>> Luật sư tư vấn luật Thuế trực tuyến, gọi: 1900.6162
Luật sư tư vấn:
Báo cáo tài chính là phần không thể thiếu của mỗi doanh nghiệp, vậy quy định của pháp luật như thế nào về báo cáo tài chính. Nắm rõ cách phân tích báo cáo tài chính sẽ giúp nhà quản lý, nhà đầu tư, ... những lợi ích gì ?
1. Phân tích báo cáo tài chính là gì ?
- Căn cứ theo khoản 1 Điều 3 Luật kế toán năm 2015 số 88/2015/QH13 của Quốc hội ban hành ngày 20 tháng 11 năm 2015:
"Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo biểu mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán."
- Từ quy định trên có thể hiểu báo cáo tài chính là một bản hệ thống lại tình hình kinh doanh, tài chính của doanh nghiệp, đơn vị trong một thời gian nhất định được đơn vị kế toán của doanh nghiệp, đơn vị đó lập theo biểu mẫu và theo các quy định của pháp luật. Cũng có thể hiểu đơn giản hơn đối với dân đầu tư báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp về tình hình tài chính, kết quả kinh doanh và dòng tiền trong kỳ của doanh nghiệp. Thực chất báo cáo tài chính là phương tiện trình bày khả năng sinh lợi và thực trạng tài chính của doanh nghiệp cho những người quan tâm.
- Thông qua báo cáo tài chính, người sử dụng thông tin (người quản lý doanh nghiệp, nhà đầu tư, ...) có thể đánh giá phân tích và chuẩn đoán được thực trạng và an ninh tài chính, nắm bắt được kết quả và hiệu quả hiệu quả của hoạt động kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán, xác định giá trị doanh nghiệp, định rõ tiềm năng cũng như dự báo được nhu cầu tài chính cùng những rủi ro trong tương lai mà doanh nghiệp có thể phải đối mặt.
- Báo cáo tài chính mang tính bắt buộc đối với một số chủ thể, do Nhà nước quy định với mục đích chủ yếu là cung cấp thông tin cho các đối tượng quan tâm ngoài doanh nghiệp và cho cơ quan quản lý Nhà nước. Báo cáo tài chính phải được lập và gửi cơ quan có thẩm quyền đầy đủ, chính xác và kịp thời. Các thông tin, số liệu trong báo cáo tài chính của đơn vị kế toán phải được công khai theo quy định của pháp luật. Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải bảo đảm phản ánh đúng bản chất của giao dịch hơn là hình thức, tên gọi của giao dịch.

- Một số chỉ số cơ bản trong báo cáo tài chính
++ Các chỉ số về khả năng thanh toán:
+ Chỉ số thanh toán hiện hành (Current Ratio)
+ Chỉ số thanh toán nhanh (Quick Ratio)
+ Chỉ số tiền mặt
+ Chỉ số dòng tiền từ hoạt động (Short-term debt coverage)
+ Chỉ số vòng quay các khoản phải thu (Accounts Receivable Turnover)
+ Chỉ số số ngày bình quân vòng quay khoản phải thu
+ Chỉ số vòng quay hàng tồn kho
+ Chỉ số số ngày bình quân vòng quay hàng tồn kho
+ Chỉ số vòng quay các khoản phải trả
++ Các chỉ số về cơ cấu tài chính:
+ Biên lợi nhuận thuần (Profit Margin)
+ Biên lợi nhuận hoạt động (Openrating Profit Margin)
+ Biên lợi nhuận ròng
+ Biên lợi nhuận phân phối
+ Biên EBITDA (Earnings before interest, taxes, depreciation and amortization)
+ Biên EBT (hay cong gọi là biên lợi nhuận trước thuế
++ Các chỉ số về về hoạt động:
+ Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA)
+ Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần thường (ROCE)
+ Tỷ suất sinh lợi trên tổng vốn cổ phần (ROE)
+ Tỷ suất sinh lợi trên tổng vốn (ROTC - Return on Total Capital)
++ Các chỉ số về doanh lợi (doanh thu và lợi nhuận):
+ Vòng quay tổng tài sản
+ Vòng quay tài sản cố định
+ Vòng quay vốn cổ phần
- Phân tích báo cáo tài chính là quá trình phân chia, phân loại hệ thống chỉ tiêu phản ánh trên các báo cáo tài chính theo nhiều hướng khác nhau rồi sử dụng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp nhằm cung cấp thông tin tài chính hữu ích cho quản lý.
- Có ba báo cáo tài chính mà chủ yếu được các nhà đầu tư phân tích là bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh và báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
+ Bảng cân đối kế toán là loại bảng có thể phản ánh tình trạng tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm cụ thể, áp dụng các nguyên tắc kế toán liên quan thường tập trung vào ba phương diện chính là tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu.
+ Báo cáo kết quả kinh doanh là việc liệt kê các nguồn tạo ra doanh thu cũng như chi phí phát sinh trong một chu kì hoạt động của công ty, cụ thể bao gồm các nhân tố doanh thu, chi phí và lợi nhuận thuần.
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là loại báo cáo tài chính tổng hợp phản ánh việc hoàn thành và sử dụng tiền phát sinh trong chu kì hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm dòng tiền vào, dòng tiền ra và sự thay đổi của tiền thuần.
- Có thể hiểu phân tích báo cáo tài chính là phân tích các số liệu được thống kê trong báo cáo tài chính. Việc phân tích này giúp cho những người phân tích và sử dụng kết quả phân tích có thể hiểu sâu, rõ về tình hình tài chính kinh doanh của doanh nghiệp, xu hướng và tiềm năng phát triển của doanh nghiệp trong tương lai. Từ đó giúp cho các chủ thể sử dụng thông tin ngoài doanh nghiệp phân tích có thể đưa ra các mục tiêu, quyết định đầu tư khác nhau.
- Mục đích của phân tích báo cáo tài chính đối với chủ doanh nghiệp: Vì phân tích báo cáo tài chính có thể sử dụng một hoặc rất nhiều phương pháp phân tích, với tư cách là công cụ quản lý, phân tích báo cáo tài chính có mục đích chính là giúp người sử dụng thông tin đánh giá chính xác sức mạnh tài chính, khả năng sinh lợi và triển vọng của doanh nghiệp, từ đó lựa chọn được phương án kinh doanh tối ưu.
- Đối với từng chủ thể và nhu cầu thông tin khác nhau do vậy, việc phân tích báo cáo tài chính đối với từng nhóm sẽ có những lợi ích khác nhau. Tuy nhiên dù là chủ thể nào mà chỉ dựa vào các số liệu phân tích báo cáo tài chính, tức là chỉ dựa vào phân tích kỹ thuật mà không dựa vào thông tin cơ bản, tình hình kinh tế vĩ mô, vi mô (phân tích cơ bản) thì rất khó để có thể đưa ra được các quyết định sáng suốt trong tổng thể một bức tranh tài chính của doanh nghiệp.
2. Ưu điểm của phân tích báo cáo tài chính.
* Ưu điểm chung của phân tích báo cáo tài chính:
- Thứ nhất, tiết lộ đầy đủ thông tin hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp
+ Việc công khai đầy đủ các số liệu tài chính là một trong những lợi thế chính và là mục đích chính cho của việc phân tích báo cáo tài chính.
+ Phân tích báo cáo tài chính giúp giải thích các con số khô khan về tình hình của công ty thành những giả định có thể đem lại tiềm năng lớn cho các chủ thể.
- Thứ hai, giúp cung cấp giá trị nội tại của doanh nghiệp so với giá trị thị trường.
+ Là cơ sở cho các phương pháp so sánh giá trị sổ sách với giá trị thị trường. Trước hết nó xác định định giá doanh nghiệp so với các doanh nghiệp trong ngành và sau đó là định giá doanh nghiệp với định giá thị trường.
+ Các công cụ phân tích báo cáo tài chính là những công cụ thống kê, so sánh, ... nên việc sử dụng các công cụ phân tích này sẽ giúp được những chủ thể quan tâm có thể tiết kiệm thời gian, chi phí hay công sức khi phân tích báo cáo tài chính. Các công cụ phân tích
- Thứ ba, cung cấp thông tin thông số minh bạch
+ Việc công bố báo cáo tài chính của doanh nghiệp được quy định trong các văn bản pháp luật, nên các số liệu tài chính, hoạt động kinh doanh sẽ được cung cấp rộng rãi tới toàn bộ mọi người, kể cả những người không quan tâm đến vấn đề này.
+ Việc chỉ nhìn vào báo cáo tài chính mà không thực hiện phân tích thì sẽ rất khó để có thể rút ra các thông tin hay kiểm chứng các số liệu đó có chính xác hay không. Nên việc phân tích báo cáo tài chính là cực kì quan trọng giúp lựa chọn được các chỉ số, thông tin hay số liệu đáng tin cậy.
* Ưu điểm của phân tích báo cáo tài chính với những đối tượng đang quản trị điều hành doanh nghiệp:
- Thứ nhất, đưa ra quyết định dựa vào phân tích báo cáo tài chính
+ Việc dựa vào các con số sẽ giúp cho các nhà quản trị, quản lý của doanh nghiệp dễ dàng đưa ra được các quyết định sáng suốt, có hiệu quả cao hơn là chỉ dựa vào cảm tính.
+ Việc phân tích báo cáo tài chính sẽ đi sâu vào các thế mạnh của doanh nghiệp, những mặt còn hạn chế của doanh nghiệp để có thể đưa ra các biện pháp để đầu tư phát triển đúng điểm mạnh của doanh nghiệp mình, hạn chế hoặc thay đổi cơ cấu biến điểm yếu trở thành điểm mạnh, tạo sức lan tỏa trong hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp
+ Quyết định các thông tin liên quan đến báo cáo tài chính như cơ cấu nguồn tài chính, đầu tư hay phân phối lợi nhuận hoặc các biện pháp điều chỉnh hoạt động cho phù hợp.
- Thứ hai, giúp quản trị doanh nghiệp tốt hơn
+ Đối với một doanh nghiệp, yếu tố tiên quyết là dòng tiền do vậy qua định kỳ báo cáo tài chính có thể giúp cho những nhà quản trị quản lý doanh nghiệp có thể có những điều chỉnh về phương pháp quản lý hay phương pháp huy động vốn có hiệu quả hơn.
+ Một bản phân tích báo cáo tài chính "đẹp" dựa trên các thông tin xác thực của doanh nghiệp là cơ sở căn cứ để cho các nhà quản trị, quản lý đưa ra quyết định đầu tư vào doanh nghiệp hay rút khỏi doanh nghiệp.
+ Từ phân tích báo cáo tài chính các nhà quản lý có thể khái quát được bức tranh tổng thể kinh doanh, vị thể cạnh tranh của mình từ đó đưa ra được các giải pháp khắc phục hoặc tăng cường trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
* Ưu điểm của phân tích báo cáo tài chính đối với các đối tượng quan tâm khác:
- Thứ nhất, giúp có được thông tin về doanh nghiệp
+ Việc có được báo cáo tài chính đơn thuần đối với các đối tượng này là không đủ nên việc có các số liệu về phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp sẽ giúp cho các đối tượng này có được thông tin phù hợp với yêu cầu và mục đích của bản thân từ đó có thể đưa ra các quyết định hợp lý.
+ Về lâu dài qua các thông tin kinh doanh của quá khứ (Báo cáo tài chính) sẽ giúp việc lựa chọn doanh nghiệp của các nhà đầu tư để có thể đánh giá tính ổn định lâu dài của một doanh nghiệp.
- Thứ hai, đưa ra được các mục tiêu và quyết định hợp lý
+ Việc phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp giúp họ có được những sự đánh giá khách quan về khả năng sinh lời cũng như cân nhắc những rủi ro đến từ hoạt động kinh doanh, đầu tư.
+ Dựa vào nhu cầu và khả năng tài chính kết hợp với các số liệu phân tích báo cáo tài chính của doanh nghiệp mà có thể quyết định các cơ hội đầu tư hay không ?
Ngoài các đối tượng chính trên phân tích báo cáo tài chính còn góp phần cho các cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện, sửa đổi, bổ sung hay thay đổi các chính sách,.
3. Các điểm hạn chế của phân tích báo cáo tài chính.
Ngoài các ưu điểm của việc phân tích báo cáo tài chính thì không thể tránh khỏi những mặt hạn chế cần lưu ý mà việc phân tích báo cáo tài chính gây ra như sau:
- Chỉ dựa trên các số liệu quá khứ: Mọi thông tin để phân tích đều là những số liệu trong quá khứ, điều này có thể đúng trong quá khứ nhưng không có nghĩa là sẽ xảy ra trong tương lai. Nên khi sử dụng chúng ta sẽ chỉ dựa vào mức độ tham khảo chứ không phụ thuộc hoàn toàn.
- Lạm phát: Nếu bỏ qua yếu tố này mà chỉ quan tâm đến phân tích báo cáo tài chính thì chắc chắn những khoản lợi nhuận của chúng ta sẽ không cánh mà bay. Việc không thay đổi tình hình kinh doanh trong khi mức lạm phát luôn luôn biến đổi theo chiều hướng ngược lại.
- Thay đổi hoạt động kinh doanh: Doanh nghiệp có thể thay đổi cơ cấu hoạt động nhiều đến mức khi so sánh chỉ số tính toán nhiều năm trước với chỉ số này ở thời điểm hiện tại sẽ mang lại kết luận sai lầm.
- Sự khác nhau của việc áp dụng các chuẩn mực kế toán: Mỗi doanh nghiệp sẽ áp dụng các chuẩn mực kế toán khác nhau trong bối cảnh kinh doanh khác nhau dẫn đến sự sai lệch trong phân tích chỉ so sánh chỉ số giữa hai doanh nghiệp.
- Điều kiện kinh doanh khác nhau: Cần đặt việc phân tích bào cáo tài chính vào các thông tin tác động bên ngoài như môi trường kinh doanh, lợi thế, khả năng cạnh tranh, ...
- Khó khăn trong kết luận phân tích: Như đã phân tích ở trên tùy thuộc vào các đối tượng phân tích mà sẽ có công cụ và phương pháp phân tích khác nhau. Hiện tại chưa có phương pháp nào được coi là chuẩn mực hay có sự tin tưởng tuyệt đối mà tất cả sẽ dựa vào ý chí chủ quan của người phân tích trong việc kết luận các số liệu.
- Và khó khăn cuối cùng là tính thời điểm: Tính thời điểm trong đầu tư là yếu tố hằng quyết định việc thành công của một thương vụ đầu tư, nên việc phân tích báo cáo tài chính chậm hoặc sớm quá sẽ ảnh hưởng đến thời điểm ra vào hợp lý trong đầu tư, ảnh hưởng đến hiệu suất sinh lợi nhuận.
Như vậy, Bản chất của báo cáo tài chính là cung cấp và tổng hợp cũng như phân tích những thông tin hoạt động của doanh nghiệp trong năm tài chính. Việc lập báo cáo tài chính sẽ cho nhà nước nói chung và doanh nghiệp đó nói riêng thấy được tình hình hoạt động và sự phát triển của doanh nghiệp trong năm báo cáo. Theo đó, một số ưu điểm điển hình có thể kể đến như sau:
- Phân tích báo cáo tài chính không những phục vụ những đối tượng đang quản trị điều hành doanh nghiệp mà còn cung cấp những thông tin cho các đối tượng quan tâm đến tình hình “sức khỏe” của doanh nghiệp.
- Đáp ứng 2 mục đích của doanh nghiệp:
Mục đích ra quyết định: Dựa trên những thông tin từ các con số cụ thể, việc phân tích sẽ đánh sâu vào yếu tố mạnh yếu của doanh nghiệp như: chỉ số nguồn vốn, tỉ số thanh khoản, chỉ tiêu thanh toán ngay….
Mục đích đầu tư vào doanh nghiệp hoặc rời bỏ doanh nghiệp: Việc phân tích này đòi hỏi chuyên sâu hơn rất nhiều: vì ngoài việc phân tích các yếu tố tài chính như phân tích hệ thống báo cáo tài chính thì lồng vào đó là phân tích rất nhiều các chỉ số phi tài chính như: tình hình nhân sự, hoạt động marketing, chế độ phúc lợi, những khó khăn của doanh nghiệp… Từ đó mới đề ra được các nhóm giải pháp khắc phục hoặc tăng cường trong hoạt động kinh doanh doanh nghiệp.
>> Bài viết tham khảo thêm: Hạn chế của phân tích Báo cáo tài chính
Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./.