến thì Tòa án phải thông báo ngay việc nhận đơn cho người khởi kiện qua Cổng thông tin điện tử của Tòa án (nếu có)...."

Như vậy, theo quy định pháp luật trên thì bạn có thể nộp hồ sơ qua bưu điện.

Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết."

Trong trường hợp này, theo dữ liệu bạn đưa ra thì chúng tôi hiểu bạn đang muốn ly hôn đơn phương, bạn phải nộp hồ sơ tới Tòa án nhân dân quận/huyện nơi chồng bạn cư trú, tức là Tòa án nhân dân quận thuộc Hà Nội.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Thủ tục ly hôn và mẫu đơn ly hôn?

>> Xem thêm:  Người thờ cúng tổ tiên có được pháp luật ưu ái khi chia tài sản thừa kế không ?

2. Tư vấn ly hôn và đòi quyền nuôi hai con ?

Thưa luật sư! Tôi muốn nhờ luật sư tư vấn hộ tôi chuyện này. Tôi lấy chồng được 5 năm chồng tôi đã có 1 lần vợ và có 1 con riêng còn tôi đã có với chồng 2 con 1 bé 4 tuổi 1 bé 2 tuổi. từ lúc lấy nhau về đến giờ tôi chưa một ngày được hạnh phúc, tôi sinh 2 bé nhưng chẳng bao giờ anh ấy quan tâm con lấy 1 hộp sữa hay một đồng tiền học không bao giờ cho tôi 1 đồng nuôi con.
Nhưng người con của vợ trước ở cùng chúng tôi thì thích gì anh mua đấy quan tâm hết mức còn 2 đứa con chung thì cả ngày anh ấy cũng chẳng hỏi tới chi mà còn thường cáu và đánh tôi.
Vậy tôi xin hỏi luật sư nếu tôi ly hôn em muốn nuôi cả 2 con thì tôi phải làm sao? Bây giờ anh ấy cũng không có việc làm chỉ ở nhà mở quán sửa chữa nhỏ ?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn ly hôn và  đòi quyền nuôi hai con?

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định như sau:

Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn.

Vì vây, hai bạn có thể tự thỏa thuận với nhau việc chia tài sản của vợ chồng và việc ai là người nhận nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì tòa án sẽ giải quyết. Còn nếu chồng bạn không đồng ý ly hôn với bạn thì bạn vẫn có thể làm đơn ly hôn đơn phương, theo đó, nếu có đủ căn cứ cho ly hôn thì Tòa án sẽ giải quyết ly hôn cho hai bạn. Vì vậy, trước tiên muốn nhận nuôi hai con thì có thể thỏa thuận với chồng bạn nếu không thỏa thuận được thì theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình:

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Căn cứ khoản 3, điều 81, Luật hôn nhân gia đình 2014, cháu bé 2 tuổi sẽ đương nhiên do bạn nuôi nếu bạn đảm bảo được điều kiện chăm sóc, giáo dục tốt cho con. Đối với cháu lớn 4 tuổi, bạn cũng cần chứng minh được mình đủ khả năng nuôi và tạo điều kiện sống tốt cho con hơn chồng bạn, bạn có thể cung cấp một số chứng cứ chồng bạn không quan tâm đến con cái và công việc của chồng bạn không có đủ khả năng nuôi con thì Tòa án sẽ xem xét trao quyền nuôi con sau khi ly hôn cho bạn và yêu cầu chồng bạn cấp dưỡng cho hai con theo khoản 2, điều 82, Luật hôn nhân và gia đình 2014.Vấn đề này khi giải quyết, tòa án sẽ xem xét và đánh giá khách quan cho cả hai bên khi tiến hành thủ tục ly hôn.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

3. Sau khi ly hôn không được thăm nom con phải làm thế nào ?

Luật sư tư vấn:

Căn cứ theo Điều 83, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quy định về nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

“1. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

2. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.”

Như vậy, khi có quyết định, bản án ly hôn của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì Quyết định này chỉ có ý nghĩa chấm dứt quan hệ pháp lý giữa vợ chồng, còn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với con cái vẫn phải được đảm bảo thực hiện. Việc thăm nom, chăm sóc con là quyền và nghĩa vụ hợp pháp của người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn mà người trực tiếp nuôi con không được cản trở.

Việc cản trở thăm nom, chăm sóc con cái của người có quyền nuôi con còn là hành vi trái với quy định tại Điểm d, Khoản 1, Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình thi hành năm 2007 :

”Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.”

Căn cứ theo Điều 53 Nghị định 167/2013/NĐ-CP có quy định:

Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau”.

Như vậy, trường hợp vợ của anh không cho anh thăm nom, chăm sóc con thì anh có thể báo với chính quyền, cơ quan công an cấp xã nơi vợ anh cư trú về hành vi ngăn cản việc trông nom con cái của vợ anh để họ có thể can thiệp giải quyết và xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cản quyền giữa cha và con.

Sau khi nhờ Chính quyền địa phương giúp đỡ, nếu vợ anh vẫn không có thái độ hợp tác, anh có thể làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án giải quyết cho thi hành vấn đề đã thỏa thuận về việc thăm nom, chăm sóc con chung theo Quyết định, bản án của Tòa án.

Trường hợp sau khi áp dụng tất cả các biện pháp trên, nếu vợ anh vẫn không có thiện chí hợp tác thi hành, anh có thể thu thập tất cả những chứng cứ về việc ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc con của vợ anh và anh có thể xem xét việc làm đơn thay đổi người nuôi con gửi đến Tòa án để được thay đổi quyền nuôi con căn cứ theo quy định tại Khoản 2 Điều 84 luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014:

“Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có căn cứ sau đây: Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con”.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

4. Tư vấn về thẩm quyền giải quyết yêu cầu ly hôn ?

Xin chào luật sư! Em có vấn đề thắc mắc rất mong nhận được sự tư vấn: Em năm nay 23 tuỏi chưa kết hôn. nhưng ba mẹ em thì sống với nhau 26 năm nay, ly thân cũng 5 năm rồi. thật sự từng ấy thời gian họ không hạnh phúc. ba em là người gia trưởng, thường xuyên bạo lực tinh thần các thành viên trong gia đình. Ba luôn cho rằng mình đúng trong mọi trưởng hợp và mình là đàn ông có quyền làm thế, hiện tại mẹ em không thể chịu được sự vô lý đã rời về nhà ngoại để phụ chăm lo heo gà cho phía nhà ngoại nhưng bà em lúc nào cũng nghĩ đó là tài sản của mẹ em, đòi giết gà mổ bò, mẹ em không làm thì đe doạ "cho thời hạn 15 ngày để làm thịt bò nếu không tạo ra tay thì mày chết với tao".
Cuộc sống hôn nhân bế tắc nhưng khi nộp đơn ly hôn đơn phương (ba em không thuận tình ly hôn vì như thế phải chia tài sản, bà chỉ muốn đẩy mẹ em ra đường bơ vơ không lối về) tới TAND huyện X tỉnh Y nơi bà mẹ đăng ký kết hôn thì bị trả về và họ nói là nộp không đúng Cơ quan, phải về UBND xã nộp. em không thấy điều nào trong Luật quy định như vậy cả. không phải TAND huyện là nơi thụ lý sao? làm sao giải quyết tình trạng này càng nhanh càng tốt ?
Em cảm ơn ạ !
Người gửi: C.T

>> Luật sư tư vấn Luật hôn nhân gọi: 1900.6162

Trả lời:

* Vấn đề hòa giải ở cơ sở:

Điều 52. Khuyến khích hòa giải ở cơ sở (Luật Hôn nhân và gia đình 2014)

"Nhà nước và xã hội khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ, chồng có yêu cầu ly hôn. Việc hòa giải được thực hiện theo quy định của pháp luật về hòa giải ở cơ sở".

Theo pháp luật về hòa giải cơ sở thì việc ly hôn có thể hòa giải từ tổ dân phố, khu phố, đến UBND phường (nếu ở thành phố, thị xã); hòa giải từ thôn, ấp, bản, làng đến UBND xã, thị trấn (nếu ở nông thôn, miền núi). Trong quy trình giải quyết ly hôn tại tòa án vẫn có thủ tục hòa giải bắt buộc, kể cả thuận tình ly hôn. Như vậy, việc ly hôn được khuyến khích hòa giải ở cơ sở, nhằm mục đích giúp vợ chồng có thêm cơ hội đoàn tụ, hàn gắn, chứ không bắt buộc tất cả đều phải qua hòa giải cơ sở. TAND huyện X không chấp nhận đơn xin ly hôn của mẹ bạn vì không qua hòa giải tại cơ sở là không có căn cứ.

* Vấn đề thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Tranh chấp hôn nhân của mẹ bạn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Đây là tranh chấp hôn nhân nên việc xác định thẩm quyền theo lãnh thổ của Tòa án sẽ được thực hiện theo quy định sau:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.

2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

b) Tòa án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;

c) Tòa án nơi người yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi cư trú, làm việc có thẩm quyền hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Tòa án đã ra quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;

d) Tòa án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài;

đ) Tòa án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;

e) Tòa án nơi người phải thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành phán quyết của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của Trọng tài nước ngoài;

g) Tòa án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật;

h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;

i) Tòa án nơi một trong các bên thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn thì Tòa án nơi người con đang cư trú có thẩm quyền giải quyết;

k) Tòa án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;

l) Tòa án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;

m) Tòa án nơi tổ chức hành nghề công chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu;

n) Tòa án nơi cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án và yêu cầu khác theo quy định của Luật thi hành án dân sự;

o) Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải quyết yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại;

p) Tòa án nơi có tài sản có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận tài sản đó có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam;

q) Tòa án nơi người mang thai hộ cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu liên quan đến việc mang thai hộ;

r) Tòa án nơi cư trú, làm việc của một trong những người có tài sản chung có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thỏa thuận chấm dứt hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân đã được thực hiện theo bản án, quyết định của Tòa án;

s) Tòa án nơi người yêu cầu cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận kết quả hòa giải thành ngoài Tòa án;

t) Tòa án nơi cư trú, làm việc của người yêu cầu có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố vô hiệu thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình; xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha, mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình;

u) Tòa án nơi có trụ sở của doanh nghiệp có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ nghị quyết của Đại hội cổ đông, nghị quyết của Hội đồng thành viên;

v) Tòa án nơi giao kết hoặc thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể đó vô hiệu;

x) Tòa án nơi xảy ra cuộc đình công có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xét tính hợp pháp của cuộc đình công;

y) Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ giải quyết yêu cầu bắt giữ tàu bay, tàu biển được thực hiện theo quy định tại Điều 421 của Bộ luật này.

3. Trường hợp vụ án dân sự đã được Tòa án thụ lý và đang giải quyết theo đúng quy định của Bộ luật này về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ thì phải được Tòa án đó tiếp tục giải quyết mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án có sự thay đổi nơi cư trú, trụ sở hoặc địa chỉ giao dịch của đương sự.

Như vậy, theo quy định trên thì TAND huyện X trả lại đơn yêu cầu ly hôn của mẹ bạn đúng trong trường hợp Ba bạn không cư trú ở huyện X và sai trong trường hợp ba bạn cũng cùng cư trú ở huyện X. Nếu ba bạn cũng cư trú ở huyện X mà TAND trả lại đơn yêu cầu ly hôn của mẹ bạn và bắt buộc phải hòa giải ở cơ sở thì mẹ bạn có quyền khiếu nại quyết định của TAND vì quyết định đó xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của mẹ bạn. Việc khiếu nại của mẹ bạn sẽ được thực hiện theo quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Tư vấn thủ tục ly hôn khi chồng không có mặt ?

Thưa luật sư! Tôi có chút thắc mắc mong luật sư tư vấn giúp. Tôi muốn ly hôn nhưng chồng tôi không đồng ý, nếu chồng tôi không đến toà án theo giấy mời của toà. Vậy, toà có giải quyết ly hôn cho tôi không ?
Cám ơn luật sư!
Người gửi: N.E
Tư vấn thủ tục ly hôn khi chồng không có mặt ?

Khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: "Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn."

Vì vậy, chị có thể đơn phương ly hôn.Bộ luật tố tụng dân sự 2015

Điều 227. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa; nếu có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử phải hoãn phiên tòa, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Tòa án phải thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự về việc hoãn phiên tòa.

2. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì Tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau:

a) Nguyên đơn vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật;

b) Bị đơn không có yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;

c) Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật;

d) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó theo quy định của pháp luật;

đ) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?