1. Vi phạm pháp luật 

Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật (hành đồng hoặc không hành động), có lỗi của chủ thể có năng lực hành vi (năng lực trách nhiệm pháp lý) thực hiện, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ. Một hành vi vi phạm pháp luật được cấu thành khi có đầy đủ các dấu hiệu như sau:

1.1  Tính trái pháp luật của hành vi 

Một hành vi bị coi là trái pháp luật khi nó không tuân theo những quy định của pháp luật, xâm phạm đến các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và bảo vệ.

Hành vi vi phạm pháp luật có thể thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Pháp luật chỉ có thể điều chỉnh hành động, không điều chỉnh những gì là tư tưởng, ý nghĩ, ý niệm khi chúng chưa được thể hiện ra bên ngoài bằng hành động hoặc không hành động.

1.2 Yếu tố lỗi của hành vi

Hành vi vi phạm pháp luật là hành vi có ý chí, vì vậy phải xem xét mặt chủ quan của hành vi. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật chỉ ra ai là người vi phạm, khuynh hướng ý chí của người đó, trạng thái tâm lý của người vi phạm tại thời điểm thực hiện hành vi cũng như thái độ của người ấy đối với hậu quả của hành vi. Vì vậy, hành vi trái pháp luật bị coi là vi phạm pháp luật khi có sự biểu hiện ý chí của người thực hiện hành vi đó. Chủ thể pháp luật trong những hoàn cảnh, tình huống cụ thể thể hiện ý chí của mình bằng cách lựa chọn phương án này hay phương án khác của hành vi. Vì vậy, một người nào đó thực hiện hành vi trái pháp luật trong điều kiện khách quan mà người đó không có khả năng lựa chọn phương án hành vi của mình thì không thể kết luận hành vi trái pháp luật của người đó là vi phạm pháp luật.

Để đánh giá đúng đắn về mặt pháp lý hành vi trái pháp luật có phải là vi phạm pháp luật hay không, cần xác định tình trạng tâm lý và khuynh hướng ý chí của người vi phạm, tức là xem xét yếu tố lỗi của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.

1.3 Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể hành vi trái pháp luật

Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý là khả năng tự mình chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của mình trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do đó, chủ thể của vi phạm pháp luật chỉ có thể là những người đạt tới một độ tuổi nhất định, không bị tâm thần và những bệnh thần kinh khác.

 Như vậy, vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật của người có năng lực trách nhiệm pháp lý, xâm hại tới những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, là cơ sở của trách nhiệm pháp lý.

2. Vi phạm Hiến pháp 

2.1 Khái niệm vi phạm Hiến pháp (Vi hiến)

Hiến pháp là một bộ phận của hệ thống pháp luật quốc gia, do vậy có thể hiểu vi phạm Hiến pháp là một dạng vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, do vị trí, tính chất và nội dung đặc biệt của Hiến pháp nên vi phạm Hiến pháp không hoàn toàn giống với vi phạm pháp luật thông thường. Nói cách khác, vi phạm Hiến pháp là một loại vi phạm pháp luật đặc biệt. Cùng với khái niệm Hiến pháp, khái niệm vi phạm Hiến pháp hiện nay đã bắt đầu được sử dụng nhiều trong các công trình nghiên cứu, trong đời sống thực tiễn và là chủ đề đang được nghiên cứu và bàn luận sôi nổi. Tuy nhiên, từ các khái niệm vi phạm pháp luật và Hiến pháp, khái niệm này có thể hiểu theo một số nghĩa cơ bản dưới đây:

- Theo nghĩa đơn giản, vi phạm Hiến pháp là hành vi vi phạm các quy định (hay nội dung) của Hiến pháp 

- Theo nghĩa phổ biến, vi phạm Hiến pháp là hành vi vi phạm các quy định của Hiến pháp, có thể được thực hiện bất kỳ tổ chức, cơ quan hay cá nhân nào trong xã hội, ví dụ như các cơ quan công quyền, Chính phủ, Quốc hội, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân hay bất kỳ cơ quan tư pháp nào… trong thời điểm nào đó và trong thời gian Hiến pháp có hiệu lực

 - Theo nghĩa trực tiếp, vi phạm Hiến pháp được hiểu là hành vi xâm phạm trực tiếp đến các lĩnh vực (quan hệ) được Hiến pháp ghi nhận 

- Theo nghĩa rộng, vi phạm Hiến pháp được hiểu là hành vi xâm phạm trực tiếp và đồng thời đến lĩnh vực (quan hệ) được Hiến pháp ghi nhận và các ngành luật chuyên ngành tương ứng ghi nhận và xác lập bảo vệ (như: luật hình sự, dân sự, lao động…)

- Theo nghĩa rộng nhất, vi phạm Hiến pháp được hiểu là hành vi xâm phạm trực tiếp đến các lĩnh vực (quan hệ) được Hiến pháp ghi nhận, đồng thời còn bao gồm cả việc cơ quan lập pháp ban hành một đạo luật có nội dung trái với các quy định của Hiến pháp. 

Tóm lại, nhìn nhận dưới góc độ khoa học, vi phạm Hiến pháp được hiểu là hành vi vi phạm các quy định của Hiến pháp được Hiến pháp ghi nhận và các ngành luật chuyên ngành tương ứng ghi nhận và xác lập bảo vệ (như: luật hình sự, dân sự, lao động…), do bất kỳ tổ chức, cơ quan hay cá nhân nào trong xã hội thực hiện, đồng thời còn là việc cơ quan lập pháp ban hành một đạo luật có nội dung trái với các quy định của Hiến pháp trong thời gian Hiến pháp có hiệu lực. 

Tuy vậy, nói chung trong thực tiễn các hành vi vi phạm Hiến pháp (hay vi hiến) diễn ra hết sức đa dạng với các mức độ khác nhau, song tựu chung lại thì vi hiến thể hiện qua hai đặc điểm chủ yếu sau:

    - Vi phạm các nguyên tắc cơ bản đã được ghi nhận trong bản Hiến pháp 

   - Việc chế tài đối với các hành vi vi hiến không được quy định trực tiếp trong bản Hiến pháp mà có thể được quy định trong các đạo luật chuyên ngành như: luật hình sự, luật dân sự, luật hành chính, luật lao động, luật đất đai, luật môi trường, luật thương mại, luật tài chính, luật ngân hàng, luật hôn nhân và gia đình, luật đầu tư nước ngoài…”

2.2 Các yếu tố cấu thành hành vi vi phạm hiến pháp 

Thứ nhất: Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể. Chủ thể của vi phạm Hiến pháp có thể là cơ quan, tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền. Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của chủ thể vi phạm Hiến pháp được xem xét tương tự như năng lực chủ thể của cơ quan, tổ chức, cá nhân với tư cách là chủ thể quan hệ pháp luật thông thường.

Thứ hai: Hành vi trái Hiến pháp: Thuật ngữ vi hiến theo Từ điển pháp luật được hiểu là không phù hợp hoặc không theo Hiến pháp, trái với Hiến pháp . Cũng giống như vi phạm pháp luật thông thường, hành vi vi hiến cũng được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động.

- Hành vi hành động vi hiến là hành vi của chủ thể thực hiện hành động trái với các quy định của Hiến pháp, không phù hợp với Hiến pháp. Đó có thể là hành vi của cơ quan ban hành văn bản pháp luật không phù hợp hoặc trái với Hiến pháp; hành vi của một cơ quan, tổ chức, cá nhân được Nhà nước trao quyền vi phạm thẩm quyền (lạm quyền) mà Hiến pháp trao cho; hoặc hành vi của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào nhân danh nhà nước ngăn cản hoặc hạn chế việc thực hiện quyền và tự do hợp pháp của cá nhân công dân.

- Hành vi không hành động vi hiến là hành vi không thực hiện thẩm quyền và nghĩa vụ đã được Hiến pháp quy định. Cơ quan, tổ chức, cá nhân được Hiến pháp giao thẩm quyền, nếu không thực hiện hoặc thực hiện không kịp thời những thẩm quyền và nghĩa vụ đó thì sẽ bị coi là vi phạm Hiến pháp không hành động (unconstitutional omission). Vậy, trong các trường hợp mà cơ quan, cá nhân có thẩm quyền chậm trễ hoặc không thực hiện thẩm quyền ban hành văn bản quy định cụ thể về các quyền và tự do hiến định của công dân thì có bị coi là vi phạm Hiến pháp hay không? Để trả lời một cách thấu đáo câu hỏi này, cần lưu ý một nguyên tắc quan trọng của Nhà nước pháp quyền: trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, khi Nhà nước ghi nhận và khẳng định quyền và tự do của công dân đồng nghĩa với việc Nhà nước xác định nghĩa vụ, trách nhiệm của mình phải bảo đảm thực hiện các quyền và tự do đó. Một trong những bảo đảm quan trọng nhất đó là bảo đảm pháp lý, tức là các văn bản pháp luật về quyền và tự do của công dân. Do vậy, sự thiếu hụt hay chậm trễ ban hành của các văn bản quy phạm phạm luật quy định quyền và tự do hiến định của công dân cung phải được coi là vấn đề Hiến pháp và xem xét tính hợp hiến của hành vi không hành động của cơ quan, cá nhân được trao thẩm quyền.

 Việc phán quyết về những vi phạm Hiến pháp do không thực hiện đầy đủ và kịp thời những thẩm quyền được Hiến pháp quy định (unconstitutional legislative omission) đã được coi là một trong những thẩm quyền của cơ quan bảo vệ Hiến pháp ở một số nước trên thế giới. Thẩm quyền tài phán hiến pháp này được áp dụng phổ biến nhất ở nước Đức. Việc xem xét tính hợp hiến được tiến hành không chỉ đối với cả đối với khiếu kiện hiến pháp liên quan đến xung đột về thẩm quyền của các cơ quan nhà nước mà còn đối với khiếu kiện hiến pháp do cá nhân công dân đề xuất. Hơn nữa, Toà án Hiến pháp ở Đức cũng có thể phán quyết tính bất hợp hiến của hành vi không ban hành văn bản pháp luật theo thẩm quyền. ở Bosnia và Herzegovina, Toà án Hiến pháp có thể tư vấn hoặc yêu cầu ban hành văn bản pháp luật nhằm khắc phục những sự thiếu hụt (remedy gaps) trong hệ thống pháp luật. ở Hungaria, Ukraina, Italia, Hàn Quốc và Bồ Đào Nha, Toà án Hiến pháp có thẩm quyền tuyên án đối với vi phạm hiến pháp không hành động. ở Croatia, nơi mà Toà án Hiến pháp không có thẩm quyền xét xử đối với hành vi vi hiến không hành động, nhưng nó lại có thể xem xét việc thực thi Hiến pháp và cung cấp báo cáo cho Quốc hội. Nếu một cơ quan không hoàn thành nghĩa vụ ban hành văn bản theo quy định của Hiến pháp, Toà án Hiến pháp có thể báo cáo việc đó tới Chính phủ, hoặc nếu việc không hoàn thành nghĩa vụ đó là của Chính phủ, thì Toà án Hiến pháp sẽ báo cáo vụ việc tới Quốc hội.

 Thứ ba: Yếu tố lỗi: Chủ thể vi phạm Hiến pháp có thể là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân được Nhà nước trao quyền thẩm quyền, vậy cần xác định yếu tố lỗi như thế nào? Có quan điểm cho rằng, để bảo đảm trách nhiệm hai chiều giữa Nhà nước và công dân trong Nhà nước pháp quyền, cần xem xét áp dụng nguyên tắc: “Công dân phải bị truy cứu trách nhiệm pháp lý khi có hành vi vi phạm pháp luật. Còn các chức sắc nhà nước có thể bị truy cứu trách nhiệm pháp lý không chỉ vì hành vi vi phạm pháp luật mà cả bởi những việc làm có thể không do lỗi của mình mà do những bất cập, những khuyết điểm, những biểu hiện thiếu trình độ và năng lực cần thiết”

 Luật Minh Khuê