- Công ty giữ tiền ký quỹ của NLĐ là đúng hay sai? - Công ty sa thải NLĐ và thông báo sa thải trước 1 ngày là đúng hay sai? - Về thủ tục khởi kiện công ty thì án phí sẽ như thế nào, nếu tôi muốn nhờ luật sư của công ty luật Minh Khuê trợ giúp thì khoản phí này sẽ là bao nhiêu ? Tuy tôi thấy đây không phải là một số tiền lớn nhưng đối với công ty này họ đã rất nhiều lần thu tiền ký quỹ, bằng của nv và không trả lại đồng thời nv phải mang tiền chuộc bằng lại. Tôi thấy điều này cực kỳ phi lý và trái với luật lao động hiện hành nên tôi muốn xin sự tư vấn trợ giúp của luật sư. Hy vọng nhận được phản hồi kịp thời của luật sư. 

Tôi xin chân thành cám ơn!

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật lao độngcủa công ty Luật Minh Khuê.

Tư vấn về tiền ký quỹ lao động và chấm dứt hợp đồng ?

>>Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật lao độnggọi1900.6162

Trả lời:

 

Chào bạn,Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Cơ sở pháp luật:

Bộ luật lao động 2012

>> Xem thêm:  Hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động ? Mức bồi thường

Nghị định 88/2015/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án phí lệ phí tòa án

Nội dung phân tích:

Trước tiên, đối với trường hợp của bạn trước tiên về việc ký quỹ giữa công ty với bạn:

Khoản 2, Điều 20 Bộ Luật Lao động 2012 có hiệu lực thi hành từ 01/5/2013 quy định: người sử dụng lao động không được yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc giao kết, thực hiện hợp đồng lao động. Do đó nếu công ty của bạn yêu cầu bạn phải ký quỹ là trái pháp luật.

Khoản 4 Điều 1 Nghị định 88/2015/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 95/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 8 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định: người sử dụng lao động có hành vi “Buộc người lao động thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động” thì sẽ bị phạt tiền từ 20 đến 25 triệu đồng. Ngoài ra, người vi phạm còn bị buộc trả lại số tiền hoặc tài sản đã giữ của người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền đã giữ của người lao động tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt

Để thu hồi cũng như yêu cầu công ty trả lại tiền ký quỹ cho bạn, bạn nên trình bày rõ quan điểm của mình về các vấn đề như đã phân tích cho bạn ở trên và yêu cầu công ty phải tuân thủ pháp luật, thanh toán tiền cho bạn trong một thời gian nhất định, quá hạn này bạn có thể làm đơn tố cáo gửi lên Thanh tra lao động; Phòng lao động thương binh xã hội, Thanh tra nhà nước cấp huyện để yêu cầu các cơ quan này hỗ trợ bạn. Giải pháp cuối cùng là bạn có thể nộp đơn khởi kiện công ty ra tòa án nhân dân cấp huyện để buộc doanh nghiệp phải trả lại tiền ký quỹ cho bạn.

Mặt khác tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật lao động 2012 cũng quy định: “Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.”

Như vậy, việc công ty thu tiền ký quỹ của bạn là 5.000.000đ và họ yêu cầu giữ lại 4,000,000 tiền phí đào tạo, chỉ trả lại tôi 1,000,000đ khi sa thải bạn, việc công ty giữ tiền ký quỹ của người lao động là sai.

Thứ hai, vấn đề bạn hỏi: công ty sa thải người lao động và thông báo sa thải trước 1 ngày là đúng hay sai?

>> Xem thêm:  Đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi có cam kết làm việc lâu dài có trái luật ?

Tại Điều 126. Áp dụng hình thức xử lý kỷ luật sa thải Bộ luật lao động ghi nhận:

“Hình thức xử lý kỷ luật sa thải được người sử dụng lao động áp dụng trong những trường hợp sau đây:

1. Người lao động có hành vi trộm cắp, tham ô, đánh bạc, cố ý gây thương tích, sử dụng ma tuý trong phạm vi nơi làm việc, tiết lộ bí mật kinh doanh, bí mật công nghệ, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người sử dụng lao động, có hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng hoặc đe doạ gây thiệt hại đặc biệt nghiêm trọng về tài sản, lợi ích của người sử dụng lao động;

2. Người lao động bị xử lý kỷ luật kéo dài thời hạn nâng lương mà tái phạm trong thời gian chưa xoá kỷ luật hoặc bị xử lý kỷ luật cách chức mà tái phạm.

Tái phạm là trường hợp người lao động lặp lại hành vi vi phạm đã bị xử lý kỷ luật mà chưa được xóa kỷ luật theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật này;

3. Người lao động tự ý bỏ việc 05 ngày cộng dồn trong 01 tháng hoặc 20 ngày cộng dồn trong 01 năm mà không có lý do chính đáng.

Các trường hợp được coi là có lý do chính đáng bao gồm: thiên tai, hoả hoạn, bản thân, thân nhân bị ốm có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền và các trường hợp khác được quy định trong nội quy lao động”.

Bạn có nêu thông tin rằng công ty chấm dứt hợp lao động với bạn cty mà không nói rõ lý do và sa thải bạn ngay sau khi ra quyết định 1 ngày. Đối chiếu với quy định tại Điều 126 Bộ luật lao động nêu trên người sử dụng lao động chỉ được áp dụng hình thức xử lý kỷ luật lao động với người lao động khi người lao động thuộc các trường hợp mà luật lao động quy định. Ở đây nếu công ty sa thải bạn mà không nêu rõ lý do bạn có quyền yêu cầu công ty nêu rõ lý do sa thải bạn, trường hợp bạn không vi phạm pháp luật, nội quy lao động mà người lao động đã tự ý sa thải bạn thì hành vi sa thải của người lao động sẽ được xác định là hành vi vi phạm pháp luật.

Mặt khác tại Điều 38. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động Bộ luật lao động có quy định:

“1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

>> Xem thêm:  Tranh chấp về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động mới cập nhật

a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

a) Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

b) Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

c) Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng”.

Nếu công ty có căn cứ chứng minh công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn theo quy định tại Điều 38 nêu trên thì khi chấm dứt hợp đồng lao động, công ty phải thực hiện nghĩa vụ thông báo cho bạn về việc chấm dứt hợp đồng lao động theo đúng thời hạn như đã nêu tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động, trường hợp công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn mà chỉ thông báo sa thải cho bạn trước một ngày là hành vi vi phạm pháp luật.

>> Xem thêm:  Mẫu quyết định kỷ luật

Trường hợp công ty không có căn cứ chứng minh mình có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bạn thì hành vi của công ty là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động 2012:

Điều 41. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động không đúng quy định tại các điều 37, 38 và 39 của Bộ luật này”.

Khi chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật người sử dụng lao động phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 42 Bộ luật lao động:

“1. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

2. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này.

3. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này và trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

4. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

5. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước”.

Như vậy việc công ty sa thải người lao động và thông báo sa thải trước 1 ngày khi không có lý do rõ ràng là vi phạm pháp luật lao động.

>> Xem thêm:  Công ty có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng với lao động nữ sinh con không ?

Ngoài ra vấn đề trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động được quy định tại Khoản 2, 3 Điều 47 Bộ luật lao động thì:
"2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.
3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động".
 Theo đó, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng theo đúng quy định của pháp luật thì trong thời hạn nhất định người sử dụng lao động phải trả lại các giấy tờ, hoàn thành thủ tục xác nhận, trả lại sổ bảo hiểm xã hội mà người sử dụng lao động đã giữ của người lao động, đồng thời thanh toán đầy đủ các khoản liên quan đến quyền lợi của mỗi bên. Như vậy vấn đề bạn nêu công ty có giữ lại bằng của nhân viên và không trả khi chấm dứt hợp đồng lao động là hành vi trái pháp luật, bạn cũng như các nhân viên khác có quyền tố cáo, hoặc khởi kiện tới cơ quan nhà nước để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.  

Thứ ba, về nghĩa vụ nộp án phí của người lao động khi khởi kiện ra tòa án.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 về án phí lệ phí tòa án quy định về trường hợp được miễn nộp toàn bộ tiền tạm ứng án phí, án phí:
..."2. Người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật;..."
Theo đó, nếu khởi kiện ra tòa thì bạn thuộc trường hợp được miễn tiền tạm ứng án phí, án phí.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.
Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.
Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.                                  
Bộ phận Luật sư lao động.

>> Xem thêm:  Bị công ty cho nghỉ việc ngang thì phải làm sao ?