1. Khái niệm trẻ không nơi nương tựa, cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo

* Trẻ em không nơi nương tựa

Theo Điều 5 Nghị định 56/2017/NĐ-CP, trẻ em không nơi nương tựa được xác định là những trường hợp sau:

- Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ và người còn lại:

+ Mất tích theo quy định của pháp luật.

+ Đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội hoặc không còn khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng.

+ Đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Trẻ em có cả cha và mẹ: Mất tích theo quy định của pháp luật.

- Trẻ em có cha hoặc mẹ:

+ Mất tích theo quy định của pháp luật.

+ Người còn lại đang hưởng chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội.

+ Người còn lại đang chấp hành án phạt tù tại trại giam hoặc đang chấp hành quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Trẻ em mồ côi cha mẹ hoặc cha mẹ không còn khả năng chăm sóc:

+ Trẻ mồ côi cha mẹ hoặc cha mẹ vắng mặt do mất tích, qua đời hoặc vì lý do khác theo quy định của pháp luật.

+ Trẻ em có cha mẹ nhưng cha mẹ đã mất hoặc không còn khả năng chăm sóc do bệnh tật, tai nạn, tù tội,...

- Trẻ em có cha mẹ đang được hỗ trợ tại cơ sở trợ giúp xã hội:

+ Trẻ em có cha mẹ đang được nuôi dưỡng tại cơ sở trợ giúp xã hội do hoàn cảnh khó khăn.

+ Trẻ em có cha mẹ neo đơn, không nơi nương tựa phải nhờ sự trợ giúp của cơ sở xã hội.

- Trẻ em có cha mẹ đang chấp hành án hoặc bị đưa vào cơ sở giáo dục/cai nghiện:

+ Trẻ em có cha mẹ đang thụ án hoặc bị đưa vào cơ sở giáo dục, cai nghiện do vi phạm pháp luật.

+ Trẻ em mồ côi cha mẹ hoặc cha mẹ vướng vào vòng lao lý, không thể trực tiếp chăm sóc con.

- Trẻ em có cha mẹ đang được hỗ trợ và một cha mẹ đang bị giam giữ/bị đưa vào cơ sở giáo dục/cai nghiện:

+ Trẻ em có một cha mẹ được hỗ trợ tại cơ sở xã hội do khó khăn, cha mẹ còn lại đang thụ án hoặc bị đưa vào cơ sở giáo dục, cai nghiện.

+ Trẻ em mồ côi cha mẹ hoặc cha mẹ neo đơn, một người vướng vòng lao lý, không thể trực tiếp chăm sóc con.

- Trường hợp đặc biệt:

+ Trẻ em dưới độ tuổi trưởng thành có cha mẹ nhưng cha mẹ đều là trẻ em.

+ Trẻ em thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo, có cha mẹ đều là trẻ em.

+ Trẻ em có cha mẹ bị hạn chế quyền nuôi dưỡng, chăm sóc do vi phạm pháp luật hoặc lý do khác theo quy định.

+ Trẻ em tạm thời cách ly khỏi cha mẹ do cha mẹ vi phạm pháp luật hoặc lý do khác theo quy định.

- Lưu ý: "Mất tích theo quy định của pháp luật" được hiểu là trường hợp được cơ quan có thẩm quyền công bố thông báo tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tìm kiếm người mất tích.

*  Cơ sở tín ngưỡng:

Theo Khoản 4 Điều 2 Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo 2016 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2018), cơ sở tín ngưỡng được định nghĩa là:

- Nơi thực hiện hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng, bao gồm:

+ Đình, đền, miếu: Là những công trình kiến trúc truyền thống gắn liền với tín ngưỡng dân gian, thờ cúng các vị thần, anh hùng, danh nhân,...

+ Nhà thờ dòng họ: Là nơi thờ cúng tổ tiên của một dòng họ, chi họ cụ thể.

+ Và những cơ sở tương tự khác: Bao gồm các địa điểm khác được sử dụng cho hoạt động tín ngưỡng của cộng đồng, ví dụ như: lăng mộ, chùa chiền, nhà thờ,...

- Lưu ý:

+ Cơ sở tín ngưỡng phải được công nhận và cấp phép hoạt động theo quy định của pháp luật.

+ Hoạt động tín ngưỡng tại cơ sở tín ngưỡng phải tuân thủ pháp luật và phong tục tập quán địa phương.

+ Cơ sở tín ngưỡng có trách nhiệm quản lý, bảo vệ di sản văn hóa và giáo dục đạo đức cho cộng đồng.

 

2. Cơ sở pháp lý liên quan đến xác định nơi cư trú của trẻ không nơi nương tựa trong cơ sở tín ngưỡng

Trong bối cảnh nền pháp luật ngày càng được tinh chỉnh và hoàn thiện, Luật Cư trú năm 2020 nổi bật như một bước tiến quan trọng trong việc quy định về nơi cư trú của công dân Việt Nam. Đây không chỉ là một văn bản pháp lý mà còn là một tài liệu định hình quan trọng, xác định quyền và nghĩa vụ của người dân trong việc lựa chọn và duy trì nơi ở.

Đồng thời, Thông tư số 55/2021/TT-BCA cũng ra đời như một hướng dẫn chi tiết, một bước đi cụ thể hơn trong việc thực thi Luật Cư trú. Bằng việc chỉ rõ một số điều và biện pháp thi hành, Thông tư này mang lại sự minh bạch và dễ dàng áp dụng hơn cho cả cơ quan chức năng và người dân.

Những văn bản pháp luật này không chỉ là các văn bản giữ vai trò quy định mà còn là những công cụ quan trọng trong việc tạo ra sự đồng nhất và công bằng trong hệ thống pháp luật, giúp bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, đồng thời định hình một cộng đồng văn minh và phát triển bền vững.

 

3. Cách xác định nơi cư trú của trẻ không nơi nương tựa trong cơ sở tín ngưỡng

Theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Cư trú 2020, nơi cư trú hợp pháp của trẻ em không nơi nương tựa được nuôi dưỡng tại cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo là cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo đó.

- Điều này có nghĩa là:

+ Trẻ em không nơi nương tựa được nuôi dưỡng tại tu viện (cơ sở tôn giáo) sẽ có nơi cư trú hợp pháp là tu viện đó.

+ Tu viện có trách nhiệm đăng ký thường trú cho trẻ em theo quy định của pháp luật về cư trú.

+ Việc đăng ký thường trú cho trẻ em tại tu viện sẽ giúp trẻ em được hưởng các quyền lợi về mặt xã hội như học tập, y tế, bảo trợ xã hội,...

- Lưu ý:

+ Quy định này chỉ áp dụng cho trẻ em không nơi nương tựa được nhận nuôi và sinh sống tại cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo.

+ Trẻ em không nơi nương tựa tạm trú tại cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo không được coi là có nơi cư trú hợp pháp tại đó.

+ Việc xác định trẻ em có phải là trẻ em không nơi nương tựa hay không do cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật.

Như vậy, trẻ em không nơi nương tựa sống ở tu viện nào sẽ có nơi cư trú tại tu viện đó.

 

4. Quyền lợi của trẻ em không nơi nương tựa trong cơ sở tín ngưỡng

Trẻ em không nơi nương tựa là đối tượng yếu thế cần được quan tâm, bảo vệ đặc biệt. Do đó, theo quy định của pháp luật Việt Nam, trẻ em không nơi nương tựa được hưởng các quyền lợi sau:

- Quyền được sống và phát triển:

+ Trẻ em không nơi nương tựa có quyền được sống, được phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần và trí tuệ.

+ Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em không nơi nương tựa để các em phát triển đầy đủ tiềm năng của mình.

- Quyền được hưởng các quyền lợi về giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội:

+ Trẻ em không nơi nương tựa được hưởng các quyền lợi về giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội như trẻ em khác.

+ Cụ thể, trẻ em được miễn, giảm học phí, được hưởng chế độ bảo hiểm y tế, được hỗ trợ về vật chất, tinh thần,...

+ Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện cho trẻ em không nơi nương tựa được tiếp cận các dịch vụ giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội chất lượng.

- Quyền được tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ:

+ Trẻ em không nơi nương tựa được tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ theo quy định của pháp luật.

+ Cụ thể, trẻ em được tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do hội họp,...

+ Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ trẻ em không nơi nương tựa khỏi mọi hành vi xâm hại, xâm phạm các quyền tự do, dân chủ của trẻ em.

- Quyền được bảo vệ khỏi mọi hành vi xâm hại, bạo lực:

+ Trẻ em không nơi nương tựa được bảo vệ khỏi mọi hành vi xâm hại, bạo lực.

+ Cụ thể, trẻ em được bảo vệ khỏi bị bạo hành thể chất, tinh thần, bị xâm hại tình dục,...

+ Nhà nước và xã hội có trách nhiệm bảo vệ trẻ em không nơi nương tựa khỏi mọi hành vi xâm hại, bạo lực, đồng thời xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.

- Quyền được tham gia vào các hoạt động xã hội:

+ Trẻ em không nơi nương tựa được tham gia vào các hoạt động xã hội phù hợp với lứa tuổi và khả năng của mình.

+ Cụ thể, trẻ em được tham gia các hoạt động vui chơi giải trí, thể thao, văn hóa,...

+ Nhà nước và xã hội có trách nhiệm tạo điều kiện cho trẻ em không nơi nương tựa được tham gia vào các hoạt động xã hội, giúp các em hòa nhập cộng đồng.

- Ngoài ra, trẻ em không nơi nương tựa còn được hưởng một số quyền lợi khác theo quy định của pháp luật. Ví dụ:

+ Quyền được nhận bản sao giấy khai sinh.

+ Quyền được nhận trợ cấp theo quy định của pháp luật.

+ Quyền được hưởng các chế độ ưu tiên về tuyển dụng vào các trường phổ thông, cơ sở đào tạo.

Việc bảo vệ trẻ em không nơi nương tựa là trách nhiệm chung của toàn xã hội. Mỗi cá nhân, tổ chức và cơ quan cần nâng cao nhận thức và hành động để góp phần bảo vệ trẻ em không nơi nương tựa, giúp các em có một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Ngoài ra, có thể tham khảo: Xác định nơi cư trú của con chưa thành niên thế nào khi cha mẹ có nơi cư trú khác nhau. Còn khúc mắc, liên hệ 1900.6162 hoặc gửi email tới: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ. Xin cảm ơn.