1. Khi nào thì một người được coi là vắng mặt tại nơi cư trú?

Bộ luật dân sự 2015 có quy định:

Điều 64. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

Khi một người biệt tích 06 tháng liền trở lên thì những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú quy định tại Điều 65 của Bộ luật này.

Điều 64 trên quy định về điều kiện để xác định một cá nhân trong tình trạng vắng mặt tại nơi cư trú. Theo đó, người vắng mặt tại nơi cư trú là người biệt tích 06 tháng liền trở lên. Thời gian biệt tích phải liên tục, không gián đoạn.

Ví dụ như: Gia đình có mâu thuẫn, con bỏ nhà ra đi từ ngày 1/1/2020 đến nay (tức 1/8/2020), không ai trong gia đình liên lạc được, không có bất kì thông tin gì về người con. Trong trường hợp này, người con được xác định là người vắng mặt tại nơi cư trú, gia đình có thể yêu cầu Tòa án thông báo tìn kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.

2. Cơ quan nào có thẩm quyền thông báo tím kiến người vắng mặt tại nơi cư trú? Quyền yêu cầu thuộc về ai?

Theo Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định về những yêu cầu dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Điều 27. Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó.

3. Yêu cầu tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.

Bộ luật dân sự 2015 cũng quy định:

... những người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự và có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú ...

Như vậy, có thể kết luận Tòa án là cơ quan có thẩm quyền thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.

Theo Điều 381 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 có quy định:

Người có quyền, lợi ích liên quan có quyền yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú khi người đó biệt tích 06 tháng liền trở lên, đồng thời có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt đó theo quy định của Bộ luật dân sự.

Do đó, Tòa án chỉ thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú khi có yêu cầu của những người có quyền, lợi ích liên quan.

3. Ai là người quản lí tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú?

Theo Điều 65 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 65. Quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú

1. Theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan, Tòa án giao tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cho người sau đây quản lý:

a) Đối với tài sản đã được người vắng mặt ủy quyền quản lý thì người được ủy quyền tiếp tục quản lý;

b) Đối với tài sản chung thì do chủ sở hữu chung còn lại quản lý;

c) Đối với tài sản do vợ hoặc chồng đang quản lý thì vợ hoặc chồng tiếp tục quản lý; nếu vợ hoặc chồng chết hoặc mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt quản lý.

2. Trường hợp không có những người được quy định tại khoản 1 Điều này thì Tòa án chỉ định một người trong số những người thân thích của người vắng mặt tại nơi cư trú quản lý tài sản; nếu không có người thân thích thì Tòa án chỉ định người khác quản lý tài sản.

Khi gửi đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, người yêu cầu phải gửi tài liệu, chứng cứ để chứng minh là người bị yêu cầu biệt tích 06 tháng liền trở lên; trường hợp có yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của người vắng mặt thì phải cung cấp tài liệu, chứng cứ về tình hình tài sản của người đó, việc quản lý tài sản hiện có và danh sách những người thân thích của người đó.

Điều luật trên quy định về người được quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú khi người này đáp ứng đủ điều kiện để xác định và có yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan tới Tòa án. Việc quản lý tài sản của người được xác định là vắng mặt tại nơi cư trú là vô cùng ý nghĩa. Điều này sẽ vừa đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân cá nhân biệt tích cũng như của những người có quyền, lợi ích liên quan. Bởi vì, việc quản lý sẽ đảm bảo được giá trị của tài sản, tránh những thất thoát, thiệt hại có thể xảy ra.

Theo quyết định của Tòa án, những người sau được quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú:

- Người đang quản lý tài sản (theo sự ủy quyền của chính người bị xác định là vắng mặt tại nơi cư trú trước khi họ biệt tích);

- Người là đồng chủ sở hữu tài sản với người vắng mặt (quản lý tài sản chung);

- Vợ hoặc chồng đang quản lý tài sản từ trước khi người vắng mặt biệt tích;

- Con thành niên hoặc cha, mẹ của người vắng mặt (trường hợp vợ hoặc chồng đang quản lý tài sản nhưng thuộc các trường hợp: chết; mất năng lực hành vi dân sự; có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; bị hạn chế năng lực hành vi dân sự).

Tòa án có thể chỉ định những người sau quản lý tài sản nếu những trường hợp đã nêu trên không còn ai:

- Một người thân thích của người vắng mặt;

- Nếu không có thân thích thì Tòa án sẽ chỉ định người khác.

4. Người quản lí tài sản của người vắng mặt có được bán tài sản mình đang quản lí không?

Tại Điều 66 Bộ luật dân sự 2015 có quy định chi tiết nghĩa vụ của người quản lí tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú:

Điều 66. Nghĩa vụ của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú

1. Giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình.

2. Bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng.

3. Thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Tòa án.

4. Giao lại tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Tòa án biết; nếu có lỗi trong việc quản lý tài sản mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Theo đó, Người quản lí tài sản có các nghĩa vụ sau:

Thứ nhất, người quản lý phải giữ gìn, bảo quản tài sản của người vắng mặt như tài sản của chính mình. Nghĩa vụ này yêu cầu sự tận tâm và ý thức trách nhiệm của người quản lý. Đây cũng chính là mục đích trong việc giao tài sản của người vắng mặt cho người khác quản lý trong thời gian họ đang biệt tích.

Thứ hai, người quản lý phải bán ngay tài sản là hoa màu, sản phẩm khác có nguy cơ bị hư hỏng. Việc bán các tài sản có nguy cơ bị hư hỏng là để giữ được giá trị của tài sản. Tránh cho người vắng mặt bị thiệt hại về tài sản khi họ không đang trực tiếp thực hiện được việc chăm sóc, quản lý và định đoạt tài sản của mình.

Thứ ba, người quản lý phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt bằng tài sản của người đó theo quyết định của Tòa án. Việc quản lý tài sản của người vắng mặt hướng tới sự cân bằng lợi ích của bản thân họ và lợi ích của những người mà họ có nghĩa vụ phải thực hiện. Do đó, trong những trường hợp người vắng mặt phải thực hiện các nghĩa vụ theo quyết định của Tòa án như cấp dưỡng, trả nợ, thanh toán các nghĩa vụ tài chính khác thì người quản lý có thể thực hiện thay cho người vắng mặt, trên cơ sở giá trị tài sản đang quản lý.

Thứ tư, người quản lý phải giao tài sản cho người vắng mặt khi người này trở về và phải thông báo cho Tòa án biết. Nghĩa vụ này được đặt ra để tránh tình trạng người quản lý lợi dụng tình trạng chiếm hữu tài sản trong thời gian chủ sở hữu vắng mặt để chiếm giữ tài Sản. Vai trò của người quản lý tài sản được xác định là chấm dứt khi người vắng mặt trở về. Do đó, họ cần giao lại tài sản cho chủ sở hữu tài sản. Trong trường hợp tài sản bị thiệt hại xuất phát từ lỗi của người quản lý thì người quản lý còn phải thực hiện việc bồi thường thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản.

5. Người quản lí tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú có được trả thù lao không?

Đi cùng với nghĩa vụ thì người quản lí tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú cũng có quyền. Các quyền này được quy định tại Điều 67 Bộ luật dân sự 2015:

Điều 67. Quyền của người quản lý tài sản của người vắng mặt tại nơi cư trú

1. Quản lý tài sản của người vắng mặt.

2. Trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt.

3. Được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản của người vắng mặt.

Thứ nhất, người quản lý được quyền quản lý tài sản của người vắng mặt. Theo đó thì người quản lý sẽ thực hiện các xử sự, hành vi phù hợp để thực hiện trọn vẹn việc quản lý tài sản như: chiếm hữu, chăm sóc, kiểm tra,... để đảm bảo tài sản trong phạm vi kiểm soát của mình và giữ gìn tài sản được vẹn toàn về mặt giá trị.

Thứ hai, người quản lý được quyền trích một phần tài sản của người vắng mặt để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ thanh toán nợ đến hạn, nghĩa vụ tài chính khác của người vắng mặt. Có thể thấy đây vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của người quản lý. Như vậy, trong những trường hợp bắt buộc, có yêu cầu, người quản lý phải thực hiện các nghĩa vụ này. Trong những trường hợp cần thiết, theo ý chí của chính họ, họ cũng được phép thực hiện việc trích tài sản mà mình đang quản lý để thực hiện thay các nghĩa vụ cho người vắng mặt với các chủ thể khác.

Thứ ba, người quản lý được thanh toán các chi phí cần thiết trong việc quản lý tài sản của người vắng mặt. Để thực hiện việc quản lý tài sản, các chủ thể này cũng mất những công sức nhất định và các chi phí để đảm bảo cho sự tồn tại và vẹn nguyên của tài sản. Do đó, họ cần được thanh toán các chi phí cần thiết để thực hiện việc quản lý tài sản.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua Email : Tư vấn pháp luật qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Trân trọng./.