1. Tư vấn về thủ tụ ly hôn theo quy định mới ?

Thưa luật sư. Xin luật sư tư vấn dùm trường hợp sau đây: Tôi và chồng kết hôn từ tháng 7 năm 2009 tại P.T, L.T, Q.B Sau đó chúng tôi vào B.D làm ăn và sinh sống. Năm 2010 chúng tôi có với nhau một đứa con. Tháng 01/2013, vì điều kiện công việc nên chồng tôi được công ty điều sang công ty bên Campuchia để làm việc.

Từ đó vợ chồng con cái ít khi được bên cạnh nhau, thỉnh thoảng chồng tôi mới được về thăm gia đình một lần vào những ngày được nghỉ. Con gái tôi thường xuyên đau ốm bệnh tật nên công việc của tôi thường xuyên bị gián đoạn, phải ở nhà chăm con, trong suốt thời gian đó một mình tôi phải chăm sóc con cái, cuộc sống 2 mẹ con cứ lủi thủi, khó khăn vất vả, đã nhiều lần tôi khuyên chồng tôi bỏ công việc về B.D kiếm việc làm để vợ chồng con cái được bên nhau, chăm sóc và lo lắng cho nhau, nhưng chồng tôi cứ nói công việc này nọ , không chịu về. tình cảm vợ chồng từ đó cũng nhạt dần, sự quan tâm lo lắng đỡ đần nhau trong cuộc sống cũng ít đi, mỗi lần chồng tôi về chỉ biết ăn chơi nhậu nhẹt rồi đi.Cũng vì điều đó nên tôi buồn chán. Đến khoảng tháng 5/ 2015, tôi bắt đầu quen và có quan hệ với một người đàn ông chưa có gia đình, và chồng tôi bắt gặp được.Từ đó vợ chồng tôi sống li thân, cuộc sống của ai người đó tự biết. Đã qua một thời gian gần một năm, vợ chồng tôi không thể hàn gắn được, chồng tôi không chịu kí vào đơn li hôn nhưng cũng không còn muốn hàn gắn, chồng tôi đồng ý chia tay nhưng không muốn ra toà và đồng ý để con cho tôi nuôi,nhưng tôi muốn li hôn để chấm dứt tình trạng hôn nhân hiện tại.Trong trường hợp của tôi, xin luật sư cho biết:

1. Toà án liệu có giải quyết li hôn cho tôi không?

2. Tôi phải gửi đơn li hôn lên toà án cấp huyện hay tỉnh( vì chồng tôi làm việc ở nước ngoài nhưng trụ sở chính ở T.A, B.D) chúng tôi tạm trú ở Thuận An, Bình Dương 3. Nếu chồng tôi không chịu kí đơn và cũng không chịu ra toà thì phải làm thế nào?

Tôi xin chân thành cảm ơn.

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

1. Theo khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định: " Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn" . Theo đó, mỗi bên đều có quyền đơn phương nộp đơn ra Tòa yêu cầu giải quyết ly hôn. Tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014quy định các trường hợp ly hôn theo yêu cầu một bên. Để được Tòa án thụ lý đơn ly hôn đơn phương thì cần phải có căn cứ ly hôn, bao gồm:

"1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ củavợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Tình trạng hôn nhân trầm trọng được hiểu là:

- Vợ, chồng không yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, hòa giải nhiều lần.

- Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau, như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhiều lần.

- Vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

Bạn có hành vi ngoại tình và bị chồng bạn phát hiện nhưng trước đó, chồng bạn đã vi phạm quyền và nghĩa vụ của người chồng khiến hôn nhân rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên đây cũng là căn cứ để Tòa án xem xét việc giải quyết ly hôn cho bạn.

2. Theo Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015quy định như sau:

Điều 39. Thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết."

3. Trong trường hợp nếu chồng bạn không ký vào đơn ly hôn cũng như không chịu ra Tòa thì khi Tòa triệu tập chồng bạn đến lần thứ hai nhưng không tới mà không có lý do chính đáng thì Tòa vẫn tiến hành thủ tục ly hôn đơn phương theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự và Luật hôn nhân gia đình.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Chồng có quyền ly hôn (thúc ép ly hôn) khi vợ đang mang thai ?

Thưa luật sư! Em gái tôi kết hôn năm 2014. Hiện đang nuôi con nhỏ 20 tháng tuổi và đang mang thai 7 tháng tuổi. E gái tôi đang sống ly thân vì không thể sống chung được với gia đình nhà chồng.

Em gái tôi dự tính là sinh xong em bé sẽ làm đơn ly hôn, nhưng chồng em gái tôi cứ gọi điện nhắn tin giục em gái tôi phải viết đơn nhanh không là chồng nó sẽ viết. Hiện giờ em gái tôi đang ở nhà mẹ đẻ ở Thanh Hóa. Nhà chồng ở Thái Nguyên. Giấy đăng ký kết hôn và các giấy tờ liên quan đang ở nhà chồng.

Vậy xin hỏi luật sư trong trường hợp của em gái tôi thì chồng nó có quyền được đưa đơn ly hôn hay không ạ, và nếu em gái tôi làm đơn ly hôn trong thời gian này thì tòa án nơi em gái tôi đang sống nhà mẹ đẻ có quyền được giải quyết ly hôn hay không ạ ?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Chồng có quyền ly hôn (thúc ép ly hôn) khi vợ đang nuôi con nhỏ và mang thai 7 tháng tuổi không ?

Luật sư tư vấn pháp luật Hôn nhân về ly hôn, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Thứ nhất, về việc người chồng có quyền đưa đơn ly hôn hay không ?

Luật Hôn nhân và gia đình có cho phép việc đơn phương ly hôn nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên khi quan hệ hôn nhân không thể tiếp tục. Tuy nhiên, việc người chồng đơn phương ly hôn sẽ gặp phải "rào cản" nếu rơi vào trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đinh năm 2014 như sau:

Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn...

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Như vậy, dù pháp luật cho phép ly hôn hôn đơn phương nhưng nếu người vợ đang có thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì Tòa án sẽ không chấp nhận đơn ly hôn người chồng gửi.

Đối chiếu với trường hợp của em gái bạn, hiện tại em gái bạn đang mang thai nên trong trường hợp này người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn. Nếu em rể bạn vẫn khăng khăng đòi nộp đơn thì Tòa án cũng sẽ không giải quyết.

Thứ hai, Tòa án nào sẽ có thẩm quyền giải quyết vụ việc ly hôn.

Luật Hôn nhân và gia đình chỉ không cho phép người chồng có quyền ly hôn khi vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Nếu em gái bạn không thể chung sống được với người chồng, đời sống hôn nhân lâm vào trầm trọng,... thì em gái bạn hoàn toàn có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Về thẩm quyền giải quyết việc ly hôn của em gái bạn thì Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có quy định:

Điều 39. Thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:…

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;…

2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:…

h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;…

Vì em gái bạn đang mang thai và có thể gặp khó khăn trên đường di chuyển từ Thanh Hóa đến Thái Nguyên nên em bạn hoàn toàn có thể thỏa thuận với người chồng về việc sẽ giải quyết ly hôn tại Thanh Hóa.

>> Xem thêm:  Tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến qua tổng đài điện thoại

3. Muốn ly hôn nhưng không xác định được chỗ ở của chồng ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Em và chồng em kết hôn 9/12/2007 nhưng 3 năm nay vợ chồng hay mâu thuẫn. Và chồng em và em đã ly thân gần 2 năm. Nay em muốn ly hôn nhưng không xác định được chỗ ở của chồng thì em phải làm sao. Chồng em thì nhập hộ khẩu theo bên em (bên nhà vợ ). Nhưng tòa án ở nơi em ở không giải quyết vì chồng em không có sinh sống ở đây đã rất lâu rồi.
Khi em liên lạc với gia đình nhà chồng thì cũng không ai biết anh ấy ở đâu cả. Cho em hỏi vậy làm làm sao em ly hôn với chồng em. Hiện em có 2 đứa con. Và em đang nuôi 2 con em xin cảm ơn ?

Cảm ơn!

- N.T.T.N

Luật sư trả lời:

Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Tòa án quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng, hủy bỏ các trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm của hôn nhân và các ràng buộc dân sự khác. Trong trường hợp ly hôn đơn phương, là khi ly hôn xuất phát từ ý chí của một bên vợ hoặc chồng thì chỉ khi người nộp đơn xin ly hôn chứng minh được việc ly hôn có căn cứ thỏa mãn các điều kiện của pháp luật thì mới được tòa án chấp thuận ra quyết định ly hôn.

Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn muốn làm đơn ly hôn ra tòa nhưng không biết địa chỉ nơi cư trú hiện tại của vợ. Do đó, để ly hôn bạn phải nộp đơn tại nơi cư trú của chồng bạn, căn cứ Khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 quy định như sau:

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

c) Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.”

Theo quy định trên, khi ly hôn bạn phải nộp đơn tại Tòa án nơi mà người chồng bạn cư trú. Tuy nhiên, như thông tin bạn cung cấp, hiện tại không xác định được nơi cư trú của chồng nên cần phải xác minh rằng người thân của chồng không có tin tức và nơi cư trú của chồng bạn hay không.

Trường hợp không xác định được thông tin bạn có thể làm đơn đến xã nơi cuối cùng vợ cư trú để xác nhận rằng người chồng đã bỏ đi khỏi nơi cư trú (ít nhất là vắng mặt 6 tháng). Căn cứ Bộ Luật Dân sự 2015 quy định như sau:

Điều 387. Đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích

1. Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích theo quy định của Bộ luật dân sự.

2. Kèm theo đơn yêu cầu, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đã biệt tích 02 năm liền trở lên mà không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hoặc đã chết và chứng minh cho việc người yêu cầu đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo tìm kiếm; trường hợp trước đó đã có quyết định của Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú thì phải có bản sao quyết định đó.

Điều 388. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích

1. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích, Tòa án ra quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích.

2. Nội dung thông báo và việc công bố thông báo được thực hiện theo quy định tại Điều 384 và Điều 385 của Bộ luật này. Thời hạn thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích là 04 tháng, kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên.

3. Trong thời hạn thông báo, nếu người bị yêu cầu tuyên bố mất tích trở về và yêu cầu Tòa án đình chỉ việc xét đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu tuyên bố một người mất tích.

4. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn thông báo quy định tại khoản 2 Điều này thì Tòa án phải mở phiên họp xét đơn yêu cầu.

Điều 389. Quyết định tuyên bố một người mất tích

Trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Tòa án ra quyết định tuyên bố một người mất tích; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích đó và được chấp nhận thì trong quyết định tuyên bố một người mất tích, Tòa án còn phải quyết định áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người đó theo quy định của Bộ luật dân sự.

Như vậy, sau khi xác nhận thông tin dưới xã bạn có thể làm đơn đến Tòa án nơi chồng bạn cư trú cuối cùng để yêu cầu tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cứ trú. Thông tin này phải được đăng báo và các phương tiện thông tin đại chúng. Sau hai năm tìm kiếm mà không xác định được tin tức, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Khi đó, bạn có thể làm đơn ly hôn cùng các giấy tờ chứng minh khác đến Tòa án nơi mà bạn cư trú để được đơn phương ly hôn.

Ngoài ra, trong trường hợp người thân gia đình chồng biết thông tin và địa chỉ cư trú của chồng mà cố tình không cho bạn biết thì bạn có thể làm đơn yêu cầu Tòa án để gửi thông báo tới người thân của chồng để yêu cầu cung cấp địa chỉ cư trú hiện tại của chồng bạn. Sau đó bạn có thể làm đơn đơn phương ly hôn gửi tới Tòa án nơi bạn đang cư trú.

>> Xem thêm:  Tư vấn quyền nuôi con khi ly hôn theo quy định mới năm 2020 ?

4. Tư vấn về ly hôn không có tin tức của chồng ?

Kính chào luật sư! Tôi có một số thắc mắc muốn nhờ luật sư tư vấn giúp tôi như sau: Bạn của tôi là nữ, thường trú tại Hậu Lộc, Thanh Hóa đã kết hôn với một người ở Phú Thọ. Từ năm 2009, sau khi đăng ký kết hôn lại sống tại Hậu Lộc, Thanh Hóa và năm 2010 người chồng bỏ nhà đi từ đó không về, Và cũng không có tin tức gì. Vậy giờ bạn tôi muốn ly hôn thì phải làm thế nào và ai có thể giúp bạn tôi?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: MNB

Muốn ly hôn nhưng không xác định được chỗ ở của chồng

Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

Đối với việc người chồng bỏ nhà đi biệt tích từ năm 2010 đến nay, người vợ, với tư cách là người có quyền và lợi ích liên quan hoàn toàn có quyền yêu cầu tòa án tiến hành các thủ tục thông báo tìm kiếm người vắng mặt khi người này đã có 6 tháng biệt tích, đồng thời áp dụng các biện pháp quản lý tài sản của người này bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của những người liên quan theo Điều 64 Bộ luật dân sự năm 2015.

Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 về tuyên bố một người mất tích quy định như sau:

Khi một người biệt tích 2 năm liền trở lên, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự những vẫn không có tin tức xác thực về việc người đó còn sống hay đã chết thì theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án có thể tuyên bố người đó mất tích. Thời hạn hai năm được tính từ ngày biết được tin tức cuối cùng về người đó; nếu không xác định được ngày có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tháng có tin tức cuối cùng; nếu không xác định được ngày, tháng có tin tức cuối cùng thì thời hạn này được tính từ ngày đầu tiên của năm tiếp theo năm có tin tức cuối cùng”.

Như phân tích ở trên, chúng ta đã xác định được người chồng thuộc đối tượng người vắng mặt ở nơi cư trú và theo quy định của pháp luật dân sự thì có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố mất tích, khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về việc tuyên bố một người mất tích và khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định của pháp luật về hôn nhân gia đình”.

Xem xét quy định tại khoản 2 Điều 68 BLDS 2015 và khoản 2 Điều 56 LHN&GĐ 2014 nêu trên, chúng ta thấy luật quy định “vợ hoặc chồng của người bị tuyên bố mất tích xin ly hôn”, tức là trường hợp này đã có quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có thẩm quyền rồi. Khi đó, việc ly hôn được tiến hành bởi 2 thủ tục: thủ tục yêu cầu tuyên bố người chồng/vợ mất tích; sau khi đã có quyết định tuyên bố một người mất tích của Tòa án mới tiến hành thủ tục ly hôn.

Thứ nhất, để người vợ có thể ly hôn được khi người chồng đã bỏ nhà đi từ năm 2010 đến nay phải thực hiện việc nộp đơn yêu cầu tuyên bố người chồng mất tích trước:

>> Đơn yêu cầu tuyên bố mất tích phải có các nội dung sau đây:

+ Ngày, tháng, năm viết đơn;

+ Tên Tòa án có thẩm quyền giải quyết đơn;

+ Tên, địa chỉ của người yêu cầu;

+ Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết và lý do, mục đích, căn cứ của việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đó;

+ Tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, nếu có;

+ Các thông tin khác mà người yêu cầu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết yêu cầu;

+ Người yêu cầu là cá nhân thì phải ký tên hoặc điểm chỉ, nếu là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.

- Xác nhận của Công an khu vực nơi người mất tích cư trú cuối cùng.

- Tài liệu chứng minh đã tìm kiếm người mất tích trên phương tiện thông tin đại chúng ở địa phương.

- CMND, sổ hộ khẩu của hai vợ chồng (bản sao có công chứng/chứng thực).

- Giấy chứng nhận kết hôn (bản chính, nếu không có bản chính thì xin cấp lại hoặc sao y bản chính tại UBND xã/phường/thị trấn nơi trước đã đăng ký kết hôn trước đây).

- Bản sao có chứng thực Giấy khai sinh của các con chung.

- Giấy tờ về tài sản như nhà đất, xe cộ, cổ phần, chứng khoán…

Hồ sơ này người vợ nộp tại Tòa án nhân dân cấp quận/huyện nơi người chồng cư trú, làm việc cuối cùng.

Thứ hai, nộp hồ sơ xin ly hôn:

Trường hợp này được xác định là đơn phương ly hôn, thủ tục đơn phương ly hôn được thực hiện như sau:

Hồ sơ chuẩn bị đơn phương ly hôn bao gồm:

- Đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn (theo mẫu của Tòa án nhân dân cấp huyện).

- Bản chính giấy chứng nhận đăng kí kết hôn của hai vợ chồng.

- Bản sao chứng thực giấy chứng minh thư nhân dân, sổ hộ khẩu của 2 vợ chồng.

- Bản sao chứng thực giấy khai sinh của 2 con.

- Bản sao chứng thực giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản chung của 2 vợ chồng: như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đăng kí xe,…

Khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khi giải quyết vấn đề ly hôn, người vợ trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác tiến hành nộp đơn. Tuy nhiên, có mặt tại Tòa án và xét xử tại tòa thì người vợ phải trực tiếp có mặt, không được ủy quyền cho người khác:

3. Người đại diện theo uỷ quyền được quy định trong Bộ luật dân sự là người đại diện theo uỷ quyền trong tố tụng dân sự; đối với việc ly hôn, đương sự không được uỷ quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ là người yêu cầu theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 của Luật hôn nhân và gia đình thì họ là người đại diện”.

Thẩm quyền giải quyết đơn phương ly hôn

Theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ, trường hợp đơn phương ly hôn, người vợ nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân quận /huyện nơi đã tuyên bố người chồng mất tích.

Thời hạn giải quyết đơn phương ly hôn:

Theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 thời hạn chuẩn bị xét xử những tranh chấp về hôn nhân và gia đình là 04 tháng kể từ ngày thụ lý vụ án, đối với vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì Chánh án Toà án có thể quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử, nhưng không quá 02 tháng. Như vậy, thời gian tối đa giải quyết vụ án đơn phương ly hôn là 06 tháng.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Làm thế nào để có thể ly hôn khi chồng không đồng ý ?

Thưa luật sư, tôi và chồng lấy nhau được hơn một năm và có một đứa con vừa tròn 5 tháng tuổi. Từ khi cưới nhau đến giờ, vợ chồng tôi sống không hạnh phúc. Chồng tôi là một người cộc tính và thường xuyên xúc phạm tôi bằng những lời lẽ thiếu văn hóa. Thêm vào đó là tính vũ phu, hay đánh vợ.

Hiện tôi đang sống trong gia đình nhà chồng và chịu nhiều áp lực với nhà chồng nên thật sự tôi muốn ly hôn. Nhưng hoàn cảnh gia đình nhà chồng tôi hơn hẳn gia đình tôi về mọi mặt, tài chính - con người và điều kiện địa lý, và lại con tôi là cháu đầu tiên đích tôn của gia đình chồng tôi nên họ rất quý. Tôi muốn hỏi tôi có đơn phương ly hôn khi chồng không đồng ý ly hôn được không? Và tôi có được quyền nuôi con khi ly hôn không? Tôi cần phải làm gì để đạt được hai ý nguyện trên?

Xin cảm ơn!

Người gửi: PTH

Làm thế nào để có thể ly hôn khi chồng không đồng ý?

Luật sư tư vấn hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Có ly hôn đơn phương được không khi chồng không đồng ý?

Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn như sau:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

1. Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.

2. Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ.

3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Căn cứ tại khoản 1 điều 51 luật hôn nhân và gia đình, theo đó vợ hoặc chồng đều có thể nộp đơn xin ly hôn tại Tòa án mà không cần phải có sự đồng ý của bên còn lại.

Nguyên tắc giải quyết ly hôn theo yêu cầu của 1 bên được quy định tại khoản 1 điều 56 luật hôn nhân và gia đình 2014:

"1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được".

Theo quy định trên, Tòa án sẽ giải quyết đơn phương ly hôn khi vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc khi xét thấy đời sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Tức là giữa vợ chồng đã có nhiều lục đục mâu thuẫn sâu săc đến mức vợ chồng không thể chịu đựng được nhau nữa, quan hệ vợ chồng không thể tồn tại được, sự tan vỡ của hôn nhân và ly tán của gia đình là không thể tránh khỏi.

Như vậy, đối với trường hợp của bạn, việc chồng bạn có đồng ý ly hôn hay không là không quan trọng. Bạn vẫn có thể nộp đơn xin ly hôn yêu cầu tòa án giải quyết. Khi đơn phương ly hôn, Tòa án sẽ căn cứ vào tình trạng thực tế của vợ chồng để phán quyết, tức là lý do xin ly hôn phải xác đáng cho thấy mục đích hôn nhân, hạnh phúc gia đình giữa hai bên không đạt được. Đối với trường hợp của bạn có thể nêu ra chứng cứ chứng minh rằng chồng bạn thường xuyên đánh bạn, hay có những lời lẽ xúc phạm bạn để làm lý do xin ly hôn, đây sẽ là căn cứ quan trọng để Tòa án giải quyết yêu cầu cho bạn.

Muốn dành quyền nuôi con thì phải làm như thế nào?

Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình quy định về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con sau khi ly hôn:

“1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.”

Theo quy định trên, khi ly hôn, vợ chồng có thể thỏa thuận người sẽ trực tiếp nuôi con, nếu không thỏa thuận được thì Tòa án sẽ quyết định. Khi đó, Tòa án sẽ căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, đặc biệt là các điều kiện cho sự phát triển về thể chất, tinh thần, học hành của con cũng như xem xét nguyện vọng của con muốn được sống với ai để quyết định việc trao quyền nuôi con cho vợ hoặc chồng. Về nguyên tắc con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho mẹ nuôi dưỡng, con từ đủ 7 tuổi sẽ phải xem xét nguyện vọng của con.

Đối với trường hợp của bạn, con bạn mới được 5 tháng tuổi (tức dưới 36 tháng tuổi), do đó về nguyên tắc bạn sẽ được quyền nuôi con. Bạn chỉ cần đưa ra bằng chứng trước Tòa rằng bạn có đủ điều kiện kinh tế để nuôi con (chẳng hạn như bạn có việc làm ổn định, lương của bạn đủ để chi trả cho những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của con, đảm bảo cho con được phát triển đầy đủ về vật chất và điều kiện ăn, mặc, ở, học hành, khám, chữa bệnh), tư cách đạo đức của bạn từ trước tới nay rất tốt. Khi đó quyền nuôi con sẽ hoàn toàn thuộc về bạn, việc gia đình nhà chồng bạn có điều kiện tốt hơn bạn về mọi mặt cũng không còn là điều quan trọng nữa.

Trên đây là những tư vấn từ phía Công ty chúng tôi cho thắc mắc của Quý khách hàng. Nếu còn vấn đề nào chưa được rõ, vui lòng liên hệ trực tiếp đến Công ty chúng tôi qua Tổng đài 1900.6162 để được hỗ trợ.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?