Anh ta nói rằng đó là ảnh của anh ta và anh ta có toàn quyền sở hữu nó. Anh ta cho rằng tôi không có quyền yêu cầu anh ta gửi những bức hình đó. Luật sư xin vui lòng giải đáp thắc mắc rằng tôi có quyền sử dụng những bức ảnh mà tôi chính là người mẫu trong hình hay không? Và tôi có thể khởi kiện để lấy lại những bức hình đó hay không? Tôi đã không ký kết bất kỳ giấy tờ nào về việc cho phép người nhiếp anh gia đó được toàn quyền sử dụng hình ảnh của tôi. Rất mong nhận được sự tư vấn từ luật sư.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Câu trả lời được biên tập từ chuyên mục Tư vấn pháp luật dân sự của công ty Luật Minh Khuê.

>>Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật dân sựgọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau: 

Cơ sở pháp luật:

Bộ luật dân sự 2005

Nội dung phân tích:

 Trong trường hợp của bạn có thể xác định đây là hợp đồng dịch vụ theo quy định tại Điều 518 Bộ luật dân sự2005.

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn và nhiếp ảnh gia khi gioa kết hợp đồng thì không thực hiện ký kết bất kỳ hợp đồng nào mà chỉ giao kết thỏa thuận miệng. Căn cứ quy định tại Điều 401. Hình thức hợp đồng dân sự (Bộ luật dân sự):

“1. Hợp đồng dân sự có thể được giao kết bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể, khi pháp luật không quy định loại hợp đồng đó phải được giao kết bằng một hình thức nhất định.

2. Trong trường hợp pháp luật có quy định hợp đồng phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực, phải đăng ký hoặc xin phép thì phải tuân theo các quy định đó.

Hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Như vậy, trường hợp của bạn theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 và một số văn bản pháp luật khác không có quy định cụ thể về hợp đồng dịch vụ phải được lập thành văn bản hya phải công chứng nên việc thỏa thuận giữa bạn và bên Chụp ảnh bằng miệng cũng được pháp luật thừa nhận.

Về Nguyên tắc thực hiện hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 412 Bộ luật dân sự như sau:

"Việc thực hiện hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc sau đây:

1. Thực hiện đúng hợp đồng, đúng đối tượng, chất lượng, số lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức và các thoả thuận khác;

2. Thực hiện một cách trung thực, theo tinh thần hợp tác và có lợi nhất cho các bên, bảo đảm tin cậy lẫn nhau;

3. Không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác”.

Theo hợp đồng này thì bên chụp ảnh có nghĩa vụ giao ảnh cho bạn và bạn phải trả tiền công dịch vụ chụp ảnh cho người nhiếp ảnh, nhưng bên chụp ảnh đã không thực hiện việc trả lại ảnh như đã thỏa thuận và giữ ảnh của bạn. Như vậy ở đây hành vi của bên người chup ảnh được xác định là hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng theo quy định tại Điều 522 Bộ luật dân sự, do đó bên cung ứng dịch vụ là bên chụp ảnh phải chịu trách nhiệm do vi phạm nghĩa vụ  hợp đồng, Điều 522 luật này quy định cụ thể nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ như sau:

“Điều 522. Nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ

Bên cung ứng dịch vụ có các nghĩa vụ sau đây:

1. Thực hiện công việc đúng chất lượng, số lượng, thời hạn, địa điểm và các thoả thuận khác;

...

6. Bồi thường thiệt hại cho bên thuê dịch vụ, nếu làm mất mát, hư hỏng tài liệu, phương tiện được giao hoặc tiết lộ bí mật thông tin”.

Trong trường hợp có sự vi phạm nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ thì bạn có quyền yêu cầu người chụp ảnh cho bạn trả lại ảnh cho bạn theo đúng thời gian, địa điểm, số lượng và chất lượng như đã thỏa thuận, hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng và yêu cầu người chụp ảnh bồi thường thiệt hại cho bạn. Nếu bên chụp ảnh cố tình không thực hiện các nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo yêu cầu của bạn, cũng như không thực hiện nghĩa vụ bồi thường khi có thiệt hại thực tế và bạn muốn lấy lại số ảnh mà người nhiếp ảnh gia đang giữ của bạn thì bạn hoàn toàn có quyền khởi kiện ra tòa án để yêu cầu bên chụp ảnh thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, trả lại ảnh cũng như bảo vệ quyền lợi của mình.

Việc bên nhiếp ảnh khẳng định số ảnh này thuộc sở hữu của người nhiếp ảnh là trái quy định của pháp luật vì họ đã có hành vi vi phạm nghĩa vụ hợp đồng. Mặt khác theo quy định pháp luật dân sự hiện hành nhằm bảo vệ tối đa nhân thân của mỗi cá nhân, tổ chức Bộ luật dân sự có quy định về quyền cá của nhân đối với hình ảnh, cụ thể như sau: 

Điều 31. Quyền của cá nhân đối với hình ảnh

1. Cá nhân có quyền đối với hình ảnh của mình.

2. Việc sử dụng hình ảnh của cá nhân phải được người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi dân sự, chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp vì lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng hoặc pháp luật có quy định khác.

3. Nghiêm cấm việc sử dụng hình ảnh của người khác mà xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người có hình ảnh”.

Như vậy, trong trường hợp bạn yêu cầu người nhiếp ảnh phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận theo hợp đồng giao kết mà người chụp ảnh cho bạn vẫn không thực hiện việc trả ảnh này, mặt khác sử dụng hình ảnh của cá nhân bạn khi không được sự đồng ý của bạn sẽ được xác định hành vi vi phạm pháp luật và sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.  Bạn có thể thực hiện khởi kiện nếu như người này có hành vi sử dụng hình ảnh cá nhân của bạn mà không xin phép, được sự đồng ý từ bạn. 

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận Luật sư dân sự.