1. Tư vấn về việc bố mẹ bán đất nhưng không có sự đồng ý của tất cả các con ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Hiện vợ chồng em đang sống cùng bố mẹ. Từ lúc chưa lấy vợ em đã tách hộ khẩu ra vì để đăng ký điện cho rẻ. Nhưng khi ông bà bán đất chỉ có cô em gái út chứng kiến mà không nói gì với em, cũng không có chữ ký của em.
Vậy theo pháp luật, bố mẹ em làm như vậy có đúng không ?
Tôi xin chân thành cảm ơn.

Tư vấn về việc bố mẹ bán đất nhưng không có sự đồng ý của tất cả các con ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

Những thông tin bạn cung cấp không thể hiện rõ nội dung: mảnh đất được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu mang tên cá nhân bố mẹ bạn hay mang tên hộ gia đình bố mẹ bạn. Do vậy có hai trường hợp sẽ được đặt ra như sau:

-Trường hợp thứ nhất: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên cá nhân bố mẹ bạn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 213 Bộ Luật dân sự năm 2015) thì sở hữu chung của vợ chồng ( bố mẹ bạn) sẽ là hình thức sở hữu chung hợp nhất:

Điều 213. Sở hữu chung của vợ chồng

1. Sở hữu chung của vợ chồng là sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia.

2. Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

3. Vợ chồng thỏa thuận hoặc ủy quyền cho nhau chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung.

4. Tài sản chung của vợ chồng có thể phân chia theo thỏa thuận hoặc theo quyết định của Tòa án.

5. Trường hợp vợ chồng lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình thì tài sản chung của vợ chồng được áp dụng theo chế độ tài sản này.

Như vậy, theo quy định trên thì trường hợp này bố mẹ bạn sẽ có toàn quyền định đoạt bán mảnh đất đó mà không cần có sự đồng ý của bất cứ thành viên nào khác trong gia đình là các con.

-Trường hợp thứ hai: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên “hộ ” (hộ của bố mẹ bạn bao gồm cả gia đình gồm bố mẹ và các con)

Như vậy, mảnh đất sẽ trở thành sở hữu chung của hộ gia đình bố mẹ bạn (gồm tất cả những thành viên trong hộ gia đình tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất).

Hiện nay khi làm thủ tục định đoạt tài sản chung (cụ thể trường hợp này là mua bán đất ) của hộ gia đình tại cơ quan công chứng thì cần có sự đồng ý của tất cả các thành viên trong hộ gia đình đó. Trường hợp hộ gia đình có thành viên chưa thành niên, hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì cần có sự đồng ý của người giám hộ theo quy định tại khoản 3 Điều 68 Bộ luật Dân sự. Yêu cầu này được đặt ra nhằm đảm bảo an toàn cho văn bản công chứng cũng như đảm bảo quyền lợi cho tất cả các thành viên của hộ gia đình.

Như vậy, nếu như trường hợp gia đình bạn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hình thức chứng nhận đối với hộ gia đình thì việc bán đất của bố mẹ bạn sẽ phải có sự đồng ý của bạn và em gái bạn.

Bạn nên xem cụ thể gia đình bạn thuộc trường hợp nào trong 2 trường hợp trên để có thể biết chính xác câu trả lời.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo địa chỉ email hoặc qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến: 1900.6162

>> Xem thêm:  Vợ có nhà ở riêng thì chồng có được mua nhà ở xã hội không ? Mức thuế phải nộp khi mua nhà đất

2. Hướng dẫn thủ tục mua bán đất đai, nhà ở ?

Xin chào! Tôi cần tư vấn về thủ tục hợp đồng mua đất ,cụ thể như sau: Tôi dự định mua đất của bà Em, nhưng người đứng tên mãnh đất là chồng bà Em(đã mất cách nay 5 năm) . Hiện bà Em chưa sang tên từ chồng qua( Bà em đang ở chung với 4 người con). Đất này không có tranh chấp,nhưng do dự án vlap(bản đồ số về đất đai) của tỉnh Vĩnh Long đã đo đạt xong nhưng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (cả ấp đều như thế).
Vậy tôi phải làm thủ tục gì,như thế nào để mua mãnh đất trên ?
Rất mong được sự tư vấn ,hướng dẫn của luatminhkhue. Trân trọng cảm ơn!

Luật sư phân tích:

Theo dữ liệu bạn đưa ra thì chồng bà Em mất cách đây 5 năm (2011), do đó trong trường hợp này thời hiệu khởi kiện chia thừa kế vẫn còn. Điều 623 blds 2015 quy định

Điều 623. Thời hiệu thừa kế

1. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó. Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:

a) Di sản thuộc quyền sở hữu của người đang chiếm hữu theo quy định tại Điều 236 của Bộ luật này;

b) Di sản thuộc về Nhà nước, nếu không có người chiếm hữu quy định tại điểm a khoản này.

2. Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

3. Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.

Bạn không nói rõ, mảnh đất này là tài sản chung hay riêng của vợ chồng bà Em và có di chúc hay không nên chúng tôi sẽ trao đổi với bạn như sau:

- Trường hợp 1: Nếu tài sản này là tài sản riêng của chồng bà Em và và ông chồng bà Em không để lại di chúc khi mất:

Trường hợp này, di sản ông ta để lại sẽ được chia thừa kế theo pháp luật, trong đó bà Em, 4 người con và bố mẹ ông chồng bà Em (nếu có), mỗi người sẽ được một phần bằng nhau theo quy định của Điều 651 Bộ luật Dân sự.

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

- Trường hợp 2: Nếu tài sản này là tài sản riêng của ông chồng bà Em và chồng bà Em khi mất không để lại di chúc.

Trường hợp này, di sản ông ta để lại sẽ được chia thừa kế theo di chúc, nhưng bạn cần phải lưu ý về một số người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Điều 669 Bộ luật Dân sự:

"

Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc

1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó:

a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng;

b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.

2. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.

- Trường hợp 3: Nếu tài sản này là tài sản chung của vợ chồng bà Em và ông chồng bà Em mất không để lại di chúc.

Trường hợp này, tài sản sẽ được chia đôi, bà Em một nửa, ông chồng bà Em một nửa, sau đó chia thừa kế theo pháp luật tương tự trường hợp 1.

- Trường hợp 4: Nếu tài sản này là tài sản chung của vợ chồng bà Em và ông chồng bà Em mất để lại di chúc.

Trường hợp này, tài sản sẽ được chia đôi, bà Em một nửa, ông chồng bà Em một nửa, sau đó chia thừa kế theo pháp luật tương tự trường hợp 2.

Như vậy, sau khi chia xong thừa kế mới xác định được phần đất mà bạn muốn mua của bà Em là phần đất nào.

Điều 188 Luật đất đai năm 2013 số 45/2013/QH13 quy định như sau:

"Điều 188. Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất
1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:
a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này;
b) Đất không có tranh chấp;
c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án;
d) Trong thời hạn sử dụng đất.
2. Ngoài các điều kiện quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất khi thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất; quyền thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất còn phải có đủ điều kiện theo quy định tại các điều 189, 190, 191, 192, 193 và 194 của Luật này.
3. Việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính."

Do đó, nếu đáp ứng được điều kiện pháp luật quy định trên thì bạn mới được thực hiện quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và bà Em cũng mới thực hiện được quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Ngoài ra, bạn cũng cần phải lưu ý, việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất bắt buộc phải lập hợp đồng và phải được công chứng theo quy định của Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai:

"3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;
b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;
c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;
d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã."

Dear anh! Hiện nay em đang định mua một mảnh đất nằm trong thửa đất của ông A. Tuy nhiên mảnh đất này rộng 31 m. Năm 2013 ông A đã bán cho ông B 8m chiều rộng và đã làm thủ tục chuyển nhượng ở ủy ban xã. Nhưng do khi làm sổ ở cấp huyện thì ông B phải chuyển đổi mục đích sử dụng là 250m2 đất vườn thành đất ở . Ông B không đủ tiền làm sổ nên chưa nộp lệ phí . Và đất đó hiện tại chưa tách thửa hoàn toàn.Ở thửa đất còn lại là 23m em định mua 15m rộng nhưng em lo lắng vấn đề ông B chưa tách sổ có ảnh hưởng đến vấn đề mua bán và làm sổ đỏ của em không? Mảnh đất đó có nằm trong diện tranh chấp không? Xin anh cho em lời tư vấn. Em xin cảm ơn!

Việc bạn có được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất hay không, bạn cần phải xác định mảnh đất này đáp ứng được đầy đủ các quy định tại Điều 188 Luật Đất đai hay chưa.

Khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai quy định:

"24. Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai."

Do đó có thể thấy rằng việc ông A chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông B rồi nhưng ông B lại chưa làm thủ tục cấp giấy chứng nhận thì việc bạn thực hiện quyền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất có thể ông B sẽ ra tranh chấp.

Thưa anh cho em hỏi về việc bán đất Hiện tại gia đình em có 8 thành viên truớc kia đất nhà khoảng 30 công do bố lo ăn chơi sang bán hít hiện tại còn đuợc 6 công bố em định bán tiếp anh chị cảng không cho Em muốn hỏi là niếu bố em sang tiếp tụi em có quyền gì cảng hay nhờ pháp luật đuợc .đất là bố thừa kế của ông nội lúc ông mất 2008 bố cuới mẹ 1968 mong đuợc sự tư vấn luật sư em xin cảm ơn

Bạn không nói rõ trong trường của mình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất mang tên ba bạn, bạn hay mang tên cả hộ gia đình bạn do đó chúng tôi không thể trao đổi chính xác giúp bạn được. Trong trường hợp này, nếu quyền sử dụng đất mang tên ba bạn và bạn hoặc mang tên hộ gia đình bạn thì quyền sử dụng đất là của chung do đó việc ba bạn muốn chuyển nhượng quyền sử dụng thì phải thỏa thuận với bạn. Điều 218 Bộ luật Dân sự quy định:

"

Điều 218. Định đoạt tài sản chung

1. Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền định đoạt phần quyền sở hữu của mình.

2. Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thỏa thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp một chủ sở hữu chung theo phần bán phần quyền sở hữu của mình thì chủ sở hữu chung khác được quyền ưu tiên mua.

Trong thời hạn 03 tháng đối với tài sản chung là bất động sản, 01 tháng đối với tài sản chung là động sản, kể từ ngày các chủ sở hữu chung khác nhận được thông báo về việc bán và các điều kiện bán mà không có chủ sở hữu chung nào mua thì chủ sở hữu đó được quyền bán cho người khác. Việc thông báo phải được thể hiện bằng văn bản và các điều kiện bán cho chủ sở hữu chung khác phải giống như điều kiện bán cho người không phải là chủ sở hữu chung.

Trường hợp bán phần quyền sở hữu mà có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua thì trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày phát hiện có sự vi phạm về quyền ưu tiên mua, chủ sở hữu chung theo phần trong số các chủ sở hữu chung có quyền yêu cầu Tòa án chuyển sang cho mình quyền và nghĩa vụ của người mua; bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường thiệt hại.

4. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với bất động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc về Nhà nước, trừ trường hợp sở hữu chung của cộng đồng thì thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu chung còn lại.

5. Trường hợp một trong các chủ sở hữu chung đối với động sản từ bỏ phần quyền sở hữu của mình hoặc khi người này chết mà không có người thừa kế thì phần quyền sở hữu đó thuộc sở hữu chung của các chủ sở hữu còn lại.

6. Trường hợp tất cả các chủ sở hữu từ bỏ quyền sở hữu của mình đối với tài sản chung thì việc xác lập quyền sở hữu được áp dụng theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật này.

"

Thưa luật sư,cháu đang là 1 sinh viên luật,cháu có thắc mắc đó là đất đai thì không gọi là mua bán mà phải gọi là chuyển nhượng quyền sử dụng đất.Vậy tại sao vẫn có nhiều người sử dụng thuật ngữ "mua bán đất" hoặc hợp đồng mua bán đất và trong 1 số hợp đồng cháu search trên mạng vẫn có nơi gọi thẳng là mua bán đất mà không gọi là chuyển nhượng quyền sử dụng ạ.

Điều 4 Luật Đất đai quy định:

"Điều 4. Sở hữu đất đai
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật này."

Theo quy định trên có thể thấy rằng người sử đụng đất chỉ có quyền sử dụng đất, không có quyền định đoạt, chiếm hữu đất do đó khi người sử dụng đất không muốn sử dụng nữa họ chỉ có quyền lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Xin chào luật sư, tôi có việc muốn nhờ luật sư tư vấn giúp như sau ạ: Tôi muốn mua một lô đất ở khu tái định cư nhưng người bán đất cho tôi lại nói rằng sổ đỏ của mảnh đất đấy mang tên người khác và vẫn đảm bảo rằng mọi thủ tục chuyển nhượng sang tên sổ đỏ cho tôi sẽ được hoàn tất. Khi kí hợp đồng mua bán đất với tôi sẽ làm luôn thủ tục sang tên sổ đỏ, chúng tôi phải chồng đủ tiền và cầm giấy hẹn lấy sổ đỏ mang tên mình từ văn phòng địa chính. Như vậy có được không và tôi có cần yêu cầu bên bán làm thêm những thủ tục gì khác không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Điều 163. Bảo vệ quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản

1. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản.

2. Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường.

Như vậy, đối chiếu theo các quy định trên thì người có tên trên giấy chứng nhận là người được cơ quan nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Việc người khác chuyển nhượng quyền sử dụng đất của họ là không đúng với quy định của pháp luật.

Việc bạn muốn nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất này thì bạn nên yêu cầu người có tên trên giấy chứng nhận lập hợp đồng ủy quyền cho người khác thực hiện thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bạn thì mới được pháp luật bao vệ.

Chào luật sư, cho tôi hỏi hợp đồng đặt cọc tiền mua đất có bên A bên B và người làm chứng kí.có cần có dấu đỏ của xã phường không ạ

Điều 328 Bộ luật Dân sự quy định:

"Điều 328. Đặt cọc

1. Đặt cọc là việc một bên (sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận đặt cọc) một khoản tiền hoặc kim khí quý, đá quý hoặc vật có giá trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.

2. Trường hợp hợp đồng được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thỏa thuận khác

."

Như vậy, việc đặt cọc chỉ cần lập thành văn bản là được. Việc bạn đem hợp đồng đặt cọc đi chứng thực hay công chứng phụ thuộc vào sự thỏa thuận của cả hai bên: bên nhận chuyển nhượng và bên chuyển nhượng.

Mong luật sư giải đáp dùm tôi vấn đề trễ hạn nộp thuế thu nhập cá nhân trong mua bán đất ruộng , vd : tôi bán miếng đất 100 triệu , thuế thu nhập 2%=tiền thuế thu nhập tôi phải đóng thuế là : 2 triệu , xin hỏi luật sư nếu tôi bị phạt do đóng thuế trễ hạn thì phạt trên số tiền là 2 triệu hay 100 triệu và phần trăm phát là bao nhiêu ? tôi viết trên đây có gì không hài lòng xin luật sư thông cảm , rất mong nhận được phúc đáp của luật sư chân thành cảm ơn

Khoản 9 Điều 2 Thông tư 26/2015/TT-BTC quy định như sau:

"9. Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 34 như sau:

“2. Xác định tiền chậm nộp tiền thuế

a) Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh từ ngày 01/01/2015 thì tiền chậm nộp được tính theo mức 0,05% số tiền thuế chậm nộp tính trên mỗi ngày chậm nộp.

b) Đối với khoản tiền thuế nợ phát sinh trước ngày 01/01/2015 nhưng sau ngày 01/01/2015 vẫn chưa nộp thì tính như sau: trước ngày 01/01/2015 tính phạt chậm nộp, tiền chậm nộp theo quy định tại Luật quản lý thuế số 78/2006/QH11, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý thuế số 21/2012/QH13, từ ngày 01/01/2015 tính tiền chậm nộp theo quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật về thuế số 71/2014/QH13.

Ví dụ 44: Người nộp thuế B nợ 100 triệu đồng tiền thuế GTGT thuộc tờ khai thuế GTGT tháng 8/2014, thời hạn nộp thuế chậm nhất là ngày 22/9/2014 (do ngày 20/9/2014 và ngày 21/9/2014 là ngày nghỉ). Ngày 20/01/2015 người nộp thuế nộp số tiền thuế này vào ngân sách nhà nước, số ngày chậm nộp được tính từ ngày 23/9/2014 đến ngày 20/01/2015, số tiền chậm nộp phải nộp là 6,2 triệu đồng. Cụ thể như sau:

- Trước ngày 01/01/2015 tiền chậm nộp được tính như sau:

+ Từ ngày 23/9/2014 đến ngày 21/12/2014, số ngày chậm nộp là 90 ngày: 100 triệu x 0,05% x 90 ngày = 4,5 triệu đồng.

+ Từ ngày 22/12/2014 đến ngày 31/12/2014, số ngày chậm nộp là 10 ngày: 100 triệu x 0,07% x 10 ngày = 0,7 triệu đồng.

- Từ ngày 01/01/2015 đến ngày 20/01/2015, số ngày chậm nộp là 20 ngày: 100 triệu x 0,05% x 20 ngày = 1 triệu đồng.”

“e) Trường hợp người nộp thuế khai thiếu tiền thuế của kỳ thuế phát sinh trước ngày 01/01/2015 nhưng sau ngày 01/01/2015, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát hiện qua thanh tra, kiểm tra hoặc người nộp thuế tự phát hiện thì áp dụng tiền chậm nộp theo mức 0,05%/ngày tính trên số tiền thuế khai thiếu từ ngày phải nộp theo quy định của pháp luật đến ngày người nộp thuế nộp tiền thuế khai thiếu vào ngân sách nhà nước.”"

Như vậy, tùy từng trường hợp cụ thể của mình mà bạn có thể áp dụng mức phạt chậm nộp thuế.

Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với từng loại đất theo quy định của pháp luật đất đai ?

3. Khi bán đất phạm vi hành lang giao thông có đúng luật không ?

Kính thưa luật sư Luật Minh Khuê. Gia đình em được cấp giấy chứng nhận đất thổ cư hơn 1000m2 ( ngang 40m và sâu 35m) vào năm 1995, đến năm 1998 thì ba tôi có cho cô ruột của tôi ở trên mảnh đất với diện tích 10x15m ( ở mặt tiền và góc trái mảnh đất). + Đến tháng 4/ 2003 bà Lê Thị Tha đặt vấn đề mua phần đất phía sau nhà cô tôi ở với diện tích 10x20m. Lúc đó ba mẹ tôi đồng ý bán phần đất đó cho bà Lê Thị Tha. Do ba tôi không biết chữ (lúc đó tôi còn nhỏ) và quá tin tưởng bên mua nên giao toàn bộ hồ sơ cho bên mua làm giấy tờ, trong đó có giấy bán viết tay với diện tích 10x35m (bao gồm luôn phần đất mà ba tôi đã cho cô tôi).

Nhưng phần đất 150m2 của cô tôi lại nằm trong hành lang giao thông đường bộ ( theo như lời địa chính xã tại thời điểm đó nói là đất hành lang giao thông không bán được nên gia đình tôi mới tin tưởng giao toàn bộ hồ sơ cho bên mua làm thủ tục). Khi chỉnh lý bìa thì phòng tài nguyên môi trường huyện có chỉnh lý với nội dung là bán cho bà Lê Thị Tha 200m2 và chuyển đất hành lang giao thông 150m2. + Đến năm 2010, bà Tha có cho phần đất trên cho ông Phạm Văn Thọ là con của bà, và giấy chứng nhận của ông Thọ vần là diện tích 200m2 + Đến tháng 7/2014 UBND huyện điều chỉnh lại quy hoạch hành lang giao thông và ông Thọ đã điều chỉnh GCN của ông cộng thêm 150m2 (phần đất mà cô tôi đang ở) thành 350m2.

Vậy cho em hỏi:

1/ Căn cứ theo giấy tờ viết tay thì gia đình em bị bất lợi (giấy tờ chỉ có bút phê của xã, không có dấu) nhưng căn cứ theo luật tại thời điểm đó thì mình bán đất phạm vi hành lang giao thông là đúng hay sai? gia đình em có khả năng đòi lại phần đất hành lang giao thông mà cô em đang ở không?

2/ Phòng tài nguyên môi trường cấp GCN QSD đất cộng thêm vào bìa ông Thọ 150m2 là đúng hay sai khi nhà của cô tôi đang ở trên phần đất đó? nếu cấp sai thì mình có quyền yêu cầu hủy GCN trên được hay không và làm như thế nào? Rất mong được sự tư vấn của quý luật sư! Xin trân trọng cảm ơn

Hướng dẫn thủ tục mua bán đất đai, nhà ở ?

Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi : 1900.6162

Trả lời :

Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật giao thông đường bộ năm 2008 thì:
“5. Hành lang an toàn đường bộ là dải đất dọc hai bên đất của đường bộ, tính từ mép ngoài đất của đường bộ ra hai bên để bảo đảm an toàn giao thông đường bộ.”

Theo quy định tại Điều 43 Luật giao thông đường bộ 2008 về phạm vi đất dành cho đường bộ:

"1. Phạm vi đất dành cho đường bộ gồm đất của đường bộ và đất hành lang an toàn đường bộ.

2. Trong phạm vi đất dành cho đường bộ, không được xây dựng các công trình khác, trừ một số công trình thiết yếu không thể bố trí ngoài phạm vi đó nhưng phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép, gồm công trình phục vụ quốc phòng, an ninh, công trình phục vụ quản lý, khai thác đường bộ, công trình viễn thông, điện lực, đường ống cấp, thoát nước, xăng, dầu, khí.

3. Trong phạm vi đất hành lang an toàn đường bộ, ngoài việc thực hiện quy định tại khoản 2 Điều này, được tạm thời sử dụng vào mục đích nông nghiệp, quảng cáo nhưng không được làm ảnh hưởng đến an toàn công trình, an toàn giao thông đường bộ. Việc đặt biển quảng cáo trên đất hành lang an toàn đường bộ phải được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản.

4. Người đang sử dụng đất được pháp luật thừa nhận mà đất đó nằm trong hành lang an toàn đường bộ thì được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục đích đã được xác định và không được gây cản trở cho việc bảo vệ an toàn công trình đường bộ.

Trường hợp việc sử dụng đất gây ảnh hưởng đến việc bảo vệ an toàn công trình đường bộ thì chủ công trình và người sử dụng đất phải có biện pháp khắc phục, nếu không khắc phục được thì Nhà nước thu hồi đất và bồi thường theo quy định của pháp luật.

5. Chính phủ quy định cụ thể phạm vi đất dành cho đường bộ, việc sử dụng, khai thác đất hành lang an toàn đường bộ và việc xây dựng các công trình thiết yếu trong phạm vi đất dành cho đường bộ."

Căn cứ Luật đất đai năm 2013 quy định:

Điều 106. Đính chính, thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp

1. Cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận có trách nhiệm đính chính Giấy chứng nhận đã cấp có sai sót trong các trường hợp sau đây:

a) Có sai sót thông tin về tên gọi, giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân, địa chỉ của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất so với giấy tờ pháp nhân hoặc nhân thân tại thời điểm cấp Giấy chứng nhận của người đó;

b) Có sai sót thông tin về thửa đất, tài sản gắn liền với đất so với hồ sơ kê khai đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được cơ quan đăng ký đất đai kiểm tra xác nhận.

2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:

a) Nhà nước thu hồi toàn bộ diện tích đất trên Giấy chứng nhận đã cấp;

b) Cấp đổi Giấy chứng nhận đã cấp;

c) Người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp mới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất;

d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai.

3. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp đối với trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều này do cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quy định tại Điều 105 của Luật này quyết định sau khi đã có kết luận của cơ quan thanh tra cùng cấp, văn bản có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về giải quyết tranh chấp đất đai

Căn cứ Nghị định số 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai:

Điều 56. Đất xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn

1. Đất hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định mà công trình không sử dụng lớp đất mặt thì chỉ phải thuê đất trong thời gian thi công xây dựng công trình.

2. Căn cứ quy định về phạm vi của hành lang bảo vệ công trình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, tổ chức trực tiếp quản lý công trình có hành lang bảo vệ an toàn có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân nơi có công trình xây dựng phương án cắm mốc giới xác định hành lang bảo vệ an toàn cụ thể và trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có công trình phê duyệt; đồng thời thông báo cho Ủy ban nhân dân các cấp nơi có công trình biết để phối hợp bảo vệ hành lang an toàn công trình.

3. Trong thời hạn không quá 30 ngày làm việc, kể từ ngày được Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phê duyệt phương án cắm mốc giới xác định hành lang bảo vệ an toàn, tổ chức trực tiếp quản lý công trình có hành lang bảo vệ an toàn có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình trong việc công bố công khai mốc giới hành lang bảo vệ an toàn công trình và cắm mốc giới trên thực địa, bàn giao mốc giới cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có công trình để quản lý.

4. Tổ chức trực tiếp quản lý công trình có hành lang bảo vệ an toàn có trách nhiệm chủ trì phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã và Phòng Tài nguyên và Môi trường nơi có công trình rà soát hiện trạng sử dụng đất trong phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết theo quy định sau:

a) Trường hợp sử dụng đất có ảnh hưởng đến việc bảo vệ an toàn công trình hoặc trường hợp hoạt động của công trình có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, sức khỏe của người sử dụng đất thì cơ quan có chức năng quản lý nhà nước đối với công trình tiến hành thẩm định mức độ ảnh hưởng, nếu phải thu hồi đất thì đề nghị Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền để quyết định thu hồi đất đó. Người có đất thu hồi được bồi thường, hỗ trợ đối với đất và tài sản gắn liền với đất đã có từ trước khi hành lang an toàn công trình được công bố, tái định cư theo quy định của pháp luật.

Trường hợp việc sử dụng đất gây ảnh hưởng đến việc bảo vệ an toàn công trình thì chủ công trình và người sử dụng đất phải có biện pháp khắc phục. Chủ công trình phải chịu trách nhiệm đối với việc khắc phục đó; nếu không khắc phục được thì Nhà nước thu hồi đất và người có đất thu hồi được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của pháp luật;

b) Trường hợp sử dụng đất không thuộc quy định tại Điểm a Khoản này thì người đang sử dụng đất trong hành lang bảo vệ an toàn công trình được tiếp tục sử dụng đất theo đúng mục đích đã được xác định và phải tuân theo các quy định về bảo vệ an toàn công trình;

c) Đất trong hành lang an toàn công trình được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với trường hợp có đủ điều kiện được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của Luật Đất đai, trừ trường hợp đã có thông báo thu hồi đất hoặc quyết định thu hồi đất.

Người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chỉ được sử dụng đất theo quy định tại Điểm b Khoản này.

5. Cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý công trình có hành lang bảo vệ an toàn chịu trách nhiệm chính về việc bảo vệ an toàn công trình. Trường hợp hành lang bảo vệ an toàn công trình bị lấn, bị chiếm, sử dụng trái phép thì phải kịp thời báo cáo và yêu cầu Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có hành lang bảo vệ an toàn công trình xử lý.

6. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp nơi có công trình có hành lang bảo vệ an toàn có trách nhiệm sau:

a) Phát hiện và xử lý kịp thời những trường hợp lấn, chiếm, sử dụng trái phép phần đất thuộc phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình; ngăn chặn kịp thời các công trình xây dựng trái phép trên đất hành lang bảo vệ an toàn công trình; buộc người có hành vi vi phạm khôi phục lại tình trạng của đất trước khi vi phạm;

b) Phối hợp với cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý công trình trong việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ an toàn công trình; phối hợp với cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý công trình trong việc công bố mốc giới hành lang bảo vệ an toàn công trình;c) Trường hợp để xảy ra hiện tượng lấn, chiếm, sử dụng trái phép phần đất thuộc phạm vi hành lang bảo vệ an toàn công trình tại địa phương thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp phải liên đới chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

7. Việc sử dụng đất tạm thời để thi công công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn do đơn vị thi công và người sử dụng đất thỏa thuận theo quy định của pháp luật về dân sự.

Điều 87. Thủ tục thu hồi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp

1. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai thì người sử dụng đất có nghĩa vụ nộp Giấy chứng nhận đã cấp trước khi được nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật đất đai. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng có trách nhiệm thu Giấy chứng nhận đã cấp chuyển cho Văn phòng đăng ký đất đai để quản lý.

2. Trường hợp Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 64 và Điều 65 của Luật Đất đai thì người sử dụng đất nộp Giấy chứng nhận đã cấp trước khi bàn giao đất cho Nhà nước, trừ trường hợp quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 65 của Luật Đất đai. Tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện thu hồi đất có trách nhiệm thu Giấy chứng nhận đã cấp và chuyển cho Văn phòng đăng ký đất đai để quản lý.

3. Trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận, Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở, Giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng đã cấp hoặc đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất mà phải cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất thì người sử dụng đất nộp Giấy chứng nhận đã cấp trước đây cùng với hồ sơ đề nghị cấp đổi Giấy chứng nhận, hồ sơ đăng ký biến động.

Văn phòng đăng ký đất đai quản lý Giấy chứng nhận đã nộp sau khi kết thúc thủ tục cấp đổi, thủ tục đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất.

4. Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai tại Điểm đ Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai được thực hiện như sau:

a) Trường hợp cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra có văn bản kết luận Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp; trường hợp xem xét, xác định Giấy chứng nhận đã cấp là đúng quy định của pháp luật thì phải thông báo lại cho cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra;

b) Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan thanh tra cùng cấp thẩm tra; nếu kết luận là Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật thì thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do; sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo cho người sử dụng đất mà không có đơn khiếu nại thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;

c) Trường hợp người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định tại Điểm b Khoản này;

d) Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện việc thu hồi và quản lý Giấy chứng nhận đã thu hồi theo quyết định thu hồi Giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền;

đ) Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

5. Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Việc xử lý thiệt hại do việc cấp Giấy chứng nhận pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân. Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Luật Đất đai.

6. Việc thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 106 của Luật Đất đai chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được thi hành.

7. Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều này mà người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không giao nộp Giấy chứng nhận thì Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất quyết định hủy Giấy chứng nhận đã cấp; chỉnh lý hồ sơ địa chính theo quy định; lập danh sách Giấy chứng nhận đã bị hủy gửi Sở Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai để thông báo công khai trên trang thông tin điện tử.

8. Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm trình cơ quan có thẩm quyền cấp lại Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật; trường hợp Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật do lỗi của người sử dụng đất hoặc do cấp không đúng đối tượng thì hướng dẫn cho người sử dụng đất làm thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận theo quy định

Căn cứ Nghị định số 102/2014/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai:

Điều 28. Vi phạm quy định về giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất mà không thuộc các trường hợp quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.

2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi tẩy xóa, sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, chứng từ trong việc sử dụng đất dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận và việc chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất bị sai lệch mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

3. Phạt tiền từ trên 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với hành vi sử dụng giấy tờ giả trong hồ sơ xin giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất, cấp Giấy chứng nhận mà chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.

4. Biện pháp khắc phục hậu quả:

a) Buộc phải làm thủ tục đính chính Giấy chứng nhận đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 2 Điều này;

b) Buộc hủy bỏ giấy tờ giả đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 3 Điều này.

>> 1/ Căn cứ theo luật tại thời điểm đó thì gia đình bạn bán đất phạm vi hành lang giao thông là sai mà gia đình bạn chỉ được sử dụng tạm thời không được phép chuyển nhượng, gia đình bạn có khả năng đòi lại phần đất hành lang giao thông mà cô em đang ở khi phát hiện có hành vi bị chiếm, sử dụng trái phép phải yêu cầu UBND xã giải quyết vầ xử lý.

2/ Phòng tài nguyên môi trường cấp GCN QSD đất cộng thêm bào bìa ông Thọ 150m2 là sai theo quy định của pháp luật khi mà nhà của cô bạn đang ở trên phần đất đó, trong trường hợp này có thể yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất này theo Trường hợp thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật về đất đai tại Điểm đ Khoản 2 Điều 106 của luật đất đai năm 2013 được thực hiện như sau:

- Trường hợp cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra có văn bản kết luận Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xem xét, nếu kết luận đó là đúng thì quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp; trường hợp xem xét, xác định Giấy chứng nhận đã cấp là đúng quy định của pháp luật thì phải thông báo lại cho cơ quan điều tra, cơ quan thanh tra;

- Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì thông báo bằng văn bản cho cơ quan thanh tra cùng cấp thẩm tra; nếu kết luận là Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật thì thông báo cho người sử dụng đất biết rõ lý do; sau 30 ngày kể từ ngày gửi thông báo cho người sử dụng đất mà không có đơn khiếu nại thì ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp;

Trường hợp người sử dụng đất phát hiện Giấy chứng nhận đã cấp không đúng quy định của pháp luật đất đai thì gửi kiến nghị, phát hiện đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất có trách nhiệm xem xét, giải quyết theo quy định tại Điểm b Khoản này. Văn phòng đăng ký đất đai thực hiện việc thu hồi và quản lý Giấy chứng nhận đã thu hồi theo quyết định thu hồi Giấy chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền;

- Trường hợp người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất không đồng ý với việc giải quyết của cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định tại các Điểm a, b và c Khoản này thì có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

- Nhà nước không thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật trong các trường hợp quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 106 của luật đất đai nếu người được cấp Giấy chứng nhận đã thực hiện thủ tục chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc chuyển mục đích sử dụng đất và đã được giải quyết theo quy định của pháp luật.

Việc xử lý thiệt hại do việc cấp Giấy chứng nhận pháp luật gây ra thực hiện theo quyết định hoặc bản án của Tòa án nhân dân. Người có hành vi vi phạm dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận trái pháp luật bị xử lý theo quy định tại Điều 206 và Điều 207 của luật đất đai năm 2013

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Luật sư tư vấn thủ tục mua bán, chuyển nhượng đất đai, nhà ở

4. Công chứng mua bán bất động sản như thế nào ?

Kính chào luật Minh Khuê ! Em xin hỏi là em mua căn hộ trong dự án năm 2014, cuối năm nay sẽ giao nhà. Nhưng vì lý do tài chính gia đình nên em cần bán. Nhưng khi ra công chứng thì bên công chứng yêu cầu em phải có giấy xác nhận giao dịch qua sàn bất động sản mới được. Nhưng theo em được biết là kể từ tháng 7/2015 luật đả bỏ yêu cầu xác nhận qua sàn rồi mà ?
Kính mong quý luật sư tư vấn giúp em. Chân thành cảm ơn !

>> Luật sư tư vấn luật đất đai trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp, bạn đã mua căn hộ trong dự án vào năm 2014, thời điểm đó Luật kinh doanh bất động sản năm 2006 vẫn còn hiệu lực pháp luật.

Theo Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 ), tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản khi bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua bất động sản phải thông qua sàn giao dịch bất động sản. Đối với những tổ chức, cá nhân không kinh doanh bất động sản, nhà nước chỉ khuyến khích thực hiện giao dịch thông qua sàn giao dịch bất động sản để bảo đảm công khai, minh bạch và quyền lợi của các bên.

Như vậy, khi bạn mua nhà của bên dự án ( tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản) thì bắt buộc phải thông qua sàn giao dịch bất động sản.

Việc cơ quan công chứng yêu cầu bạn đưa ra giấy xác nhận giao dịch qua sàn bất động sản là có căn cứ để xác minh việc mua bán giữa bạn và bên dự án là hợp pháp.

Từ ngày 01/7/2015 thay vì bắt buộc mọi tổ chức, cá nhân kinh doanh BĐS khi bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê mua BĐS phải thông qua sàn giao dịch BĐS, thì Luật kinh doanh BĐS 2014 chỉ quy định nhà nước khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân thực hiện giao dịch BĐS thông qua sàn giao dịch BĐS để bảo đảm công khai, minh bạch và quyền lợi của các bên. Như vậy thì mới không bắt buộc phải thông qua sàn giao dịch bất động sản.

Trên đây là tư vấn để cá nhân, tổ chức tham khảo, mọi vướng mắc vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Dịch vụ tư vấn xin cấp sổ đỏ (sổ hồng), sang tên nhà đất

5. Tư vấn mua bán đất trồng cây lâu năm ?

Tôi dự định mua 1 miếng đất ở Bình Dương, vì không có nhiều tiền nên tôi mua 1 miếng đất có diện tích 4x14 m ở Bến Cát thông qua 1 công ty bất động sản. Đất này nếu tôi mua thì sẽ chỉ làm Hợp Đồng Thỏa Thuận Mua Bán chứ không được tách sổ riêng và phía bên cty môi giới chỉ đóng dấu công ty để xác nhận giữa bên bán và bên mua. Đất này xung quanh trồng cao su và trên giấy tờ là đất trồng cây lâu năm.
Vậy xin luật sư cho biết dùm miếng đất này nếu mua thì có hợp pháp hay rủi ro gì không?
Xin chân thành cảm ơn!

Tư vấn mua bán đất trồng cây lâu năm ?

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến chuyên mục tư vấn pháp luật của chúng tôi. Câu hỏi của bạn, Luật Minh Khuê xin trả lời như sau:

1.Về việc mua bán đất không được tách thửa đất

Theo Quyết định số 49/2009/QĐ-UBND tỉnh Bình Dương về diện tích tối thiểu các loại đất được phép tách thửa trên địa bàn tỉnh Bình Dương như sau:

“Diện tích đất tối thiểu đối với từng loại đất (đất ở hoặc đất nông nghiệp) được phép tách thửa đối với khu vực thị xã Thủ Dầu Một, huyện Thuận An, huyện Dĩ An được quy định:

Diện tích đất tối thiểu được tách thửa?

( Diện tích đất tối thiểu được tách thửa - Ảnh minh họa)

Diện tích tối thiểu đối với từng loại đất (đất ở hoặc đất nông nghiệp) được phép tách thửa đối với khu vực huyện Bến Cát, huyện Tân Uyên, huyện Dầu Tiếng, huyện Phú Giáo được quy định:

Diện tích tách thửa Bình dương

Do bạn mua đất trên địa bàn huyện Bến Cát và diện tích đất là 4×14m = 56m nhỏ hơn diện tích tối đa mà UBND tỉnh Bình Dương cho phép tách thửa nên trường hợp của bạn được phép tách thửa để làm sổ đỏ riêng

2. Về bản hợp đồng mua bán đất của bạn

Căn cứ điểm a, khoản 3 điều 167 Luật đất đai năm 2013 , hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND cấp xã. Ngoài hình thức hợp đồng nêu trên, Nhà nước không công nhận những hình thức hợp đồng khác.

Theo quy định của pháp luật, hợp đồng vi phạm hình thức không đương nhiên bị vô hiệu. Nó chỉ bị tuyên bố vô hiệu khi một trong các bên hoặc người thứ ba yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu do không tuân theo quy định về hình thức của hợp đồng. Theo khoản 1, Điều 136, BLDS 2015 quy định: "1. Thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu được quy định tại các điều từ Điều 130 đến Điều 134 của Bộ luật này là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập."

Trong khi đó, hợp đồng vô hiệu do không tuân thủ quy định về hình thức được quy định tại điều 134, BLDS 2015, cũng thuộc vào trường hợp điều chỉnh của quy định trên. Do đó, có thể hiểu rằng hợp đồng chỉ bị vô hiệu về hình thức, khi trong thời hạn 2 năm kể từ ngày hợp đồng được xác lập mà một trong các bên hoặc người thứ 3 yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng đó vô hiệu. Qúa thời hạn trên, không ai có quyền khởi kiện yêu cầu hợp đồng tuyên bố vô hiệu về hình thức nữa, đương nhiên nó vẫn có hiệu lực.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Luật Minh KHuê

>> Xem thêm:  Mua lại chung cư vay gói 30 nghìn tỷ( nhà ở xã hội) cần phải đáp ứng điều kiện gì ?