1. Nội dung pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp

1.1 Nhóm quy phạm quy định về nguyên tắc và điều kiện bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp

Nguyên tắc là những quan điểm, tư tưởng mang tính chủ đạo. Nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp là những quan điểm, tư tưởng mang tính nền tảng, làm định hướng và tạo cơ sở cho việc thực hiện và áp dụng các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp. Hiện nay, việc THĐ nông nghiệp dựa trên một số nguyên tắc sau đây: Người sử dụng đất khi bị Nhà nước THĐ nếu có đủ điều kiện được bồi thường theo quy định của pháp luật thì được bồi thường; việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định THĐ; việc bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật. Việc thực hiện tốt các nguyên tắc khi Nhà nước THĐ nông nghiệp sẽ giúp cho công tác bồi thường khi Nhà nước thu đất nông nghiệp diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước và người sử dụng đất bị THĐ nông nghiệp.

1.2 Điều kiện được bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp

là những yếu tố mà người sử dụng đất cần phải có để được bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp.
Một là, quyền sử dụng đất phải được công nhận là tài sản của người sử dụng đất và thuộc loại được phép giao dịch. Có những trường hợp người sử dụng đất có quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng họ chỉ được phép sử dụng mà không được bồi thường (Như trường hợp tổ chức được giao đất không thu tiền sử dụng đất; các chủ thể thuê đất của Nhà nước mà trả tiền thuê đất hàng năm).
Hai là, có căn cứ chứng minh quyền sử dụng đất. Đất nông nghiệp là TLSX chủ yếu của người nông dân nên được khai thác sử dụng từ nhiều nguồn và thời điểm khác nhau. Vì vậy, người sử dụng đất nông nghiệp bị thu hồi muốn được bồi thường phải chứng minh được nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất của mình.
Ba là, việc THĐ không phải do vi phạm pháp luật đất đai. Những trường hợp bị THĐ do vi phạm pháp luật về đất đai được quy định tại điều 64 LĐĐ năm 2013 như người sử dụng đất cố ý hủy hoại đất, đất được giao, cho thuê không đúng đối tượng hoặc thẩm quyền thì khi thu hồi sẽ không được bồi thường.

1.3 Tạo ra sự công bằng, bình đẳng, hợp lý cho người sử dụng đất bị thu hồi

Thứ hai, nhóm quy phạm quy định về chủ thể bồi thường và chủ thể được bồi thường. Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai để thực hiện các chức năng quản lý Nhà nước về đất đai. Tuy nhiên, khi thực hiện việc THĐ vì mục đích quốc phòng an ninh, THĐ để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường. Hay nói cách khác Nhà nước là chủ thể bồi thường khi thực hiện việc THĐ. Chủ thể được bồi thường khi Nhà nước THĐ là người sử dụng đất hợp pháp bị thu hồi đất. Có nghĩa là người sử dụng đất bị THĐ để được bồi thường phải đáp ứng điều kiện bồi thường theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, nhóm quy phạm quy định về nội dung bồi thường, hỗ trợ đối với người bị THĐ nông nghiệp. Nội dung bồi thường, hỗ trợ đối với người bị THĐ nông nghiệp, bao gồm các quy định cụ thể về phạm vi bồi thường (Đó là bồi thường về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản có trên đất, trong những trường hợp nhất định Nhà nước có thể hỗ trợ); về phương thức bồi thường (Có thể bồi thường bằng đất nông nghiệp có cùng mục đích sử dụng với đất bị thu hồi hoặc bồi thường bằng tiền tương ứng với giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp bị thu hồi); về giá đất tính bồi thường được tính theo khung giá đất do Nhà nước quy định tương ứng với loại đất bị thu hồi, tính ở thời điểm THĐ.
Thứ tư, nhóm quy phạm quy định về trình tự, thủ tục đối với người bị THĐ nông nghiệp. LĐĐ quy định những vấn đề tổng quát, mang tính nguyên tắc về trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp. Trên cơ sở đó, các văn bản hướng dẫn thi hành có những quy định cụ thể về từng bước lập, bổ sung, thẩm định, thực hiện phương án bồi thường cũng như trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp của người sử dụng đất.
Thứ năm, nhóm quy phạm quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước THĐ nông nghiệp.
Nhằm phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức pháp luật quy định công dân có quyền khiếu nại, tố cáo. Cụ thể, quy định này đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Tố tụng hành chính năm 2010. Trong lĩnh vực bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp quyền khiếu nại, tố cáo của công dân cũng được ghi nhận trong LĐĐ năm 2013 (Khoản 2 Điều 204 và Khoản 2 Điều 205). Công tác bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp được thực hiện bởi đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức do Nhà nước giao quyền và người dân là người trực tiếp giám sát việc thi hành công vụ của họ. Quy định quyền tố cáo, khiếu nại giúp người dân có tiếng nói trong việc phát hiện, ngăn ngừa và xử lý hành vi vi phạm pháp luật trong công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước hồi đất nông nghiệp. Qua đó, giúp cho việc THĐ đúng mục đích, bồi thường đúng đối tượng, đúng giá trị.

2. Vai trò của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp

Thứ nhất, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp là hành lang pháp lý điều chỉnh vấn đề bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp. Chế định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp bao gồm một số quy phạm pháp luật điều chỉnh những quan hệ xã hội về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp. Trong quan hệ bồi thường này, nếu không có các quy phạm pháp luật điều chỉnh thì việc bồi thường sẽ không đảm bảo được sự công khai, minh bạch, khách quan và công bằng cho các chủ thể tham gia. Chính vì vậy, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp có vai trò là hành lang pháp lý điều chỉnh vấn đề bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp, giúp giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người sử dụng đất bị thu hồi.
Thứ hai, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp quy định điều kiện bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp. Như vậy, không phải tất cả các trường hợp THĐ nông nghiệp đều được bồi thường mà chỉ những trường hợp THĐ nông nghiệp đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định mới được bồi thường. Vì vậy, đối với những trường hợp tổ chức được giao đất mà không thu tiền sử dụng đất, các chủ thể thuê đất của Nhà nước mà trả tiền thuê đất hằng năm, các chủ thể bị thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất đai sẽ không được nhà nước bồi thường. Quy định này giúp cho ngân sách Nhà nước chi cho công tác bồi thường,  hỗ trợ khi THĐ được sử dụng hiệu quả, tránh tình trạng lãng phí.
Thứ ba, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ quy định trình tự, thủ tục bồi thường. Nhờ vào các quy định định về trình tự, thủ tục bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp mà công tác bồi thường được diễn ra đúng quy định pháp luật, đảm bảo được sự công khai, minh bạch, dân chủ, hạn chế được tình trạng tiêu cực trong quá trình bồi thường. Từ đó, hạn chế thấp nhất tình trạng khiếu nại, khiếu kiện của người sử dụng đất bị thu hồi. Bên cạnh đó, nếu các dự án bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định sẽ giúp cho Nhà nước hoặc nhà đầu tư GPMB đúng tiến độ, sớm có được quỹ đất sạch thực hiện dự án. Từ đó, tiết kiệm được thời gian, chi phí.

3. Các yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp

Thứ nhất, quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng và hoàn thiện chính sách, pháp luật đất đai nói chung và chính sách, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước THĐ nói riêng.
Hiện nay trong điều kiện một Đảng cầm quyền, một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng là đưa ra quan điểm, chủ trương, đường lối. Đây là sự định hướng về mặt chính trị cho hoạt động lập pháp, lập quy ở nước ta. Nhiệm vụ của Nhà nước là thể chế hóa quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật để quản lý xã hội và đưa nó đi vào cuộc sống. Pháp luật về đất đai nói chung và pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp nói riêng là sự thể chế hóa quan điểm, đường lối của Đảng vào trong lĩnh vực này. Như vậy, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp chịu sự tác động của quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng.
Thứ hai, vấn đề bồi thường khi Nhà nước THĐ được xây dựng trên cơ sở chế độ sở toàn dân về đất đai. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Nhà nước giao đất cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định, lâu dài. Vì vậy, các quy định của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp chịu sự ảnh hưởng của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai và được thể hiện ở những khía cạnh sau đây: Một là, ở nước ta, khi Nhà nước có nhu cầu sử dụng đất  vì mục đích quốc phòng, an ninh, để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng thì Nhà nước tiến hành THĐ có bồi thường cho người sử dụng đất chứ không mua đất của chủ đất như một số nước có chế độ sở hữu tư nhân về đất đai. Hai là, để được bồi thường khi Nhà nước THĐ người sử dụng đất phải đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định như: quyền sử dụng đất phải được công nhận là tài sản của người sử dụng đất và thuộc loại được phép giao dịch; có căn cứ chứng minh quyền sử dụng đất…Ba là, việc bồi thường, hỗ trợ cho người sử dụng đất bị thu hồi căn cứ vào khung giá đất do Nhà nước xác định tại thời điểm THĐ chứ không phải giá đất trên thị trường. Bốn là, pháp luật quy định cụ thể cơ quan nào có thẩm quyền THĐ.
Thứ ba, cơ chế quản lý kinh tế.
Cơ chế quản lý kinh tế có sự tác động đến pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ. Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung đất đai không được thừa nhận là tài sản nên không được phép giao dịch trên thị trường. Trong giai đoạn này, đất đai có giá trị thấp. Vì vậy, việc THĐ trong giai đoạn này tương đối dễ dàng, ít gặp vướng mắc. Chính vì vậy, giai đoạn này pháp luật bồi thường khi Nhà nước THĐ nông nghiệp chưa phát triển.
Kể từ khi thực hiện đường lối đổi mới theo Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng về chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để điều chỉnh thị trường, trong đó có LĐĐ năm 1993. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 LĐĐ 1993: “Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất”. Như vậy, kể từ thời điểm này quyền sử dụng đất đã được xem là một loại hàng hóa đặc biệt và được phép giao dịch trên thị trường. Vì vậy, đất đai ngày càng trở nên có giá. Việc THĐ trở nên khó khăn do người dân không thống nhất với giá đất, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dẫn đến phát sinh tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, gây mất ổn định chính trị. Để giải quyết tình trạng này Nhà nước ban hành các quy định pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ. Đây là vấn đề phức tạp  có liên quan đến lợi ích của Nhà nước, người sử dụng đất, nhà đầu tư. Do đó, pháp luật về bồi thường khi Nhà nước THĐ phải thường xuyên được rà soát, sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường.
Thứ tư, quá trình hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế yêu cầu Việt Nam phải tham gia nhiều hiệp định song phương, đa phương, mang tầm khu vực, thế giới như: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… Trước những yêu cầu này đòi hỏi pháp luật phải công khai, minh bạch, dân chủ, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh cho nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài. Pháp luật bồi thường khi Nhà nước THĐ cũng vậy. Điều này giúp các nhà đầu tư có cơ hội như nhau trong việc tiếp cận các nguồn lực đặc biệt là đất đai.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật đất đai - Công ty Luật Minh Khuê