1. Quy định về tiếng nói và chữ viết được sử dụng trong quảng cáo
Trong lĩnh vực quảng cáo, cá nhân và tổ chức cần tuân thủ các quy định liên quan bằng cách thực hiện hành vi chính xác, đặc biệt là trong việc sử dụng tiếng nói và chữ viết trong quảng cáo. Năm 2012, Luật Quảng Cáo đã ban hành các quy định chi tiết và rõ ràng về việc sử dụng tiếng nói và chữ viết trong nội dung quảng cáo, bao gồm video, banner, băng rôn, vv. Doanh nghiệp muốn xác nhận tính tuân thủ của nội dung quảng cáo của mình cần đảm bảo rằng nó đáp ứng đầy đủ các điều kiện được quy định.
Các tổ chức và cá nhân mong muốn quảng cáo với mục tiêu hợp pháp như tiếp cận đối tượng khách hàng rộng lớn, xây dựng danh tiếng, hoặc củng cố uy tín trong quá trình cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ của mình không chỉ được đảm bảo bởi khung pháp luật. Một phương tiện hiệu quả để tiếp cận khách hàng là sử dụng chữ viết và tiếng nói trong quảng cáo. Tuy nhiên, để tuân thủ quy định của pháp luật, theo Điều 18 của Văn bản hợp nhất 47/VBHN-VPQH 2018 về Luật Quảng cáo, các thông điệp quảng cáo phải được trình bày bằng tiếng Việt. Điều này là một yêu cầu bắt buộc đối với cả cá nhân lẫn tổ chức thực hiện quảng cáo.
Các trường hợp ngoại lệ, không yêu cầu việc thực hiện quảng cáo bằng tiếng Việt, bao gồm những điểm sau đây:
- Đối với nhãn hiệu, hàng hóa, khẩu hiệu, thương hiệu, hoặc tên riêng sử dụng tiếng nước ngoài hoặc từ ngữ quốc tế hóa mà không có thể thay thế bằng tiếng Việt, việc sử dụng tiếng nước ngoài là phù hợp.
- Những loại sách, báo, trang thông tin điện tử, và các ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam hoặc từ nước ngoài không bị ràng buộc phải sử dụng tiếng Việt.
- Chương trình phát thanh và truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam hoặc tiếng nước ngoài cũng không phải tuân theo quy tắc sử dụng tiếng Việt.
Trên thực tế, có thể kết hợp cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài trong cùng một sản phẩm quảng cáo, nhưng cần tuân thủ quy định rằng khổ chữ nước ngoài không vượt quá 3/4 khổ chữ tiếng Việt và phải đặt bên dưới chữ tiếng Việt. Trong lĩnh vực phát thanh, khi phát sóng trên đài phát thanh truyền hình hoặc trên các phương tiện nghe nhìn, yêu cầu phải đọc tiếng Việt trước sau đó mới là tiếng nước ngoài.
Theo quy định nêu trên, khi cá nhân và tổ chức quyết định lựa chọn tiếng nói và chữ viết để quảng cáo sản phẩm, họ phải tuân thủ các quy định, bao gồm việc sử dụng tiếng Việt trong các sản phẩm quảng cáo. Trong trường hợp có thể sử dụng cả tiếng nước ngoài và tiếng Việt, họ cũng phải đảm bảo rằng diện tích chữ nước ngoài không vượt quá 3/4 so với chữ tiếng Việt và luôn đặt ở bên dưới chữ tiếng Việt. Đối với trường hợp phát thanh trên các phương tiện nghe nhìn, yêu cầu đọc tiếng Việt trước là bắt buộc.
Các hành vi vi phạm của cá nhân và tổ chức có thể bị xử phạt theo quy định tại Nghị định 38/2021/NĐ-CP, được sửa đổi và bổ sung bởi Nghị định 128/2022/NĐ-CP. Chi tiết về mức xử phạt sẽ được trình bày trong Mục 2 của bài viết này.
2. Xử phạt vi phạm trong quảng cáo về tiếng nói và chữ viết như thế nào?
Mức xử phạt đối với cá nhân vi phạm về tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo đã được quy định tại Điều 35 của Nghị định 38/2021/NĐ-CP. Theo quy định này, cá nhân sẽ bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng nếu thực hiện một trong những hành vi vi phạm sau đây:
+ Theo quy định, việc quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ phải sử dụng tiếng Việt để được coi là hợp pháp. Việc thực hiện quảng cáo mà không sử dụng tiếng Việt được xem là vi phạm, và người vi phạm sẽ phải chịu mức xử phạt tối đa là 10 triệu đồng. Tuy nhiên, có những trường hợp được miễn phạt, như khi sử dụng nhãn hiệu, hàng hóa, khẩu hiệu, thương hiệu, tên riêng bằng nước ngoài hoặc các từ ngữ đã được quốc tế hóa và không thể thay thế bằng tiếng Việt. Cũng như trong trường hợp quảng cáo thông qua sách, báo, trang thông tin điện tử và các ấn phẩm được phép xuất bản bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam hoặc thông qua các chương trình phát thanh truyền hình bằng tiếng dân tộc thiểu số Việt Nam từ nước ngoài.
+ Hành vi quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ sẽ bị xem là vi phạm nếu vượt quá 3/4 khối chữ tiếng Việt khi sử dụng ngôn ngữ nước ngoài và không đặt bên dưới chữ tiếng Việt, đặc biệt trong trường hợp cùng một sản phẩm quảng cáo sử dụng cả hai loại ngôn ngữ. Tuy nhiên, có một số trường hợp được miễn phạt theo quy định tại điểm a, b, c và d của khoản 2 Điều 48 trong Nghị định 38/2021/NĐ-CP, được sửa đổi và bổ sung thông qua Nghị định 128/2022/NĐ-CP.
Thực tế cho thấy, nếu cá nhân thực hiện quảng cáo sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ mà không tuân thủ việc đặt chữ tiếng Việt trước tiếng nước ngoài, đặc biệt trong trường hợp cùng một sản phẩm quảng cáo sử dụng cả hai loại ngôn ngữ, và hoạt động quảng cáo này đã được phát sóng trên đài phát thanh truyền hình hoặc trên các phương tiện truyền thông khác, thì mức xử phạt được áp dụng như đã nêu.
Cá nhân không chỉ đối mặt với mức xử phạt tối đa lên đến 10 triệu đồng mà còn có thể chịu biện pháp khắc phục hậu quả, như buộc tháo gỡ, tháo dỡ, hoặc xóa, thu hồi sản phẩm, báo, tạp chí in quảng cáo liên quan đến hành vi vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 35 trong Nghị định 38/2021/NĐ-CP, đã được sửa đổi bổ sung thông qua Nghị định 128/2022/NĐ-CP.
Cần lưu ý rằng theo quy định của Nghị định nêu trên, mức xử phạt chỉ áp dụng đối với cá nhân. Trong trường hợp tổ chức có hành vi vi phạm, mức phạt sẽ là gấp đôi mức phạt tiền áp dụng đối với cá nhân.
Theo quy định được nêu, cá nhân thực hiện hành vi vi phạm trong việc sử dụng tiếng nói và chữ viết trong quảng cáo sẽ chịu mức phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng. Đối với tổ chức, mức phạt tương ứng là từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng. Ngoài ra, cả cá nhân và tổ chức có thể phải chịu biện pháp khắc phục hậu quả, như buộc tháo gỡ, tháo dỡ, xóa hoặc thu hồi sản phẩm báo, tạp chí in quảng cáo đối với hành vi vi phạm. Để tránh mức xử phạt, các tổ chức và cá nhân thực hiện quảng cáo bằng tiếng nói và chữ viết cần chú ý đặc biệt đến vấn đề này trong quá trình thực hiện chiến lược quảng cáo.
3. Thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính vi phạm quảng cáo về tiếng nói và chữ viết
Dựa trên quy định của Điều 63 trong Nghị định 38/2021/NĐ-CP, được sửa đổi bổ sung thông qua Nghị định 128/2022/NĐ-CP, thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính được xác định với các nội dung như sau:
– Quyền xử phạt vi phạm hành chính của cá nhân được quy định từ Điều 64 đến Điều 70 của Nghị định này phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn mà họ đã được giao. Một số cá nhân có thẩm quyền bao gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân ở mọi cấp, Thanh tra chuyên ngành, Công an nhân dân, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, hải quan và quản lý thị trường.
– Công chức, viên chức, và những người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, khi thực hiện công vụ và nhiệm vụ trong lĩnh vực văn hóa và quảng cáo, cũng có quyền lập biên bản vi phạm hành chính theo quy định.
– Chỉ huy tàu bay, trưởng tàu, thuyền trưởng cũng có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính khi thực hiện nghĩa vụ theo chức năng và quyền hạn đã được giao trong lĩnh vực văn hóa, quảng cáo, và khi phát hiện hành vi vi phạm trên tàu bay, tàu biển, và phương tiện thủy nội địa mà họ đang quản lý.
Bài viết liên quan: Quy định về Phương tiện quảng cáo, tiếng nói, chữ viết trong quảng cáo và yêu cầu đối với nội dung quảng cáo
Luật Minh Khuê xin tiếp nhận yêu cầu tư vấn về pháp luật của quý khách hàng qua số hotline: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!