1. Tỷ lệ vốn là gì?
Tỷ lệ tài chính chủ yếu đánh giá khả năng về vốn của ngân hàng hay sự ổn định tài chính. Theo luật chung, tỷ lệ này càng cao thì ngân hàng càng vững mạnh. Một ngân hàng có tỷ lệ tài sản trên vốn cao được bảo vệ trước các khoản lỗ kinh doanh hơn là ngân hàng có tỷ lệ thấp hơn, mặc dầu điều này phụ thuộc vào rủi ro thua lỗ tương đối theo từng ngân hàng.
Có một số tiêu chuẩn đo lường khả năng về vốn:
- Tỷ số vốn điều chỉnh theo rủi ro: Vốn cấp 1 (cổ phiếu thông thường và cổ phiếu ưu đãi) chia cho tài sản điều chỉnh theo rủi ro.
- Tỷ số tổng vốn chia cho tổng tài sản; Vốn cấp 1 cộng với Vốn cấp 2 (cổ phiếu Ưu đãi, nợ thứ yếu, và dự phòng lỗ khoản cho vay) chia cho tổng tài sản binh quân.
- Tỷ số đòn bảy tài chính: Vốn cấp 1 chia cho tổng tài sản bình quân, không tính giá trị vô hình
- Tỷ số tổng vốn được điều chỉnh theo rủi ro: Tổng vốn điều chỉnh rủi ro đối với các khoản tiền vay và đầu tư nhất định, chia cho tài sản điều chỉnh rủi ro.
2. Giảm 'Tier 1 Capital Ratio'
Vốn cấp 1 cho một công ty ngân hàng bao gồm giá trị cổ phiếu phổ thông, thu nhập chưa trừ, tích lũy thu nhập toàn bộ khác (AOCI), cổ phiếu ưu đãi không thường xuyên không tích luỹ và bất kỳ khoản điều chỉnh nào đối với các tài khoản đó. Số vốn ngân hàng cấp 1 của một ngân hàng và tỷ trọng của nó đối với các tài sản có rủi ro là rất quan trọng. Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính hoặc suy thoái kinh tế, vốn cấp 1 là nước đầu tiên chịu lỗ trước các nhà đầu tư khác như chủ nợ, kinh nghiệm thua lỗ. Tỉ lệ vốn cấp 1 cho thấy ngân hàng có thể chịu đựng được những khó khăn về tài chính như thế nào trước khi nó trở nên mất khả năng thanh toán.
Các ngân hàng trung ương thường phát triển thang điểm cho các loại tài sản khác nhau, chẳng hạn như tiền mặt và chứng khoán chính phủ, không có rủi ro, so với khoản vay thế chấp mang rủi ro nhiều hơn. Một khoản tiền mặt trong tay của ngân hàng và chứng khoán của chính phủ sẽ nhận được trọng số bằng 0% khi tính toán các tài sản có rủi ro, ví dụ, trong khi các khoản cho vay thế chấp sẽ được gán 50% trọng số.
3. Tính toán Tỷ lệ Vốn Tier 1
Một ngân hàng có 10 tỷ USD cổ phiếu phổ thông và 2 tỷ USD lợi nhuận giữ lại. Thêm hai giá trị này lại với nhau, ngân hàng có 12 tỷ đô la vốn cấp 1. Sau khi cân đo tài sản của mình theo rủi ro, ngân hàng có 120 tỷ USD tài sản có rủi ro.Chia 100 tỷ USD vốn cấp 1 bằng 120 tỷ USD vào tài sản có rủi ro cho ngân hàng tỷ lệ vốn cấp 1 là 10%.
4. Phân loại
a. Tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro (Risk-Adjusted Capital Ratio)
Khái niệm
Tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro trong tiếng Anh là Risk-Adjusted Capital Ratio.
Tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro được sử dụng để đánh giá khả năng tiếp tục hoạt động của một tổ chức tài chính trong trường hợp suy thoái kinh tế.
Tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro được tính bằng cách chia tổng vốn đã điều chỉnh của một tổ chức tài chính cho các tài sản có rủi ro (Risk-weighted asset) của tổ chức.
Đặc điểm của Tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro
Tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro đo lường khả năng phục hồi dựa trên bảng cân đối kế toán của tổ chức tài chính, tập trung vào các nguồn vốn, để chịu đựng được rủi ro kinh tế hoặc suy thoái kinh tế nhất định.
Vốn của tổ chức càng lớn, thì tỉ lệ vốn càng cao, điều này sẽ dẫn đến xác suất tổ chức tài chính sẽ ổn định hơn trong trường hợp diễn ra suy thoái kinh tế nghiêm trọng.
Mẫu số trong tỉ lệ này hơi phức tạp, vì mỗi tài sản thuộc sở hữu phải được đánh giá bằng khả năng thực hiện của tổ chức theo mong đợi.
Ví dụ, một nhà máy tạo thu nhập không được đảm bảo tạo ra dòng tiền dương. Dòng tiền dương có thể phụ thuộc vào chi phí vốn, sửa chữa nhà máy, bảo trì, thương lượng lao động và nhiều yếu tố khác.
Đối với một tài sản tài chính, chẳng hạn như trái phiếu doanh nghiệp, lợi nhuận phụ thuộc vào lãi suất và rủi ro phá sản của tổ chức phát hành.
Các khoản vay của ngân hàng thường đi kèm với các khoản mất mác.
Tính toán Tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro
Xác định tổng vốn điều chỉnh là bước đầu tiên để tìm ra tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro. Tổng vốn điều chỉnh là tổng vốn chủ sở hữu và các công cụ gần với vốn chủ sở hữu (Nợ thứ cấp hay các khoản vay chuyển đổi).
Tiếp theo, giá trị của tài sản có rủi ro sẽ được đo lường. Giá trị của tài sản có rủi ro là tổng của từng tài sản nhân với rủi ro của mỗi tài sản được chỉ định. Con số này được biểu thị dưới dạng phần trăm và phản ánh tỉ lệ cược rằng tài sản sẽ giữ nguyên giá trị của nó, tức là không trở nên vô giá trị. Ví dụ, tiền mặt và trái phiếu kho bạc có gần như 100% khả năng thanh toán.
Bước cuối cùng trong việc xác định tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro là chia tổng vốn điều chỉnh cho các tài sản có rủi ro. Kết quả là tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro càng cao, thì khả năng của tổ chức tài chính chống lại suy thoái kinh tế càng lớn.
Tiêu chuẩn hóa của Tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro
Mục đích của tỉ lệ vốn sau khi điều chỉnh rủi ro là để đánh giá ngưỡng rủi ro thực tế của một tổ chức với mức độ chính xác cao hơn. Nó cũng cho phép so sánh tỉ lệ giữa các tổ chức có vị trí địa lí khác nhau, so sánh giữa các quốc gia với nhau.
Ủy ban Basel giám sát các ngân hàng trên thế giới khuyến cáo rằng các ngân hàng nên có đủ vốn để trang trải ít nhất 8% tài sản có rủi ro. Tuy nhiên, các qui định sau này cho rằng các tính toán về tài sản có rủi ro phụ thuộc vào từng qui tắc mà Basel đã đưa ra.
b. Tỉ lệ nợ trên vốn (Debt-to-Capital Ratio - D/C)
Khái niệm
Tỉ lệ nợ trên vốn trong tiếng Anh là Debt-to-Capital Ratio.
Tỉ lệ nợ trên vốn là thước đo đòn bẩy tài chính của một công ty, được tính bằng cách lấy tổng nợ chịu lãi của công ty (bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) chia cho tổng số vốn.
Tổng vốn là tất cả các khoản nợ phải trả lãi cộng với vốn chủ sở hữu của các cổ đông, bao gồm các khoản như cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu ưu đãi và lợi ích của cổ đông thiểu số.
Công thức tính Tỉ lệ nợ trên vốn
D/C = Nợ chịu lãi / (Nợ chịu lãi + Vốn chủ sở hữu của các cổ đông)
Tỉ lệ nợ trên vốn giúp các nhà phân tích và nhà đầu tư hiểu rõ hơn về cấu trúc tài chính của một công ty và liệu công ty có phải là một khoản đầu tư phù hợp hay không.
Giả sử tất cả các tỉ lệ khàc đều bằng nhau, tỉ lệ nợ trên vốn càng cao, công ty càng có nhiều rủi ro.
Tuy nhiên, do cùng một khoản nợ có thể làm tê liệt công ty này nhưng hầu như không ảnh hưởng đến công ty khác, việc sử dụng tổng số vốn cho một bức tranh toàn cảnh chính xác hơn về sức khỏe của công ty.
Ví dụ về Tỉ lệ nợ trên vốn
Giả sử công ty A có 100 triệu $ nợ phải trả bao gồm:
- Thương phiếu phải trả 5 triệu $
- Trái phiếu phải trả 20 triệu $
- Khoản phải trả 10 triệu $
- Chi phí tích lũy 6 triệu $
- Thu nhập hoãn lại 3 triệu $
- Nợ dài hạn 55 triệu USD
- Các khoản nợ dài hạn khác 1 triệu
Trong danh sách này, chỉ có các thương phiếu phải trả, trái phiếu phải trả và nợ dài hạn là chứng khoán chịu lãi, có giá trị là 5 triệu $ + 20 triệu $ + 55 triệu $ = 80 triệu $.
Với vốn chủ sở hữu, công ty này hiện có giá trị cổ phiếu ưu đãi 20 triệu $ và 3 triệu $ lợi ích cổ đông thiểu số được liệt kê trên sổ sách. Công ty có 10 triệu cổ phiếu đang lưu hành đang giao dịch ở mức 20$ mỗi cổ phiếu.
Tổng vốn chủ sở hữu là 20 triệu $ + 3 triệu $ + (20$ x 10 triệu cổ phiếu) = 223 triệu $.
Tỉ lệ nợ trên vốn của công ty là:
D/C = 80 triệu $ / (80 triệu $ + 223 $) = 26.4%
Công ty này đang được một nhà quản lí danh mục đầu tư xem xét để đầu tư.
Nếu nhà quản lí danh mục đầu tư thấy một công ty B có tỉ lệ nợ trên vốn là 40% các yếu tố khác cả hai công ty đều bằng nhau, thì công ty A được xem là sự lựa chọn an toàn hơn vì đòn bẩy tài chính của nó chỉ bằng một nửa so với công ty B.
Sự khác biệt giữa tỉ lệ nợ trên vốn và tỉ lệ nợ
Không giống như tỉ lệ nợ trên vốn, tỉ lệ nợ chia tổng nợ cho tổng tài sản.
Tỉ lệ nợ là thước đo tổng số tài sản của một công ty được tài trợ bằng nợ. Hai con số này có thể tương đồng do tổng tài sản bằng tổng nợ phải trả cộng với tổng vốn chủ sở hữu của cổ đông.
Tuy nhiên, tỉ lệ nợ trên vốn không bao gồm các khoản nợ khác ngoài nợ phải trả lãi.
Hạn chế của Tỉ lệ nợ trên vốn
Tỉ lệ nợ trên vốn có thể bị ảnh hưởng bởi các qui ước kế toán mà một công ty sử dụng.
Thông thường, các con số trên báo cáo tài chính dựa trên kế toán chi phí lịch sử của công ty và những giá trị này có thể không phản ánh đúng giá trị thị trường hiện tại.
Vì vậy, cần đảm bảo rằng đang sử dụng các giá trị chính xác trong tính toán để không làm biến dạng kết quả tỉ lệ nợ trên vốn.
Vì vậy, cần đảm bảo rằng đang sử dụng các giá trị chính xác trong tính toán để không làm biến dạng kết quả tỉ lệ nợ trên vốn.