Tôi đã không đồng ý vì theo tôi, trong hợp đồng đặt cọc ghi rõ bên nào vi phạm thì bồi thường gấp đôi số tiền đặt cọc nên tôi yêu cầu vợ chồng ông A phải bồi thường cho tôi 30 triệu đồng (10 triệu đồng tiền đặt cọc và 20 triệu tiền bồi thường). Vợ chồng ông A phản ứng gay gắt nhưng cuối cùng tôi khuyên vợ chồng ông A hãy cầm tiền về và đọc kỹ hợp đồng trước khi nói chuyện lại. Sau đó, khi về đến nhà, vợ chồng ông A có gọi điện cho tôi và nói những lời tương đối nặng lời, thậm chí thách thức tôi khởi kiện.

Sau thời gian gần 1 tháng, vì không thấy vợ chồng ông A có xoay chuyển gì và cũng thiết nghĩ, muốn mọi chuyện được êm đẹp, tránh chuyện kiện tụng nên tôi chủ động gọi điện cho vợ chồng ông A, đề xuất giải quyết theo phương án ban đầu. Tôi đồng ý nhận lại 20 triệu trong đó gồm 10 triệu tiền đặt cọc và 10 triệu tiền phạt vi phạm hợp đồng. Nhưng lần này vợ chồng ông A lại không chấp nhận. Vợ chồng ông A nói là chỉ gửi lại cho tôi 10 triệu tiền đã đặt cọc. Còn tiền bồi thường người ta không đưa vì bảo là đã đưa cho tôi rồi mà tôi không nhận thì thôi. Vợ chồng ông A còn thách thức tôi khởi kiện.

Thưa luật sư, vợ chồng ông A làm như vậy đúng hay sai? Tôi đúng hay sai? Và tôi nên làm gì để đòi lại quyền lợi. Số tiền không phải quá lớn nhưng đó là uy tín và danh dự. Mong nhận lại hồi âm sớm từ luật sư.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật dân sự công ty Luật Minh khuê.

>> Luật sư tư vấn đòi bồi thường theo hợp đồng, gọi: 1900.1975

Trả lời:

Kính chào và cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi cho Luật Minh Khuê của chúng tôi.Với câu hỏi trên chúng tôi xin tư vấn cho bạn như sau:

1. Cơ sở pháp lý:

- Bộ luật Dân sự 2015

- Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

2. Nội dung phân tích

Mức phạt vi phạm hợp đồng:

Đối với hợp đồng dân sự thì mức phạt vi phạm hợp đồng do các bên tự do thỏa thuận theo Điều 418 Bộ luật Dân sự 2015:

"1. Phạt vi phạm là sự thỏa thuận giữa các bên trong hợp đồng, theo đó bên vi phạm nghĩa vụ phải nộp một khoản tiền cho bên bị vi phạm.

2. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.

3. Các bên có thể thỏa thuận về việc bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm mà không phải bồi thường thiệt hại hoặc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại.

Trường hợp các bên có thỏa thuận về phạt vi phạm nhưng không thỏa thuận về việc vừa phải chịu phạt vi phạm và vừa phải bồi thường thiệt hại thì bên vi phạm nghĩa vụ chỉ phải chịu phạt vi phạm."

Như vậy, theo quy định của bộ luật dân sự thì mức phạt hợp đồng chỉ áp dụng cho các bên có sự thỏa thuận trong hợp đồng, và không bị khống chế một mức tối đa.

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn và vợ chồng ông A đã thỏa thuận trong hợp đồng về việc mức phạt hợp đồng nếu bên ông A không thực hiện là gấp đôi số tiền đặt cọc. Hiện tại, ông A không thực hiện hợp đồng. Như trích dẫn trên thì bạn hoàn toàn có quyền đòi ông A bồi thường số tiền 20 triệu đồng, tương ứng với 2 lần số tiền đặt cọc (10 triệu đồng). Nếu vợ chồng ông A không thực hiện nghĩa vụ với bạn thì bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết.

Thẩm quyền giải quyết:

"Điều 35. Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;

...

3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều này.

4. Tòa án nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam hủy việc kết hôn trái pháp luật, giải quyết việc ly hôn, các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, cha mẹ và con, về nhận cha, mẹ, con, nuôi con nuôi và giám hộ giữa công dân Việt Nam cư trú ở khu vực biên giới với công dân của nước láng giềng cùng cư trú ở khu vực biên giới với Việt Nam theo quy định của Bộ luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam."

Như vậy, tòa án nhân dân cấp huyện nơi vợ chồng ông A đang cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ việc trên.

Tạm ứng án phí:

Khi khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về hợp đồng đặt cọc nói trên, bạn phải nộp tiền án phí/tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 9 Nghị quyết 326/2016/NQUBTVQH14:

"Điều 9. Nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, án phí, lệ phí Tòa án

Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, án phí, lệ phí Tòa án, trừ trường hợp không phải nộp hoặc được min nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án, án phí, lệ phí Tòa án theo quy định của Nghị quyết này."

Mức án phí sơ thẩm đối với các vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch:

Tên án phí

Mức thu

a) từ 6.000.000 đồng trở xuống

300.000 đồng

b) Từ trên 6.000.000 đồng đến

400.000.000 đồng

5% giá trị tài sản có tranh chấp

c) Từ trên 400.000.000 đồng đến

800.000.000 đồng

20.000.000 đồng + 4% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 400.000.000 đồng

d) Từ trên 800.000.000 đồng đến

2.000.000.000 đồng

36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 800.000.000 đồng

đ) Từ trên 2.000.000.000 đồng đến

4.000.000.000 đồng

72.000.000 đồng + 2% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 2.000.000.000 đồng

e) Từ trên 4.000.000.000 đồng

112.000.000 đồng + 0,1% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt quá 4.000.000.000 đồng.

Theo đó:

- Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu của họ không được Tòa án chấp nhận.

- Bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.

- Nguyên đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm trong trường hợp toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn không được Tòa án chấp nhận.

- Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu không được Tòa án chấp nhận. Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với phần yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn được Tòa án chấp nhận.

- Bị đơn có yêu cầu phản tố phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần yêu cầu phản tố không được Tòa án chấp nhận. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo phần yêu cầu phản tố của bị đơn được Tòa án chấp nhận.

Như vậy, khi nộp đơn khởi kiện thì nguyên đơn sẽ phải có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, sau khi giải quyết xong tranh chấp, căn cứ vào quyết định của Tòa án để xác định nghĩa vụ nộp tiền án phí của đương sự theo quy định nêu trên.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.1975 hoặc gửi qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê