1. Khái niệm về nhà nước

Nhà nước là hiện tượng xã hội rất đa dạng và phức tạp, được nhiều ngành khoa học nghiên cứu ở nhiều góc độ, phạm vi khác nhau. Ngay từ thời cổ đại, các nhà tư tưởng đã quan tâm nghiên cứu và đã có những luận giải khác nhau về khái niệm nhà nước. Trải qua các thời đại khác nhau, nhận thức, quan điểm về vấn đề này ngày càng thêm phong phú. Tuy nhiên, do xuất phát từ những góc độ nghiên cứu khác nhau, năng lực nhận thức khác nhau, lại bị chi phối bởi yếu tố lợi ích, quan điểm chính trị..., vì vậy có nhiều quan niệm khác nhau về nhà nước.

Ăngghen khi nghiên cứu về nguồn gốc của nhà nước đã đề xuất một số quan niệm về nhà nước. Ông cho rằng, nhà nước là sản phẩm của xã hội đã phát triển đến giai đoạn nhất định, khi xã hội đã phân chia thành giai cấp và mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hoà được, nhà nước là lực lượng:

“nảy sinh từ xã hội nhưng lại đứng trên xã hội ”, “có nhiệm vụ làm dịu bớt sự xung đột và giữ cho sự xung đột đó trong vòng “trật tự”.

Phát triển quan điểm của Ăngghen, nhấn mạnh vai trò của nhà nước trong việc duy trì sự thống trị giai cấp, Lênin quan niệm:

“Nhà nước bao giờ cũng là một bộ máy nhẩt định, nó tự tách ra từ xã hội và gồm một nhóm người chỉ chuyên hay gần như chỉ chuyên, hay chủ yếu chỉ chuyên làm công việc cai trị”.

Theo Lênin, nhà nước sinh ra để thực hiện sự thống trị giai cấp:

“Nhà nước là bộ máy dùng đế duy trì sự thong trị của giai cấp này đối với giai cấp khác”.

Tóm lại, có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nhà nước, mỗi cách tiếp cận xây dựng nên khái niệm nhà nước với ý nghĩa riêng, phục vụ mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu riêng. Điều này cũng chứng tỏ, nhà nước là một hiện tượng đa dạng, phức tạp, khái niệm nhà nước có nội hàm phong phù, có tính đa diện, đa chiều.

2. Dấu hiệu đặc trưng của nhà nước là gì ?

Nhà nước là một tổ chức đặc biệt, nên so với các tổ chức khác, Nhà nước có các dấu hiệu đặc trưng, cơ bản sau:

+ Phân bố dân cư theo các đơn vị hành chính - lãnh thổ không phụ thuộc vào giai cấp, dân tộc, tôn giáo, huyết thống, địa vị xã hội, nghề nghiệp;

+ Có bộ máy quyền lực công với sức mạnh cưỡng chế bao gồm quân đội, cảnh sát, Toà án và một đội ngũ công chức chuyên nghiệp làm nhiệm vụ cai trị, quản lí xã hội;

+ Có chủ quyền tối cao trong phạm vi lãnh thổ của đất nước mình, quyết định các vấn đề quan trọng nhất của đất nước về đối nội cũng như đối ngoại;

+ Có quyền ban hành pháp luật, những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung đối với mọi thành viên trong xã hội, với tư cách là một công cụ đắc lực trong cai trị, quản lí xã hội;

+ Có quyền quy định các loại thuế mang tính bắt buộc đối với cá nhân và tổ chức trong xã hội nhằm thiết lập nguồn tài chính nuôi bộ máy công quyền và thực hiện các chức năng của mình.

3. Vai trò của nhà nước chủ nô và phong kiến

Vai trò của nhà nước có mối quan hệ mật thiết với chức năng của nhà nước. Căn cứ vào phạm vi hoạt động của nhà nước, chức năng của nhà nước được phân thành các chức năng đối nội và các chức năng đối ngoại. Nổi bật trong các chức năng đối nội đó là hoạt động chấn áp. Khi nói về vai trò của nhà nước các học giả trƣớc đây thường nhấn mạnh vai trò trấn áp của nhà nước. Trong điều kiện có đấu tranh giai cấp, chức năng trấn áp sự phản kháng của giai cấp bị trị là rất cần thiết nhằm bảo vệ sự tồn tại vững chắc của nhà nước, bảo vệ lợi ích về mọi mặt của giai cấp thống trị.

Đối với kiểu nhà nước chủ nô: Kiểu nhà nước chủ nô là kiểu nhà nước đầu tiên trong lịch sử xã hội loài người, ra đời trên sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy gắn liền với sự xuất hiện sở hữu tư nhân và sự hình thành những giai cấp đầu tiên - giai cấp chủ nô và giai cấp nô lệ. Bộ máy của nhà nước chủ nô chủ yếu là bộ máy quân sự và cảnh sát. Nhà nước chủ nô là một bộ máy đem lại cho chủ nô quyền lực và khả năng cai trị nô lệ, duy trì nô lệ trong địa vị phụ thuộc và cho phép giai cấp chủ nô cưỡng bức và đàn áp giai cấp nô lệ.

Đối với kiểu nhà nước phong kiến: Kiểu nhà nước phong kiến là kiểu nhà nước thứ hai trong lịch sử xã hội loài người, ra đời trên sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ hoặc xuất hiện trực tiếp từ sự tan rã của xã hội cộng sản nguyên thủy. Hình thức phổ biến của nhà nước phong kiến là chính thể quân chủ chuyên chế với quyền lực vô hạn của hoàng đế. So với nhà nước chủ nô, nhà nước phong kiến thường thoả hiệp và liên kết chặt chẽ với các tổ chức tôn giáo thành một chế độ cai trị cực kỳ chuyên chế để đàn áp, áp bức, bóc lột nông dân về thể xác cũng như về tinh thần, đẩy ngƣời dân vào tình trạng tối tăm, ngu dốt, lạc hậu, luẩn quẩn trong những “đêm dài trung cổ”...

4. Vai trò của nhà nước Tư bản chủ nghĩa

Đối với nhà nước tư sản: Nhà nước tư sản là kiểu nhà nước ra đời, tồn tại và phát triển trong lòng hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa. Bản chất của nhà nước tư sản do chính những điều kiện nội tại của xã hội Tư sản quyết định, đó chính là cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội và cơ sở tư tưởng.

Nhà nước tư sản bao giờ cũng là công cụ để duy trì sự thống trị và bảo vệ lợi ích của giai cấp tư sản, chống lại giai cấp vô sản và các tầng lớp nhân dân lao động khác. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Những hình thức của nhà nước tư sản thì hết sức khác nhau nhưng thực chất chỉ là một. Chung quy lại thì tất cả những nhà nước ấy, vô luận thế 2 nào cũng tất nhiên phải là nền chuyên chính tư sản”. Ở giai đoạn đầu nhà nước tư sản là “người lính gác” của chế độ tư hữu tư sản. Nhà nước tư sản chỉ “duy trì lấy các điều kiện chung bên ngoài của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa”, nó gần như đứng ngoài đời sống kinh tế của xã hội tư bản chủ nghĩa và chỉ can thiệp khi có những biểu hiện làm lung lay chế độ tư hữu “thiêng liêng bất khả xâm phạm”.

Nhà nước tư sản là ủy ban quản lý công việc chung của giai cấp tư sản, là công cụ chuyên chính của toàn bộ giai cấp tư sản. Ở giai đoạn sau thì nhà nước tư sản can thiệp sâu, rộng hơn vào đời sống kinh tế. Khi hình thành sở hữu nhà nước tư sản, thì nhà nước tư sản trở thành tên tư sản tập thể khổng lồ cũng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, trực tiếp bóc lột lao động làm thuê như một nhà tư bản song mạnh mẽ và hiệu quả hơn vì nó có quyền lực nhà nước...

5. Vai trò của nhà nước Xã hội chủ nghĩa

Đối với nhà nước xã hội chủ nghĩa: Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là tổ chức chính trị, vừa là tổ chức kinh tế, văn hóa- xã hội... nó trực tiếp tổ chức và quản lý hầu hết các mặt quan trọng của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hoá-xã hội, trong đó quan trọng nhất là tổ chức và quản lý kinh tế. V.I. Lênin đã khẳng định: “Chuyên chính vô sản không phải chỉ là bạo lực đối với bọn bóc lột và cũng không phải chủ yếu là bạo lực. Cơ sở kinh tế của bạo lực cách mạng đó, cái bảo đảm sức sống và thắng lợi của nó là giai cấp vô sản đưa ra và thực hiện được kiểu tổ chức lao động cao hơn so với chủ nghĩa tư bản; đấy là thực chất của vấn đề. Đấy là nguồn sức mạnh, là điều bảo đảm cho thắng lợi hoàn toàn và tất nhiên của chủ nghĩa cộng sản”. Bởi phân tích đến cùng thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, căn bản nhất cho sự thắng lợi của trật tự xã hội mới. Đó là một sự nghiệp vĩ đại nhưng đồng thời cũng là công việc cực kỳ khó khăn và phức tạp. Và ngƣời ta đã thổi phồng vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa, cho rằng nhà nước xã hội chủ nghĩa đang tiến tới xã hội, nó đảm nhiệm hầu hết những công việc của xã hội. Điều này thể hiện rất rõ thông qua việc xác định các chức năng của nhà nước xã hội chủ nghĩa thời kỳ tập trung bao cấp.

Nhà nước xã hội chủ nghĩa vừa là tổ chức chính trị, vừa là tổ chức kinh tế; tổ chức văn hóa - xã hội... Nhà nước không chỉ quản lý chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội mà còn trực tiếp tiến hành các hoạt động kinh tế, văn hóa- xã hội, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ... mà không tính đến hiệu quả của việc nhà nước trực tiếp tiến hành các hoạt động đó. Sự ôm đồm, bao biện, kém hiệu quả trong các hoạt động kinh tế- xã hội của nhà nước xã hội chủ nghĩa đã phải trả giá đắt cho sự phát triển chậm của đất nước, đặc biệt là đời sống của các tầng lớp nhân dân gặp nhiều khó khăn thời kỳ quan liêu bao cấp. Tiếp cận vai trò, chức năng của nhà nước cần thấy rằng, nhà nước nào thì cũng phải đảm nhiệm hai vai trò quan trọng là: tổ chức quyền lực công (phải thay mặt xã hội tổ chức và quản lý những hoạt động chung của xã hội, vì sự tồn tại, phát triển của cả xã hội) và tổ chức quyền lực chính trị (thực hiện sự cưỡng bức có tổ chức để bảo vệ quyền, lợi ích của giai cấp/lực lượng cầm quyền, chống lại các giai cấp/lực lượng đối kháng), từ đó xác định các chức năng của nhà nước cho phù hợp. Nói cách khác, xã hội, giai cấp/lực lượng thống trị cần nhà nước thì nhà nước xuất hiện, do vậy, xã hội và giai cấp/lực lượng thống trị cần làm gì thì nhà nước phải làm việc đó. Nhà nước chỉ được làm và cũng chỉ nên làm những gì mà xã hội và lực lượng thống trị yêu cầu và cho phép thông qua các quy định của hiến pháp và pháp luật.

Như vậy, ở phương diện tổ chức quyền lực công, nhà nước chỉ nên làm những gì mà xã hội không được phép hoặc khó có điều kiện để làm, xã hội làm không hiệu quả, nhằm phục vụ lợi ích chung của cả xã hội, để nhóm xã hội này, cá nhân này không chèn ép, cản trở hoặc gây hại cho nhóm xã hội, cá nhân khác. Nhà nước không nên lạm dụng vị thế của mình để làm tổn hại đến xã hội. Từ việc xác định bản chất, vai trò của nhà nước như trên cho thấy cần định rõ chức năng nhà nước theo định nghĩa chức năng nhà nước là những phương diện hoạt động cơ bản của nhà nước như chính trị, kinh tế, văn hóa- giáo dục, xã hội, môi trường... Xu hướng chung trong tiếp cận vai trò, chức năng của nhà nước là những gì xã hội làm tốt hơn, hiệu quả hơn thì nhà nước nên trả lại cho xã hội, nhà nước chỉ tập trung thực hiện vai trò chức năng quản lý, định hướng, dẫn dắt xã hội phát triển. Phát huy cơ chế tự điều chỉnh của xã hội, sự năng động, sáng tạo của xã hội, giảm bớt sự ỷ lại, trong chờ của các tổ chức, cá nhân vào sự ban ơn, bố thí của nhà nước.