1. Quy định từ chối ly hôn sau khi hòa giải không thành ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một số vấn đề mong các luật sư giải đáp như sau: Hai vợ chồng tôi đã ra toà thuận tình ly hôn, hoàn thiện hồ sơ đầy đủ, toà đã triệu tập lên và cùng ký vào biên bản hoà giải không thành. Nếu sau khi có biên bản mà một trong hai người không đồng ý ly hôn nữa thì toà có trả lại hồ sơ để làm lại không ?

Trong đơn thuận tình ly hôn tôi phải trao trước cho vợ tôi một khoản tiền để nuôi con có sự chứng kiến của toà án, và hàng tháng tôi vẫn phải đóng góp một khoản tiền để nuôi con.

Trước sự chứng kiến của toà án tôi trao trước số tiền nuôi con bằng sổ tiết kiệm chứ không phải bằng tiền mặt, nếu vợ tôi không đồng ý và không đồng ý ly hôn nữa thì toà có trả lại hồ sơ để làm lại không ? Nếu toà án vẫn tiếp tục giải quyết thuận tình ly hôn thì sẽ giải quyết như thế nào, thời gian là bao lâu ?

Xin nhờ Luật Minh Khuê tư vấn giúp. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: A.T

>> Tư vấn Luật hôn nhân gia đình trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin mà bạn cung cấp cho chúng tôi hiểu là:

+ Vợ chồng bạn cùng làm đơn giải quyết việc thuận tình ly hôn;

+ Tòa án đã triệu tập lên và vợ chồng bạn đã cùng ký vào biên bản hòa giải không thành xác nhận về việc yêu cầu ly hôn, hòa giải đoàn tụ không thành cũng như các thỏa thuận về nuôi con, cấp dưỡng, chia tài sản chung và các vấn đề khác (nếu có).

- Căn cứ Điểm a, Mục 9, Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quy định về việc "Thuận tình ly hôn" như sau:

"Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn thì Toà án vẫn phải tiến hành hoà giải. Trong trường hợp Toà án hoà giải không thành thì Toà án lập biên bản về việc tự nguyện ly hôn và hoà giải đoàn tụ không thành. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không có phản đối sự thoả thuận đó, thì Toà án ra quyết định công nhận thuận tình ly hôn mà không phải mở phiên toà khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

- Hai bên thật sự tự nguyện ly hôn;

- Hai bên đã thoả thuận được với nhau về việc chia hoặc không chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con;

- Sự thoả thuận của hai bên về tài sản và con trong từng trường hợp cụ thể này là bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.

Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay, các bên không có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm."

- Đối chiếu quy định trên với thông tin bạn đưa ra thì nếu sau khi có biên bản hòa giải không thành mà 1 bên không đồng ý ly hôn nữa thì có 2 khả năng sau sẽ xảy ra:

+ Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản mà Tòa xét thấy các bên không có sự thay đổi ý kiến (cụ thể là không có đơn đề nghị lên Tòa thay đổi ý kiến trong biên bản hòa giải) và có đủ điều kiện để vợ chồng bạn thuận tình ly hôn thì Tòa án sẽ ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và quyết định này có hiệu lực ngay và không thể kháng cáo. Sau 15 ngày mà 1 bên mới có ý kiến thì sẽ không được Tòa chấp nhận giải quyết.

+ Nếu 1 bên (bạn hoặc vợ bạn) có ý kiến trong thời hạn cho phép (15 ngày) về việc không chấp nhận từ chối không ly hôn thì Tòa án sẽ xem xét ghi lại những gì đã thỏa thuận được, những gì chưa thỏa thuận được, sau đó sẽ tiến hành thủ tục mở phiên tòa xét xử vụ án ly hôn theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về vụ án hôn nhân gia đình chứ không giải quyết theo hướng thuận tình ly hôn hay trả lại hồ sơ như anh đã hỏi.

- Trong trường hợp anh chị có thỏa thuận về việc anh phải trao trước cho vợ tôi một khoản tiền để nuôi con có sự chứng kiến của toà án, và hàng tháng anh sẽ phải đóng góp một khoản tiền để nuôi con. Trước sự chứng kiến của toà án anh trao trước số tiền nuôi con bằng sổ tiết kiệm chứ không phải bằng tiền mặt, nếu vợ anh không đồng ý và không đồng ý ly hôn nữa thì điều này không ảnh hưởng tới việc Tòa sẽ xử lý như thế nào thì điều này còn phải xem xét thỏa thuận trao tiền của anh cho vợ của anh là ở thời điểm nào?

+ Nếu tại thời điểm khi lên nhận quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa thì anh mới trao tiền (dưới hình thức sổ tiết kiệm) mà vợ anh không đồng ý và không chấp nhận ly hôn thì việc này không ảnh hưởng tới quyết định của Tòa mà vợ anh chỉ có thể làm đơn yêu cầu với Tòa buộc anh đưa tiền mặt (nếu trong đơn ly hôn thuận tình thỏa thuận và ở trong biên bản hòa giải đã ghi rõ như vậy). Như đã nói ở trên, Quyết định công nhận thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay.

+ Nếu thời điểm là ngay khi 2 bên ký vào biên bản hòa giải hoặc trong vòng 15 ngày kể từ ngày lập biên bản thì nếu vợ anh không đồng ý và có đơn thay đổi ý kiến thì Tòa sẽ giải quyết việc của anh theo thủ tục của vụ án hôn nhân gia đình chứ không phải là thuận tình ly hôn nữa.

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Ly hôn khi vừa đăng kí kết hôn được 2 ngày ? Có yêu cầu hủy hôn được không ?

2. Hỏi về thủ tục ly hôn thiếu giấy kết hôn ?

Thưa Luật sư, em có một vấn đề rất mong luật sư giải đáp. Hiện tại, anh hai và chị dâu của em có cuộc sống hôn nhân không hòa hợp. Chị dâu em đã dọn ra ở riêng. Anh em muốn đơn phương ly hôn. Nhưng không có giấy kết hôn. Nên anh em không biết phải làm thế nào để ly hôn.
Anh em thì ở TP. Hồ Chí Minh. Còn chị dâu thì ở Đà Nẵng. Lúc làm giấy kết hôn: anh, chị đã ra Đà Nẵng làm. Giấy kết hôn có 2 bản: 1 bản bên nhà chị dâu giữ, 1 bản thì anh em giữ, nhưng khi chị dâu ra riêng cũng đã mang theo. Còn bản sau thì được giữ tại Đà Nẵng. Chị dâu nhất định không chịu đưa giấy kết hôn cho anh.
Kính mong luật sư tư vấn giúp em. Làm thế nào để anh em có thể ly hôn? Và thủ tục ly hôn là như thế nào?
Em xin chân thành cảm ơn và rất mong sự phản hồi từ các Quý Luật sư Công ty tư vấn Luật Minh Khuê.

>>Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại:1900.6162

Trả lời:

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.".

Như vậy, anh bạn vẫn có quyền đơn phương gửi đơn yêu cầu xin ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp huyện nơi chị dâu bạn đang cư trú (theo khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự). Trường hợp không biết thông tin về nơi cư trú, làm việc của chị dâu thì tòa án có thẩm quyền giải quyết là Tòa án cấp huyện nơi người chị dâu cư trú, làm việc cuối cùng giải quyết (điểm a, khoản 1, Điều 36 BLTTDS).

Hồ sơ xin đơn phương ly hôn bao gồm:

- Đơn xin ly hôn;

- Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn;

- Bản sao Hộ khẩu thường trú, tạm trú của vợ và chồng

- Bản sao Chứng minh thư nhân dân hoặc bản sao hộ chiếu của vợ và chồng

- Các giấy tờ chứng minh về tài sản: Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, sở hữu nhà ở (nếu có)…

- Bản sao giấy khai sinh của con (nếu có con chung).

Đối với trường hợp của anh bạn, vì không có bản chính giấy chứng nhận đăng kí kết hôn, do đó, anh bạn có thể đến trực tiếp Ủy ban nhân dân xã, phường, nơi trước đây 2 vợ chồng đăng ký kết hôn để xin trích lục bản sao. Nếu không xin được bản sao thì anh bạn có thể xin xác nhận tình trạng hôn nhân của Ủy ban nhân dân xã, phường nơi trước đây 2 người đã đăng ký kết hôn.

Theo quy định của Nghị định 123/2015/NĐ-CP, quy định chi tiết một số điều bà biện pháp thi hành Luật hộ tịch thì

- Thẩm quyền cấp giấy tình trạng hôn nhân là ủy ban nhân dân cấp xã nơi thường trú của anh.

"Điều 66. Thẩm quyền cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân

1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi cư trú của người có yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người đó."

- Hồ sơ anh bạn cần chuẩn bị là:

+ Tờ khai cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo mẫu quy định;

+ Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân như Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế;

+ Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người yêu cầu.

Sau đó, anh bạn gửi hồ sơ đến Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi vợ anh bạn cư trú để tiến hành giải quyết.

Trên đây là nội dung tư vấn về vấn đề mà bạn quan tâm. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến công ty Luật Minh Khuê!

>> Xem thêm:  Mẫu đơn xin ly hôn bản cập nhật mới nhất năm 2021 ? Hướng dẫn cách viết đơn xin ly hôn

3. Vợ bị nhiễm HIV, chồng có quyền nuôi cả hai con khi ly hôn không ?

Thưa luật sư, em trai tôi kết hôn với một cô gái (cô ấy bị HIV) đã được 6 năm, vợ chồng cũng đã có 2 con chung (hoàn toàn mạnh khỏe), cháu gái đã được 5 tuổi, cháu trai được 2 tuổi. Do mẫu thuẫn từ cả 2 phía nên cô chú quyết định nộp đơn ly hôn. Ba tháng trước em trai tôi có đi xét nghiệm kết quả âm tính.
Luật sư cho tôi hỏi trong trường hợp này liệu em trai tôi có giành được quyền nuôi 2 dứa con không ?
Xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Khi anh chị giải ly hôn mà hiện tại không thỏa thuận được ai là người trực tiếp nuôi con thì tòa án tiến hành phân định người trực tiếp nuôi con căn cứ theo quy định Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

- Đồng thời Khoản 7, điều 6 Luật phòng chống HIV quy định chính sách của nhà nước:

"Hỗ trợ phòng, chống lây nhiễm HIV từ mẹ sang con, nuôi dưỡng trẻ em dưới 6 tháng tuổi sinh ra từ người mẹ nhiễm HIV bằng sữa thay thế và bệnh nhân AIDS có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn."

-> Vì vậy, không thể vì lý do người mẹ nhiễm HIV/AIDS mà bị ngăn cản quyền nuôi con.
Theo đó tòa có thể xét xử như sau:
+ Đối với cháu 2 tuổi theo quy định trên thì mẹ là người trực tiếp nuôi trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
+ Đối với cháu 5 tuổi thì bố mẹ phải chứng minh được mình là người đủ điều kiện để trực tiếp nuôi con.
-> Do đo em trai bạn có thể căn cứ vào những quy định trên để áp dụng vào trường hợp của mình.

Những điều cần lưu ý:

-> Để chứng minh được mình có đủ điều kiện để nuôi con.

* Điều kiện về vật chất bao gồm: Ăn, ở, sinh hoạt, điều kiện học tập…các yếu tố đó dựa trên thu nhập, tài sản, chỗ ở của cha mẹ;
* Các yếu tố về tinh thần bao gồm: Thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con, tình cảm đã dành cho con từ trước đến nay, điều kiện cho con vui chơi giải trí, nhân cách đạo đức, trình độ học vấn … của cha mẹ.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Điều kiện thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn ?

>> Xem thêm:  Có thể ủy quyền để ly hôn được không ? Những lưu ý khi ly hôn ?

4. Làm đơn ly hôn lúc con còn nhỏ có được hay không ?

Chào luật sư, Con trai tôi hiện được 33 tháng tuổi. Và vợ chồng tôi có những xích mích với nhau, chồng tôi cũng thường xuyên không ăn cơm nhà mà đi chơi tới 11-12 giờ đêm mới về, cứ kéo dài như thế, không quan tâm con cái, phó mặc cho bà nội và vợ chăm con, nên khiến cả hai rất căng thẳng, mệt mỏi không thể tiếp tục sống chung được nữa.
Nhưng thời điểm tôi làm đơn thì con tôi mới được 33 tháng, nhưng tôi biết thời gian tiến hành để giải quyết ly hôn có thể kéo dài tới khi con tôi đủ hoặc hơn 36 tháng tuổi. Vậy tôi có còn được quyền ưu tiên nuôi con nữa không?
Mong sớm nhận được tư vấn của luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn.

Luật sư tư vấn:

Theo thông tin bạn cung cấp, con trai bạn hiện được 33 tháng tuổi. Và vợ chồng bạn có những xích mích với nhau, chồng bạn cũng thường xuyên không ăn cơm nhà mà đi chơi tới 11-12 giờ đêm mới về, cứ kéo dài như thế, không quan tâm con cái, phó mặc cho bà nội và vợ chăm con, nên khiến cả hai rất căng thẳng, mệt mỏi không thể tiếp tục sống chung được nữa. Chính vì vậy, bạn muốn làm đơn ly hôn với chồng bạn và bạn mong muốn mình có thể là người được Tòa án giao trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn. Căn cứ theo Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Như vậy, theo quy định, con bạn dưới 36 tháng tuổi (33 tháng tuổi) thì Tòa án chỉ ưu tiên cho bạn là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con sau khi ly hôn, còn thực ra, nếu bạn muốn giành quyền nuôi con sau khi ly hôn thì độ tuổi của con không quan trọng mà phụ thuộc vào khả năng, điều kiện thu nhập, điều kiện kinh tế cũng như phụ thuộc vào việc bạn có đủ thời gian để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con hay không? Chính vì vậy, nếu bạn muốn giành quyền nuôi dưỡng con sau khi ly hôn kể cả khi con bạn đã đủ 36 tháng tuổi thì bạn chỉ cần chứng minh mình có thu nhập ổn định, có đủ điều kiện kinh tế, vật chất cũng như đủ điều kiện tinh thần để chăm sóc, nuôi dưỡng con bạn lâu nay, bạn là người trực tiếp nuôi dưỡng con bạn, chồng bạn không quan tâm, chăm sóc, bỏ mặc bạn và bà nội muốn chăm sóc con thế nào thì chăm,... Bạn cũng có thể đưa ra nhiều bằng chứng khác có lợi cho bạn cũng như đưa ra những bằng chứng bất lợi của chồng bạn để giành quyền nuôi dưỡng con sau khi ly hôn. Tòa án sẽ căn cứ trên những bằng chứng mà bạn cung cấp để giao con cho bạn hoặc chồng bạn trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn.

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 191 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định Thủ tục nhận và xử lý đơn khởi kiện:

“2. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện, Chánh án Tòa án phân công một Thẩm phán xem xét đơn khởi kiện.

3. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày được phân công, Thẩm phán phải xem xét đơn khởi kiện và có một trong các quyết định sau đây:

a) Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện;

b) Tiến hành thủ tục thụ lý vụ án theo thủ tục thông thường hoặc theo thủ tục rút gọn nếu vụ án có đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục rút gọn quy định tại khoản 1 Điều 317 của Bộ luật này;

c) Chuyển đơn khởi kiện cho Tòa án có thẩm quyền và thông báo cho người khởi kiện nếu vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khác;

d) Trả lại đơn khởi kiện cho người khởi kiện nếu vụ việc đó không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.”

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thì thời hạn chuẩn bị xét xử ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn là 04 tháng. Trong thời gian chuẩn bị xét xử thì Thẩm phán được phân công xét xử vụ án sẽ tiến hành hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Trong trường hợp hòa giải thành, Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo điều 212 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015:

“Điều 212. Ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự

1. Hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó thì Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải hoặc một Thẩm phán được Chánh án Tòa án phân công phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, Tòa án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp.

2. Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự nếu các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.”

Trong trường hợp hòa giải không thành, Tòa án sẽ tiến thành thủ tục đưa vụ án ra xét xử. Cả quá trình giải quyết thủ tục ly hôn đơn phương theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 dao động trong khoảng từ 04 tháng đến 06 tháng, tùy từng hồ sơ của vụ việc mà Tòa án thụ lý cũng như tùy vào việc bạn và chồng bạn có đến Tòa án để giải quyết theo trình tự hay không, cũng như phụ thuộc vào số lượng hồ sơ mà Tòa án đó tiếp nhận thì có thể giải quyết vấn đề ly hôn của bạn nhanh hơn hoặc chậm hơn. Lúc này, việc con bạn đủ 36 tháng tuổi chỉ làm bạn mất đi quyền ưu tiên được giao con trực tiếp nuôi, lúc này, bạn muốn giành quyền nuôi dưỡng con sau khi ly hôn thì bạn sẽ phải chứng minh được mình có đầy đủ các điều kiện tốt nhất để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Ngoài ra, bạn có thể tham khảo thêm bài viết: Chồng có quyền ly hôn (thúc ép ly hôn) khi vợ đang nuôi con nhỏ và mang thai 7 tháng tuổi không ?

>> Xem thêm:  Vợ ngoại tình thì bị xử phạt như thế nào ? Nghi ngờ vợ ngoại tình có ly hôn được không ?

5. Con dưới 12 tháng tuổi tòa án có chấp nhận cho ly hôn không ?

Xin chào luật sư, tôi có một vấn đề cần được tư vấn. Vợ chồng tôi kết hôn được hơn 1 tháng, gia đình phía bên vợ chỉ có 1 đứa con gái và yêu cầu tôi ở rể. Sau hơn 1 tháng thì vợ tôi có ý xa lánh tôi, và thời gian vợ tôi lạnh nhạt kéo dài gần 1 tháng. Trong thời gian này vợ tôi không muốn nói chuyện, chăn gối, quan tâm tôi.

Mặc dù tôi rất yêu thương và níu kéo nhiều lần nhưng vợ tôi vẫn không thay đổi, vì do vợ tôi đang mai thai con của chúng tôi nên tòa không chấp nhận ly hôn. Chúng tôi ly thân nay đã gần 1 năm, vợ tôi đã sinh con gần 2 tháng tuổi, tôi đã nói chuyện nhiều lần mong được về cùng chung sống vì tương lai của con. Nhưng gia đình vợ không đồng ý và gia đình vợ tôi yêu cầu tôi chờ con đủ 12 tuổi để làm đơn ra tòa lần 2. Nhưng vợ tôi lại yêu cầu người viết đơn phải là người chồng và vợ tôi sẽ kí (đã kí khi nạp đơn lần 1), nhưng theo tòa án thì người viết đơn phải là vợ tôi, và vợ tôi tự kí, tự nạp đơn để thể hiện quyền lợi của người làm mẹ, hay phụ nữ gì đó.

Vậy, Luật Minh Khuê cho tôi hỏi, trong trường hợp này, vợ tôi muốn ly hôn nhưng không chịu làm đơn, tôi làm đơn thì toàn án không thụ đơn, Có phải là luật vẫn chấp nhận ly hôn khi con chưa đủ 12 tháng tuổi, nếu người viết đơn là người vợ. Tôi làm đơn có được tòa chấp nhận hay không? Và nếu vợ tôi đồng ý viết đơn thì tòa có chấp nhận hay không ?

Con dưới 12 tháng tuổi, vợ chồng ly thân gần 1 năm thì tòa án có chấp nhận cho ly hôn không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về ly hôn, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về trường hợp hạn chế quyền yêu cầu giải quyết ly hôn của người chồng như sau:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn...

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Đối chiếu với quy định trên do vợ bạn đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi nên việc bạn đứng tên trên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn chắc chắn Tòa án sẽ không thụ lý. Do cả hai vợ chồng đều đồng thuận ly hôn và vợ bạn không bị hạn chế quyền yêu cầu giải quyết ly hôn nên nếu có thể thỏa thuận được thì sẽ để vợ bạn đứng tên trên đơn yêu cầu giải quyết ly hôn. Trường hợp này Tòa án mới cân nhắc tới việc thụ lý đơn xin ly hôn của vợ bạn.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quy định của luật hôn nhân gia đình về quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Chồng đang ở nước ngoài vợ có ly hôn đơn phương được không?

Trả lời:

"Đối với trường hợp công dân Việt Nam ở trong nước xin ly hôn với công dân Việt Nam đã ra nước ngoài, khi giải quyết việc này, cần phân biệt như sau:

b) Trường hợp bên đương sự là bị đơn đang ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức hoặc giấu địa chỉ nên nguyên đơn ở trong nước không thể biết địa chỉ, tin tức của họ, thì giải quyết như sau:

- Nếu bị đơn ở nước ngoài không có địa chỉ, không có tin tức gì về họ (kể cả thân nhân của họ cũng không có địa chỉ, tin tức gì về họ), thì Toà án ra quyết định tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 45 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự và giải thích cho nguyên đơn biết họ có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án cấp huyện nơi họ thường trú tuyên bố bị đơn mất tích hoặc đã chết theo quy định của pháp luật về tuyên bố mất tích, tuyên bố chết.

- Nếu thông qua thân nhân của họ mà biết rằng họ vẫn có liên hệ với thân nhân ở trong nước, nhưng thân nhân của họ không cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án, cũng như không thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết để gửi lời khai về cho Toà án, thì coi đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Nếu Toà án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của họ cũng không chịu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn cho Toà án cũng như không chịu thực hiện yêu cầu của Toà án thông báo cho bị đơn biết, thì Toà án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung. Sau khi xét xử Toà án cần gửi ngay cho thân nhân của bị đơn bản sao bản án hoặc quyết định để những người này chuyển cho bị đơn, đồng thời tiến hành niêm yết công khai bản sao bản án, quyết định tại trụ sở Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi bị đơn cư trú cuối cùng và nơi thân nhân của bị đơn cư trú để đương sự có thể sử dụng quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật tố tụng."

Như vậy, trong trường hợp chị không rõ địa chỉ của chồng mình ở nước ngoài thì có thể yêu cầu Tòa án nhân dân nơi chồng chị thường trú tuyên bố chồng chị mất tích hoặc đã chết theo quy định tại Điều 68 và Điều 71 Bộ luật dân sự 2015. Trong trường hợp chồng chị hoặc thân nhân trong nước không cung cấp địa chỉ, tin tức của chồng chị thì sẽ coi đây là hành vi cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo và Tòa án sẽ đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bị đơn theo thủ tục chung.

Câu hỏi: Vợ ngoại tình bị xử lý hành chính mức như thế nào?

Trả lời:

Xử lý vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 48 Nghị định 110/2013/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, thi hành án dân sự, phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã:

Điều 48. Hành vi vi phạm quy định về cấm kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng; vi phạm quy định về ly hôn

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

a) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà kết hôn với người khác, chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà kết hôn với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;

b) Đang có vợ hoặc đang có chồng mà chung sống như vợ chồng với người khác;

c) Chưa có vợ hoặc chưa có chồng mà chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng hoặc đang có vợ;......

 

Thẩm quyền xử phạt hành chính này là chủ tịch UBND cấp xã/phường nơi vợ, chồng cư trú và xảy ra hành vi vi phạm.

Chế tài hình sự được áp dụng để xử lý ngoại tình ở mức độ nghiêm trọng hơn và có đủ yếu tố cấu thành tội phạm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự. Có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm, được quy định cụ thể tại Điều 182 Bộ luật hình sự năm 2015.

Câu hỏi: Mức cấp dưỡng cho con quy định như thế nào?

Trả lời:

Căn cứ theo điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau: 

Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."