Mục lục bài viết
1. Quy định đất không giấy tờ trước ngày 01/7/2014 vẫn được cấp sổ đỏ
Theo quy định tại khoản 3 của Điều 138 trong dự thảo Luật Đất đai 2024, hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2014, được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận không có tranh chấp liên quan đến đất đai của họ, sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất. Các quy định cụ thể như sau:
- Trong trường hợp thửa đất đi kèm với nhà ở hoặc công trình phục vụ đời sống, nếu diện tích thửa đất bằng hoặc lớn hơn hạn mức giao đất ở, diện tích đất ở sẽ được công nhận theo hạn mức giao đất ở đó. Nếu diện tích đã xây dựng nhà ở và công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức giao đất ở, diện tích đất ở sẽ được công nhận theo diện tích thực tế đã xây dựng.
- Đối với thửa đất có nhà ở và công trình phục vụ đời sống, nếu diện tích thửa đất nhỏ hơn hoặc bằng hạn mức giao đất ở, toàn bộ diện tích thửa đất sẽ được công nhận là đất ở.
- Đối với thửa đất sử dụng vào mục đích sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, thương mại, dịch vụ, diện tích đất sẽ được công nhận là đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp theo quy định tại điểm c của khoản 1 của Điều 138 trong dự thảo Luật Đất đai 2024.
Đối với phần diện tích đất còn lại sau khi đã được xác định theo quy định như trên, quy trình tiếp theo sẽ dựa vào hiện trạng sử dụng, chi tiết như sau:
- Trong trường hợp hiện trạng sử dụng là đất phi nông nghiệp, không phải là đất ở, thì diện tích này sẽ được công nhận theo quy định đã được nêu ra.
- Nếu hiện trạng sử dụng là đất nông nghiệp, diện tích này sẽ được công nhận dưới hình thức Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng. Tuy nhiên, nếu người sử dụng đất có nhu cầu chuyển đổi vào mục đích đất phi nông nghiệp và đáp ứng đúng với quy hoạch sử dụng đất của cấp huyện, đô thị, xây dựng, hoặc nông thôn, thì diện tích đó sẽ được công nhận theo mục đích mới và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Người sử dụng đất sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, cần thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật. Điều này bao gồm việc nộp các khoản phí, thuế, và các chi phí khác liên quan đến quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền.
Theo quy định tại Điều 101 Luật Đất đai 2013, hiện tại, hộ gia đình và cá nhân đang sử dụng đất trước ngày 1/7/2014, không có các giấy tờ quy định, có hộ khẩu thường trú tại địa phương và thực hiện trực tiếp các hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nếu được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định và không có tranh chấp, sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, và tài sản khác gắn liền với đất. Điều đặc biệt là, trong trường hợp này, họ không phải nộp tiền sử dụng đất.
Tính đến thời điểm hiện tại, hộ gia đình và cá nhân chỉ được cấp sổ đỏ khi có hộ khẩu thường trú tại địa phương và thực hiện trực tiếp các hoạt động sản xuất tại các vùng có điều kiện kinh tế khó khăn. Tuy nhiên, theo quy định mới của dự thảo Luật Đất đai 2024, những hộ gia đình và cá nhân sử dụng đất từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2014 sẽ được cấp sổ đỏ theo hạn mức quy định, miễn là không có tranh chấp về quyền sử dụng đất. Điều này là một bước tiến quan trọng trong việc tạo điều kiện thuận lợi và minh bạch cho người sử dụng đất.
2. Thẩm quyền cấp sổ đỏ thuộc về cơ quan nào?
Theo quy định tại Điều 136 trong dự thảo Luật Đất đai 2024, Thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu sẽ được thực hiện như sau:
Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh:
- Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất của tổ chức trong nước.
- Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được thừa nhận bởi Chính phủ Việt Nam, cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổ chức liên chính phủ, và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
- Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh có thể ủy quyền cho cơ quan có chức năng quản lý đất đai cùng cấp để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất.
Ủy ban Nhân dân cấp huyện:
- Cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất của cá nhân trong nước, đặc biệt là người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam, cũng như cấp cho cộng đồng dân cư.
Quy định này nhằm đảm bảo rõ ràng và minh bạch trong việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, giúp quản lý đất đai hiệu quả và bảo vệ quyền lợi của người sử dụng đất cũng như chủ sở hữu tài sản liên quan.
Quy định thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, xác nhận thay đổi đối với trường hợp đăng ký biến động được chi tiết như sau:
- Tổ chức đăng ký đất đai trong nước và tổ chức nước ngoài: Tổ chức đăng ký đất đai có trách nhiệm thực hiện đăng ký biến động đối với người sử dụng đất và chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là tổ chức trong nước, tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao, và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Tổ chức này cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho chủ sở hữu tài sản là tổ chức nước ngoài và cá nhân nước ngoài.
- Chi nhánh của tổ chức đăng ký đất đai hoặc tổ chức đăng ký đất đai: Chi nhánh của tổ chức đăng ký đất đai có thẩm quyền thực hiện đăng ký biến động đối với người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất là cá nhân, cộng đồng dân cư, và người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài.
- Sử dụng con dấu của tổ chức đăng ký đất đai và chi nhánh: Cả tổ chức đăng ký đất đai và chi nhánh của nó đều có quyền sử dụng con dấu của mình để thực hiện việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, hoặc xác nhận vào giấy chứng nhận đã được cấp. Điều này giúp đảm bảo tính chính xác và uy tín của quy trình cấp và xác nhận các giấy tờ quan trọng liên quan đến quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền.
3. Những trường hợp có thể bị thu hồi sổ đỏ
Theo quy định tại Khoản 2 của Điều 106 Luật Đất đai 2013, sổ đỏ có thể bị thu hồi trong những trường hợp sau đây:
- Thu hồi toàn bộ diện tích trên sổ đỏ: Nhà nước có quyền thu hồi toàn bộ diện tích đất được cấp sổ đỏ nhằm phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, và phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, công cộng.
- Thu hồi sổ đỏ do đất vi phạm luật pháp về đất đai: Nhà nước có thể thu hồi sổ đỏ khi đất vi phạm các quy định pháp luật về đất đai, khiến cho việc sử dụng đất không đúng theo hướng dẫn của pháp luật, hoặc khi chấm dứt việc sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Thu hồi sổ đỏ đã cấp không đúng quy định pháp luật về đất đai: Sổ đỏ sẽ bị thu hồi nếu việc cấp sổ đỏ không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích, không đủ điều kiện cấp sổ đỏ, thời gian sử dụng đất, hoặc nguồn gốc sử dụng đất không đúng quy định của pháp luật.
- Cấp mới sổ đỏ: Người sử dụng đất hoặc chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, khi đăng ký biến động đất đai hoặc tài sản gắn liền với đất mà yêu cầu cấp mới sổ đỏ, cần nộp sổ đỏ cũ cùng với hồ sơ đề nghị cấp đổi giấy chứng nhận và hồ sơ đăng ký biến động.
- Khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được thi hành: Sổ đỏ đã cấp trong những trường hợp bị thu hồi chỉ được thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã được thi hành, theo quy định tại Khoản 6 của Điều 87 Nghị định 43/2014/NĐ-CP. Điều này nhằm đảm bảo tính công bằng và chính xác trong quá trình thu hồi sổ đỏ.
Xem thêm bài viết sau: Nghĩa vụ tài chính mà người sử dụng đất phải thực hiện khi được cấp sổ đỏ, sổ hồng?
Liên hệ hotline 19006162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn