1. Thu hồi nợ khi nhân viên bỏ trốn ?

Kính chào Công ty luật Minh Khuê ! Luật sư cho tôi hỏi như sau : Công ty tôi hoạt động bên lĩnh vực cà phê, nhân viên bán hàng tự ý nghỉ việc và ôm tiền bỏ trốn. Luật sư tư vấn giúp tôi bây giờ phải làm như thế nào để thu hồi được nợ về? Đây có phải tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không?

>> Luật sư tư vấn trường hợp nhân viên cầm tiền bỏ trốn, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017.
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi dùng thủ đoạn gian dối làm cho chủ sở hữu, người quản lý tài sản tin nhằm giao tài sản cho người phạm tội để chiếm đoạt tài sản đó.
Các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có các dấu hiệu sau:Về hành vi: Có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản.
Dùng thủ đoạn gian dối là đưa ra các thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng làm cho người khác tin đó là sự thật và giao tài sản cho người phạm tội. Việc đưa rra các thông tin giả có thể bằng nhiều cách khác nhau như bằng lời nói hay chữ viết (viết thư), bằng hành động… (ví dụ: kẻ phạm tội nói là mượn xe đi chợ nhưng sau khi lấy được xe đem bán lấy tiền tiêu xài không trả xe cho chủ sở hữu) và bằng nhiều hình thức khác như giả vờ vay, mượn, thuê để chiếm đoạt tài sản.
Chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành của mình. Đặc điểm của việc chiếm đoạt là nó gắn liền và có mối quan hệ nhân quả với hành vi dùng thủ đoạn gian dối.
Như vậy, có thể phân biệt với những trường hợp dùng thủ đoạn gian dối khác, chẳng hạn như dùng thủ đoạn cân, đong, do đếm gian dối chỉ nhằm ăn gian, bớt hàng hóa của khách hành hoặc để bán hành giả để thu lợi bất chính thì không cấu thành tội này mà cấu thành tội lừa dối khách hàng hoặc tội buôn bán hàng giả.
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Người phạm tội nêu trên thực hiện hành vi này với lỗi cố ý.
Về mặt ý chí của người phạm tội lừa đảo bao giờ cũng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện hành vi lừa đảo, đây là điểm phân biệt với dấu hiệu của tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản. Vì trong một số trường hợp cách thức thực hiện tội phạm giống nhau về hình thức nhưng trong trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì bao giờ ý định chiếm đoạt tài sản cũng phát sinh sau khi nhận tài sản thông qua một hình thức giao dịch nhất định.
Ý thức chiếm đoạt phải có trước khi có thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối bao giờ cũng phải có trước khi tiến hành giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội. Nếu sau khi có được tài sản hợp pháp mới phát sinh thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản thì không coi là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về những tội danh tương ứng. (Như phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản).
Chủ thể của lừa đảo chiếm đoạt tài sản là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
Về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự: Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tội hiếp dâm, tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi, tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều sau đây:Điều 143 (tội cưỡng dâm); Điều 150 (tội mua bán người); Điều 151 (tội mua bán người dưới 16 tuổi);Điều 170 (tội cưỡng đoạt tài sản); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 173 (tội trộm cắp tài sản); Điều 178 (tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy);Điều 265 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 266 (tội đua xe trái phép);Điều 285 (tội sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật); Điều 286 (tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 287 (tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử); Điều 289 (tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác); Điều 290 (tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản);Điều 299 (tội khủng bố); Điều 303 (tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 304 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự).
Vì bạn chưa nếu rõ cụ thể về vấn đề của bạn, do đó, bạn có thể dựa trên các quy định nêu trên để bạn đưa ra kết luận sau cho phù hợp với vấn đè của bản thân gặp phải

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn thu hồi nợ hợp pháp, đúng luật cho doanh nghiệp

2. Chủ nợ có thể xin miễn tội cho con nợ?

Thưa luật sư, Tôi có vấn đề cần Luật sư giải đáp như sau: Em tôi có vay tiền chủ nợ khoản tiền 550 triệu nhưng không còn khả năng chi trả và bố mẹ tôi có cam kết với chủ nợ đó sẽ trả thay cho em tôi.
Trong thời gian này em trai tôi có bỏ đi khỏi địa phương đến 1 địa phương khác cư trú.Sau một thời gian sau thì chủ nợ báo cáo công an và họ ra lệnh truy nã rồi bắt em trai tôi tạm giam.Và sắp tới đưa ra xét xử vơi tội danh: Lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản. Tôi xin hỏi trong trường hợp này chủ nợ có thể xin hủy xét xử vụ án này không ?
Người gửi: Thanh Lê

Trả lời:

Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 175 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017,
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được hiểu là hành vi sau khi vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng đã dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả lại tài sản hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
Các yếu tố cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Mặt khách quan của tội này có các dấu hiệu sau:
Về hành vi. Có một trong các hành vi sau đây
Có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác. Được hiểu là hành vi chuyển dịch một cách trái phép tài sản của người khác thành tài sản của mình (xem giải thích tương tự ở Tội trộm cắp tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản) sau khi vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả.
Chỉ coi là có hành vi chiếm đoạt khi:Được coi là có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả khi bản thân người phạm tội có tài sản (như có nhà, đất…) hoặc có nguồn tài sản (như có phần tài sản hưởng thừa kế chưa chia…) nhưng đã tìm mọi cách thoái thác việc trả nợ hoặc tuyên bố không trả nợ hoặc tuyên bố không trả nợ hoặc né tránh việc trả nợ (như khi có người đến đòi nợ thì tránh mặt…).
Để xác định một người có bỏ trốn hay không cần xác định các dấu hiệu sau:Việc họ rời bỏ nơi cư trú là lén nút hay công khai (có khai báo tạm trú, tạm vắng hay không).Lý do của việc rời bỏ nơi cư trú.Mục đích của việc rời bỏ nơi cư trú.Việc rời bỏ nơi cư trú là tạm thời hay không xác định thời hạn.
Có hành vi sử dụng tài sản mà mình đã vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng vào các mục đích bất hợp pháp (như dùng tiền vay để đánh số đề, đánh bạc, buôn lậu,…) dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho bên cho vay, cho mượn hoặc giao tài sản.Đặc điểm của hành vi chiếm đoạt tài sản trên là sau khi nhận được tài sản thông qua các giao dịch hợp pháp như vay, mượn, thuê hoặc nhận được tài sản của người khác (như do người khác gửi giữ…) bằng hình thức hợp đồng dân sự hoặc hợp đồng kinh tế.
Trong thực tiễn có ý kiến cho rằng trường hợp sử dụng điện thoại không sử dụng cước điện thoại hoặc thuê tài sản không trả tiền thuê theo hợp đồng là phạm tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản. Chúng tôi cho rằng như vậy là chưa chính xác vì tiền cước điện thoại và tiền thuê phải trả khi thuê tài sản thực chất là khoản lợi tức mà bên cho vay, mượn, thuê tài sản… được hưởng theo hợp đồng. Trong khi đó, dấu hiệu được điều luật mô tả là phải vay, mượn, thuê tài sản,… để chiếm đoạt chính tài sản đó chứ không phải chiếm đoạt lợi tức của tài sản đó. Vì vậy, việc không trả tiền cước điện thoại, tiền thuê tài sản theo quan điểm của chúng tôi chỉ là sự vi phạm nghĩa vụ đơn thuần mà thôi.
Khách thể: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Mặt khách quan: Người phạm tội thực hiện đến tội phạm này với lỗi cố ý.
Tuy nhiên cần phải lưu ý: mục đích chiếm đoạt tài sản chỉ phát sinh sau khi đã nhận được tài sản thông qua các giao dịch hợp pháp. Đây là điểm khác biệt cơ bản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Trong quá trình thực hiện tội phạm người phạm tội còn có thể có những mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt.Trường hợp này, ngừoi phạm tội vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản.Tuy nhiên, có một số trường hợp lại cấu thành tội danh đọc lập khác, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh tương ứng ấy.
Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

>> Xem thêm:  Ngân hàng có quyền thu hồi đất khi nợ ngân hàng ?

3. Mượn tiền dùm bạn thì có tội gì không ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có người bạn chơi chung 1 hôm bạn khóc lóc nói hùn tiền với bạn cầm đồ nhưng chưa tới ngày người ta chuộc mà bạn lại đòi tiền. thuơng ban tôi có đi hỏi dùm cho bạn để trả trước cho bạn với số tiền 100 triệu đồng, và bạn đó hẹn ngày trả tôi tiền nhưng đến ngày đó bạn đó không trả, và giờ tôi gọi điện không liên lạc được với bạn nữa và bạn đã chặn hết facebook, zalo của tôi, vậ cho tôi hỏi, tôi có thể làm đơn trình báo lên công an về hành vi lừa đảo của bạn được không? và mẫu đơn tôi phải viết như thế nào?

>> Luật sư tư vấn luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 174 Bộ Luật hình sự 2015 sửa đổi 2017, về các yếu tố cấu thành của tội này chúng tôi đã hướng dẫn và phân tích ở bên trên.
Về mẫu đơn trình báo công an, bạn có thể tham khảo mẫu đơn sau:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc
ĐƠN XIN TRÌNH BÁO
Kính gửi: CÔNG AN QUẬN ……………………………………….
Tôi tên là :……………………………………………………….........................
CMND số : …………………………………………………….….......................
ĐKHKTT : ………………………………………………………........................
Chỗ ở hiện tại : ...........................................................................................
Tôi làm đơn này xin trình báo với quý cơ quan việc như sau:
Thứ nhất:
Vào ngày …………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Tiếp theo,
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
Thứ hai:
Ngày …/…./…..
…………………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………………….
……………………………………………………………………………………………
Thấy có nhiều dấu hiệu bất thường nên ………………………………………………..
…………………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………………….
Như vậy, hành động của……… chứng tỏ chị ta đã có ý định …….từ trước (………) nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Để bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của tôi, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi xâm hại đến quyền tài sản của công dân
…………………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………………….
Nay tôi đề nghị Qúy cơ quan xem xét các vấn đề sau đây:
…………………………………………………………………………………………….
…………………………………………………………………………………………….
Xin chân thành cảm ơn.

Tài liệu kèm theo:

Hà Nội, ngày …. tháng ….. năm……

Người làm đơn

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục thu hồi nợ của ngân hàng?

4. Mua dây đồng có bị tội không?

Thưa luật sư, nhà tôi là một cửa hàng mua bán sắt vụn ve chai, hôm trước có một người đem 7 kilogam đồng là cuộn dây đồng đến bán cho tôi và tôi mua lại với giá 500 ngàn đồng, hiện nay cơ quan công an đã bắt tôi và lấy lời khai, cho tôi hỏi tôi bị tội gì?

Luật sư trả lời:

Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được quy định tại Điều 323 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi 2017

Yếu tố cấu thành của tội này như sau:
Điều luật quy định hai tội gồm:– Tội chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có.Tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.
– Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, được hiểu là hành vi tuy không hứa hẹn trước nhưng đã chứa chấp tài sản mà mình biết rõ là người khác phạm tội (như cướp, trộm cắp tài sản…) mà có.
– Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có được hiểu là hành vi tuy không hứa hẹn trước nhưng đã tiêu thụ tài sản mà mình biết rõ là do người khác phạm tội mà có.
Các yếu tố cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có:
Mặt khách quan của tội phạm này có các dấu hiệu sau:
– Có hành vi chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có. Đây là hành vi nhận giữ tài sản của người khác và biết rõ tài sản này do người đó phạm tội (thông thường là các tội về chiếm đoạt) mà có được mặc dù không có hứa hẹn trước với người giữ tài sản.
– Có hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đây là hành vi chuyển dịch quyền sở hữu tài sản như bán, trao đổi…tài sản mà mình biết rõ tài sản đó là do người khác phạm tội mà có (mặc dù không hứa hẹn trước).
Cần lưu ý: Các hành vi nêu trên phải có điều kiện là:
+ Không có sự hứa hẹn trước với người giao tài sản là sẽ chứa chấp hoặc sẽ tiêu thụ tài sản của ngưòi đó.
+ Khi nhận tài sản hoặc tiêu thụ tài sản thì mới biết rõ là do người giao tài sản phạm tội mà có được tài sản đó.
+ Căn cứ để xác định người phạm tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do ngưòi khác phạm tội mà có phải “do phạm tội mà có” chứ không phải căn cứ vào giá trị tài sản mà họ chứa chấp, tiêu thụ. Nếu người có được tài sản đó nhưng không phải là do phạm tội mà do thực hiện hành vi vi phạm pháp luật khác mà có, hoặc có hành vi của người có tài sản đó thiếu một trong các yếu tố cấu thành tội phạm thì chưa gọi là tài sản do phạm tội mà có.
Khách thể:Hành vi nêu trên xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đồng thời gián tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.
Mặt chủ quan:Người phạm tội thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý.
Chủ thể của tội phạm này là bất kỳ nguòi nào có năng lực trách nhiệm hình sự.
Căn cứ khởi tố vụ án hình sự : Theo bộ luật tố tụng hình sự 2015 thì Chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Việc xác định dấu hiệu tội phạm dựa trên những căn cứ:Tố giác của cá nhân;Tin báo của cơ quan, tổ chức, cá nhân;Tin báo trên phương tiện thông tin đại chúng;Kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước;Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm; Người phạm tội tự thú.
Do đó, nếu như bạn có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm như ở trên đây thì bạn mới bị khởi tố hình sự về tội này và ngược lại.

>> Xem thêm:  Xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ ngân hàng ?

5. Lập Facebook lừa bán khẩu trang y tế ?

Tôi bị một người lừa đặt ahfng mua bán khẩu trang y tế với giá 70 triệu được 20 thùng khẩu trang y tế 4 lớp, sau khi chuyển tiền xong, người bán hàng đã chặn hết zalo, facebook của tôi, giờ tôi phải làm sao? đây có phải tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?

Luật sư trả lời:

Các yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chúng tôi đã phân tích về các yếu tố cấu thành như đã nói ở trên, để giải quyết về vấn đề này bạn làm hồ sơ trình báo lên cơ quan công an cấp quận huyện nơi bạn đang cư trú để được giải quyết.

Hồ sơ bao gồm:

Đơn trình báo công an (theo mẫu)

Chứng minh thư nhân dân của bị hại (bản sao công chứng)

Sổ hộ khẩu (bản sao công chứng)

Chứng cứ chứng minh về hành vi lừa đảo (video, hình ảnh, ghi âm....)

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định về trích nộp thuế khi ngân hàng tiến hành hoạt động thu hồi nợ ?