- 1. Quy định về cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ
- 2. Cha mẹ có quyền quyết định đối tượng kết hôn của con cái không?
- 3. Chồng có quyền thúc ép ly hôn khi vợ đang mang thai?
- 4. Mức xử phạt đối với hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ?
Luật sư tư vấn:
1. Quy định về cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ
- Cưỡng ép kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ. Người có hành vi cưỡng ép việc kết hôn, ly hôn có thể là chính người thân trong gia đình (bố mẹ hoặc họ hàng) của một trong hai bên nam và nữ. Pháp luật cũng không ấn định việc chủ thể phải là ai mới có thể vi phạm vào hành vi này mà chỉ cần một cá nhân nào đó có một trong các hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc một trong các hành vi khác để buộc một trong hai bên nam và nữ kết hôn hoặc ly hôn trái với ý muốn của họ là đã vi phạm quy định của pháp luật hôn nhân. Việc tự nguyện theo ý muốn hai bên nam và nữ còn được ghi nhận trong nguyên tắc đầu tiên của chế độ hôn nhân và gia đình. Đó là hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.
- Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đó là nam phải từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên mới đủ điều kiện về độ tuổi kết hôn. Nên việc nam hoặc nữ chưa đủ tuổi mà kết hôn là hành vi tảo hôn là hành vi bị cấm của pháp luật hôn nhân. Việc quy định điều kiện về độ tuổi này một phần là đảm bảo điều kiện về sức khỏe, tâm lý hay thậm chí là tài chính. Vì ở độ tuổi nhỏ hơn độ tuổi quy định này thì nam và nữ khó có thể đáp ứng đầy đủ các điều kiện nên việc quy định pháp luật về độ tuổi này là để đảm bảo các điều kiện tốt nhất cho hai vợ chồng sau này.
- Cản trở kết hôn, ly hôn là việc đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình hoặc buộc người khác phải duy trì quan hệ hôn nhân trái với ý muốn của họ. Việc hôn nhân phải tự nguyện là thể hiện ý chí của hai bên nam và nữ trong chính mối quan hệ hôn nhân mà họ muốn xác lập với nhau. Hôn nhân cũng phải thực hiện tiến bộ dần bỏ các tập tục lạc hậu, không hợp lý ảnh hưởng đến việc kết hôn và ly hôn của hai bên. Đó có thể là các yêu sách về của cải hay "thách cưới" không phải điều kiện của việc kết hôn, tạo ra rào cản hôn nhân khiến việc tiến tới kết hôn của hai bên không thành công.
- Các hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ là các hành vi bị cấm theo khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Luật Minh Khuê làm rõ khái niệm, cách hiểu về cưỡng ép ly hôn:
Ly hôn là một khái niệm pháp lý, đánh dấu sự chấm dứt mối quan hệ vợ chồng giữa hai người thông qua bản án, quyết định của Tòa án. Mặc dù có thể được thực hiện với sự đồng thuận của cả hai bên, tuy nhiên, nếu một trong hai bên không đồng ý, quá trình này thường đòi hỏi sự can thiệp của hệ thống pháp luật để đưa ra quyết định hợp lý và công bằng.
Theo quy định của Khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, ly hôn chỉ có hiệu lực pháp luật khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án. Điều này đồng nghĩa với việc mọi thủ tục ly hôn đều phải tuân theo quy định của pháp luật, bảo đảm quyền lợi và trách nhiệm của cả hai bên được đảm bảo và công bằng.
Còn về khái niệm cưỡng ép ly hôn, theo quy định tại Khoản 9 Điều 3 của cùng luật, đây là hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc các hành vi khác nhằm buộc người khác phải ly hôn, thậm chí trái với ý muốn của họ. Điều này làm nổi bật tính chất bất công và xâm phạm quyền tự do cá nhân của người bị áp đặt.
Trong trường hợp cưỡng ép ly hôn, nạn nhân thường phải đối mặt với nhiều áp lực tinh thần và tâm lý khó khăn, đồng thời có thể gặp phải những tổn thương về tâm lý và tinh thần nặng nề. Hành vi này không chỉ vi phạm quyền tự do cá nhân mà còn tạo ra những hậu quả lâu dài đối với tâm hồn và tâm trạng của họ.
Như vậy, ly hôn và cưỡng ép ly hôn không chỉ là những sự kiện pháp lý mà còn là những khía cạnh của cuộc sống cá nhân và gia đình, đòi hỏi sự quan tâm và can thiệp chín chặn từ phía hệ thống pháp luật để bảo vệ quyền lợi và tình duyên của những người liên quan
2. Cha mẹ có quyền quyết định đối tượng kết hôn của con cái không?
Theo Điều 8 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 quy định một trong những điều kiện kết hôn là "Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định". Như vậy cha mẹ không có quyền quyết định đối tượng kết hôn của con cái.
3. Chồng có quyền thúc ép ly hôn khi vợ đang mang thai?
Vậy xin hỏi luật sư trong trường hợp của em gái tôi thì chồng nó có quyền được đưa đơn ly hôn hay không ạ, và nếu em gái tôi làm đơn ly hôn trong thời gian này thì tòa án nơi em gái tôi đang sống nhà mẹ đẻ có quyền được giải quyết ly hôn hay không ạ ? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về ly hôn, gọi: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Thứ nhất, về việc người chồng có quyền đưa đơn ly hôn hay không ?
Luật Hôn nhân và gia đình có cho phép việc đơn phương ly hôn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục. Tuy nhiên, việc người chồng đơn phương ly hôn sẽ gặp phải "rào cản" nếu rơi vào trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đinh năm 2014 như sau:
Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn...
3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Như vậy, dù pháp luật cho phép ly hôn hôn đơn phương nhưng nếu người vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì Tòa án sẽ không chấp nhận đơn ly hôn người chồng gửi.
Đối chiếu với trường hợp của em gái bạn, hiện tại em gái bạn đang mang thai nên trong trường hợp này người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn. Nếu em rể bạn vẫn khăng khăng đòi nộp đơn thì Tòa án cũng sẽ không giải quyết.
Thứ hai, Tòa án nào sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn.
Luật Hôn nhân và gia đình chỉ không cho phép người chồng có quyền ly hôn khi vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Nếu em gái bạn không thể chung sống được với người chồng, đời sống hôn nhân lâm vào trầm trọng,... thì em gái bạn hoàn toàn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Về thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của em gái bạn thì Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định:
Điều 39. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:…
b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;…
2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:…
h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;…
Vì em gái bạn đang mang thai và có thể gặp khó khăn trên đường di chuyển từ Thanh Hóa đến Thái Nguyên nên em bạn hoàn toàn có thể thỏa thuận với người chồng về việc sẽ giải quyết ly hôn tại Thanh Hóa.
4. Mức xử phạt đối với hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ?
- Trước đây theo quy định của Điều 55 của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP (đã hết hiệu lực) của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình thì phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
- Cưỡng ép người khác kết hôn, ly hôn, tảo hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần hoặc bằng thủ đoạn khác.
- Cản trở người khác kết hôn, ly hôn, cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác.
Trên đây là mức phạt tiền đối với cá nhân vi phạm còn đối với tổ chức vi phạm sẽ bị xử phạt tiền bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân, khoản 2 Điều 4 của Nghị định số 167/2013/NĐ-CP.
- Hiện nay thì Nghị định số 167/2013/ND-CP đã hết hiệu lực và bị thay thế bởi Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, phòng cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng, chống bạo lực gia đình (căn cứ khoản 2 Điều 80 của Nghị định 144/2021/NĐ-CP). Theo Nghị định này thì bây giờ đối với hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn, tảo hôn, cản trở hôn nhân tiến bộ không còn bị xử phạt vi phạm hành chính nữa mà tùy thuộc vào mức độ nghiêm trọng và ảnh hưởng của hành vi trên đối với các chủ thể xã hội mà sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, cụ thể như sau:
- Đối với hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện có thể bị xử lý theo quy định của Điều 181 của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì hành vi này được mô tả là người nào cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của họ, cản trở người khác kết hôn hoặc duy trì quan hệ hôn nhân tự nguyện, tiến bộ hoặc cưỡng ép hoặc cản trở người khác ly hôn bằng cách hành hạ, ngược đãi, uy hiếp tinh thần, yêu sách của cải hoặc bằng thủ đoạn khác, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
- Còn đối với hành vi tảo hôn thì theo quy định của Điều 183 của BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người nào tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm.
Trên đây là bài tư vấn của chúng tôi, mọi thắc mắc quý khách hàng xin vui lòng liên hệ số Hotline 1900.6162 để được giải đáp. Xin chân thành cảm ơn!