Cơ sở pháp lý:

- Hiến pháp Việt Nam năm 2013.

1. Vị trí của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Giáo hội Phật giáo Việt Nam là thành viên Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – một tổ chức thuộc hệ thống chính trị Việt Nam được quy định rõ trong khoản 1, Điều 9, Chương I, Hiến pháp năm 2013:

“Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối ngoại nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Như vậy, Giáo hội Phật giáo Việt Nam được pháp luật và Nhà nước tạo điều kiện hoạt động đúng theo quy định của Hiến pháp. Giáo hội góp phần vào vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc không phân biệt tôn giáo, tín ngưỡng, dân tộc vùng miền, thực hiện giám sát và phản biện xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển đất nước.

2. Cơ cấu tổ chức cấp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam 

2.1. Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc

Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc diễn ra 5 năm 1 lần để bầu chọn các thành viên và suy tôn các lãnh đạo Hội đồng Chứng minh và Hội đồng Trị sự. Đại hội cũng bầu chọn và suy tôn các thành viên Ban Thường trực tương ứng. Vị trí lãnh đạo của Hội đồng Chứng minh (là Pháp chủ) và Hội đồng Trị sự (là Chủ tịch) cũng do Đại hội suy tôn.

Ngoài ra Đại hội cũng là cơ quan quyền lực nhất trong vai trò diễn giải đạo pháp và đưa ra các quy định về giáo luật.

Đại hội Đại biểu lần gần đây nhất vào năm 2017 có hơn 1200 đại biểu tham dự. Đại biểu tham dự là thành viên Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự và các ban viện trung ương; thành viên Ban Trị sự địa phương và các ban viện địa phương; và các Phật tử tiêu biểu trong cả nước.

2.2. Hội đồng Chứng minh

Theo Hiến chương Giáo hội: Hội đồng Chứng minh là cơ quan lãnh đạo tối cao về Đạo pháp và Giới luật của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hội đồng Chứng minh suy cử Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh để thực thi các chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng Chứng minh giữa hai kỳ Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc; giám sát và chứng minh các hoạt động Phật sự của các cấp Giáo hội. Hội đồng Chứng minh của Giáo hội gồm chư vị Hòa thượng tiêu biểu của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; có ít nhất 70 tuổi đời và 50 tuổi đạo; được Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh tiền nhiệm giới thiệu và Đại hội Đại biểu toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam suy tôn. Chư vị Hòa thượng được suy tôn vào Hội đồng Chứng minh thì không tham gia Hội đồng Trị sự, ngoại trừ một số trường hợp đặc biệt do Ban Thường trực Hội đồng Trị sự đề nghị. Chư vị Hòa thượng thành viên Hội đồng Chứng minh tại vị trọn đời, ngoại trừ trường hợp đặc biệt mới phải miễn nhiệm, do quyết định của Hội đồng Chứng minh với đa số 2/3 thành viên biểu quyết tán thành. Trong thời gian của nhiệm kỳ, nếu Đức Pháp chủ khuyết vị thì Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh cung thỉnh một trong các vị Phó Pháp chủ đảm nhiệm Quyền Pháp chủ và thông báo Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự biết để suy cử trong Hội nghị Thường niên gần nhất của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Đối với các chức danh khác bị khuyết vị, Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh suy cử một trong các thành viên Ban thường trực Hội đồng Chứng minh kiêm nhiệm cho đến hết nhiệm kỳ. Nhiệm kỳ của Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh là 5 năm, tương ứng với nhiệm kỳ Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

Hiện tại Hội đồng Chứng minh nhiệm kỳ 2017-2022 có 96 thành viên (đều là các Hòa thượng) do Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc suy tôn. Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh nhiệm kỳ 2017-2022 có 27 thành viên cũng do Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc suy tôn từ các thành viên Hội đồng Chứng minh.

Thành viên và lãnh đạo Ban Thường trực Hội đồng Chứng minh bao gồm:

  • Đức Pháp chủ Hội đồng Chứng minh
  • 2 Phó Pháp chủ kiêm Giám luật Hội đồng Chứng minh
  • 1 Phó Pháp chủ kiêm Chánh Thư ký Hội đồng Chứng minh
  • 9 Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh
  • 3 Phó Thư ký Hội đồng Chứng minh
  • 11 Ủy viên Thường trực Hội đồng Chứng minh

Ngày 8/7/2020 Hội đồng Giám luật thuộc Hội đồng Chứng minh GHPGVN được thành lập gồm:

  • 1 Chủ tịch hội đồng Giám Luật là Đệ Nhất Phó Pháp Chủ Hội đồng Chứng minh
  • 6 thành viên thuộc hội đồng giám luật gồm những Trưởng lão Phó Pháp Chủ Hội đồng Chứng minh
  • 1 vị thư ký

2.3. Hội đồng Trị sự

Theo Hiến chương Giáo hội: Hội đồng Trị sự là cơ quan điều hành, quản lý hành chính cao nhất của Giáo hội Phật giáo Việt Nam về mọi mặt hoạt động giữa hai nhiệm kỳ. Hội đồng Trị Sự là cơ quan duy nhất giữ quyền phát ngôn của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có trách nhiệm về nội dung phát ngôn do các cơ quan, cá nhân trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam thực hiện; quản lý hoạt động thông tin truyền thông có liên quan đến Giáo hội Phật giáo Việt Nam; có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc xử lý các tổ chức, cá nhân phát ngôn, thông tin truyền thông có nội dung xuyên tạc, thiếu chính xác, thiếu khách quan liên quan đến Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp và các thành viên. Hội đồng Trị Sự có nhiệm vụ: Suy cử Ban Thường trực Hội đồng Trị sự theo quy định của Hiến chương; Ấn định chương trình hoạt động hằng năm của Giáo hội theo Nghị quyết của Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Tổ chức triển khai thực hiện, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện chương trình hoạt động Phật sự toàn nhiệm kỳ, chương trình hoạt động Phật sự hằng năm, chương trình chuyên biệt và những sự kiện trọng đại của Giáo hội; Tổ chức hướng dẫn, quản lý, điều hành, chỉ đạo các mặt công tác của các cấp Giáo hội từ Trung ương đến địa phương; ban hành Quy chế, Nội quy để cụ thể hóa và thực thi theo các quy định của Hiến chương, nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Được quyền phân công, luân chuyển nhân sự tham gia Ban Trị sự trên cơ sở trao đổi với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tại địa phương trong trường hợp Ban Trị sự cấp tỉnh, thành thiếu nhân sự; Quyết định bổ nhiệm trụ trì các cơ sở do Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp Trung ương và cấp tỉnh thành lập, quản lý trên cơ sở tham khảo ý kiến với hệ phái, sơn môn (nếu có liên hệ) và cơ quan có thẩm quyền; Giới thiệu Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử tham gia các cơ quan dân cử, tổ chức chính trị - xã hội; Đề nghị cơ quan Nhà nước xử lý đối với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài Giáo hội Phật giáo Việt Nam vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của cơ sở tự viện và thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam; Kiểm tra, xử lý các vi phạm Giáo luật, Hiến chương, Quy chế, Nội quy và các quy định khác của Giáo hội; Phê chuẩn kế hoạch, chương trình hoạt động Phật sự của Ban, Viện Trung ương, Văn phòng Trung ương Giáo hội, các tổ chức cơ sở và thành viên trực thuộc Trung ương Giáo hội và Giáo hội Phật giáo Việt Nam cấp tỉnh; Đề nghị Ban thường trực Hội đồng Chứng minh tấn phong trước kỳ hạn trong trường hợp đặc biệt cần thiết đối với nhân sự bổ sung vào các chức vụ bị khuyết thuộc thẩm quyền suy cử của Hội đồng Trị sự; Tổng hợp ý kiến của chư Tăng Ni, Cư sĩ Phật tử thành viên Giáo hội Phật giáo Việt Nam để phản ánh đến cơ quan có thẩm quyền về chủ trương, chính sách pháp luật liên quan đến hoạt động tôn giáo. Thành viên Hội đồng Trị sự, gồm chư vị Hòa thượng, Thượng tọa, Ni trưởng, Ni sư, quý vị Đại đức Tăng Ni và Cư sĩ Phật tử tiêu biểu có nhiều thành tích đóng góp cho Đạo pháp và Dân tộc. Thành viên tham gia Hội đồng Trị sự không quá 80 tuổi; mỗi thành viên không kiêm nhiệm quá 2 chức danh trong Ban Thường trực Hội đồng Trị sự; mỗi chức danh không quá 3 nhiệm kỳ.

Hiện tại Hội đồng Trị sự nhiệm kỳ 2017-2022 có 199 thành viên (là các Hòa thượng, Thượng tọa, Đại đức, Ni trưởng, Ni sư và Cư sĩ Phật tử) do Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc suy tôn. Ban Thường trực Hội đồng Trị sư nhiệm kỳ 2017-2022 có 61 thành viên do Đại hội Đại biểu Phật giáo Toàn quốc suy tôn từ các thành viên Hội đồng Trị sự.

Hội đồng Trị sự điều hành và quản lý:

  • Văn phòng Giáo hội
  • Ban Tăng sự Trung ương
  • Ban Hoằng pháp Trung ương
  • Ban Giáo dục Phật giáo Trung ương
  • Ban Nghi lễ Trung ương
  • Ban Văn hóa Trung ương
  • Ban Hướng dẫn Phật tử Trung ương
  • Ban Kinh tế Tài chính Trung ương
  • Ban Thông tin Truyền thông
  • Ban Từ thiện Xã hội Trung ương
  • Ban Pháp chế Trung ương
  • Ban Kiểm soát Trung ương
  • Ban Phật giáo Quốc tế
  • Các Ban Trị sự cấp Tỉnh và Thành phố trực thuộc trung ương
  • Các Đại diện Phật giáo Việt Nam tại nước ngoài
  • Các học viện và viện nghiên cứu Phật giáo

Thành viên và lãnh đạo Ban Thường trực Hội đồng Trị sự bao gồm:

  • Chủ tịch Hội đồng Trị sự
  • 2 Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự
  • 1 Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự
  • 9 Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự
  • 2 Phó Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự
  • 39 Ủy viên Thường trực Hội đồng Trị sự
  • 5 Ủy viên Thư ký Hội đồng Trị sự
  • 1 Ủy viên Thủ quỹ Hội đồng Trị sự

Ngoài ra các thành viên Ban Thường trực Hội đồng Trị sự cũng kiêm nhiệm vị trí Trưởng ban, Viện trưởng, Chánh Văn phòng và Phó Trưởng ban, Phó Viện trưởng của các ban viện trung ương.

3. Vai trò của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

3.1. Về vai trò phản biện xã hội

Trong lịch sử, Phật giáo luôn có tinh thần phản biện xã hội tích cực. Lịch sử trung đại nước nhà ghi nhận những vị Thiền sư lỗi lạc tham gia vào triều chính để tham mưu cho nhà vua điều hành đất nước. Thậm chí, các triều đình phong kiến còn lập nên chức Quốc sư hay Tăng Cang để chọn những vị tăng sĩ hiền đức và trí tuệ đảm nhiệm sứ mạng cùng vua trị việc nước. Sự phản biện thông qua tư tưởng Phật giáo mang tính hài hòa cho đất nước và xã hội. Chính tư tưởng Phật giáo đã hàn gắn vết thương xã hội giữa sự đổi ngôi của các triều đại phong kiến. Lịch sử cũng không quên những tấm gương vì dân vì nước của bao thế hệ Tăng Ni.

3.2. Về vai trò đoàn kết dân tộc        

Ngoài chức năng thực hiện phản biện xã hội, Phật giáo qua các thời đại và Giáo hội hiện nay luôn là pháp nhân tôn giáo lấy tôn chỉ hòa hợp dân tộc, đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở tính từ bi của Phật pháp. Nước ta là một nước đa tôn giáo, mỗi tôn giáo đều có tôn chỉ tu tập và hành đạo riêng. Song, với sự quản lí của Nhà nước, các tôn giáo đều tuân theo quy định của pháp luật trên con đường phụng sự xã hội. Tín đồ giữa các tôn giáo và cộng đồng không tôn giáo đều chung sống hòa hợp trên cơ sở tôn trọng sự khác biệt của nhau. Để có được sự hòa hợp và đoàn kết này, lãnh đạo các tôn giáo ngoài việc tuyên truyền giáo lí còn kết hợp tuyên truyền tinh thần yêu nước thương nòi của dân tộc ta. Những hoạt động này nhằm khơi dậy và nuôi dưỡng tinh thần “uống nước nhớ nguồn” của người con Phật và con người Việt Nam. Ngoài ra, các hoạt động từ thiện xã hội, các cuộc hỗ trợ thiên tai, dịch bệnh luôn có dấu ấn của những người con Phật. Trong những tình huống khó khăn của xã hội, Giáo hội luôn có những thông điệp mang tính chia sẻ và kịp thời đến cộng đồng. Đặc biệt, trong trận lũ lịch sử tại miền Trung năm 2020, các phái đoàn Phật giáo đã khẩn trương tiếp tế cho bà con vùng lũ những nhu yếu phẩm cần thiết, hay trong thời gian xảy ra dịch bệnh Covid-19, Giáo hội đã cùng cộng đồng tín đồ Phật tử chung tay quyên góp vật liệu, tài lực chống dịch. Có thể nói, các hoạt động hướng đến phúc lợi xã hội của Giáo hội có ý nghĩa quan trọng trong đoàn kết dân tộc, xây dựng đất nước ngày càng ổn định và phát triển.

3.3. Vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân

Theo quy định của Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội và Đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, quy định tại khoản 5, Điều 4: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tổ chức hiệp thương lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia giám sát việc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp”. Như vậy, Phật giáo với tư cách thành viên có đầy đủ vai trò trong việc bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Sự kiện này không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi nhà tu hành, chức sắc, chức việc mà cụ thể là cộng đồng Tăng Ni và Phật tử của Giáo hội. Với việc tham gia bầu cử và đại diện ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, Giáo hội có chức năng trực tiếp tham gia vào công việc đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; bởi vì, Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp là cơ quan đại diện thực hiện quyền lực của nhân dân.

Có thể nói, Giáo hội Phật giáo Việt Nam là tổ chức “pháp nhân phi thương mại”, là tổ chức tôn giáo hợp pháp tại Việt Nam được quyền hoạt động tôn giáo và phụng sự xã hội theo quy định của pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, với vai trò là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Giáo hội có điều kiện tham gia vào hệ thống chính trị nước nhà; qua đó, có thể truyền tải tinh thần của Phật giáo góp phần vào công cuộc xây dựng đất nước giàu mạnh và phát triển bền vững.

4. Một số hoạt động cơ bản của Giáo hội Phật giáo Việt Nam

- Hoạt động Tăng sự: Hàng năm, Ban Tăng sự đều triển khai các công tác: Thống kê Tăng Ni, Tự Viện để bổ sung vào danh bộ của Giáo hội; cấp Giấy chứng nhận cho Tăng Ni để công nhận là nhà sư thuộc GHPGVN; tổ chức An cư Kiết hạ để chấn chỉnh quy củ sinh hoạt và nề nếp của Tăng Ni, đồng thời giúp cho Tăng Ni có thời gian và điều kiện học tập, trau dồi đạo hạnh, trí tuệ; tổ chức các Giới đàn thụ giới Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni, Thức xoa Ma na, Sa di, Sa di Ni và thụ Thập thiện và Bồ Tát giới cho hàng Phật tử tại gia, đây là sự ghi nhận về sự tăng trưởng đạo pháp của GHPGVN đối với hàng đệ tử xuất gia và tại gia, đồng thời cũng hướng cho họ tu học theo đúng chính pháp; bổ nhiệm sư trụ trì tại các cơ sở thờ tự của GHPGVN để quản lý và phục vụ tín ngưỡng Phật giáo cho nhân dân; bồi dưỡng hành chính và trụ trì cho Tăng Ni để trang bị kiến thức cho các vị thực hiện mọi hoạt động tuân thủ Hiến chương của Giáo hội và pháp luật của Nhà nước.

Công tác Tăng sự của GHPGVN đã góp phần quan trọng trong việc ổn định sinh hoạt Phật giáo ở TW cũng như địa phương, giúp cho HĐTS GHPGVN quản lý tổng thể và tương đối toàn diện về sự phát triển (trên cả 2 mặt: số lượng và chất lượng) của Giáo hội để đề ra những chủ trương, phương hướng hoạt động trong từng giai đoạn cụ thể, phù hợp với phương châm Giáo hội đã đề ra.

- Hoạt động giáo dục Tăng Ni: Ngay từ sau khi thành lập, GHPGVN đã mở trường Cao cấp Phật học Việt Nam (đến ngày 23/6/1997 đổi tên thành “Học viện Phật giáo Việt Nam”) cơ sở 1, đặt tại Hà Nội và khai giảng khoá I vào tháng 12/1981; cơ sở 2 đặt tại thành phố Hồ Chí Minh và khai giảng khoá I vào tháng 10/1984. Đến nay, GHPGVN đã có 4 Học viện Phật giáo, 8 lớp Cao đẳng Phật giáo (tháng 8/2009, Trường Trung cấp Phật học thành phố Hải Phòng được Chính phủ chấp thuận cho nâng cấp lên thành Trường Trung - Cao đẳng Phật học) và 32 trường Trung cấp, hàng trăm lớp sơ cấp Phật học và thường xuyên tổ chức các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho Tăng Ni, Cư sĩ thuộc thành viên Ban Giáo dục Tăng Ni, Ban Giảng huấn các trường tham dự… GHPGVN đã đào tạo được hàng ngàn Tăng Ni có trình độ Cử nhân Phật học và Cao đẳng Phật học, hàng vạn Tăng Ni có trình độ Trung cấp Phật học. Ngoài ra, GHPGVN còn cử hàng trăm Tăng Ni đi du học làm Nghiên cứu sinh, Thạc sĩ Phật học và rất nhiều Tăng Ni đi học Phật học cũng như thế học, ngôn ngữ ở nước ngoài. Hiện nay đã có trên 200 Tăng Ni về nước tham gia các ban, viện TW, Ban Trị sự (Ban Đại diện) Phật giáo địa phương và các cơ sở giáo dục Phật giáo...

- Hoạt động hoằng pháp: Công tác hoằng pháp được đặt ra ngay từ khi thành lập GHPGVN. Hàng năm Ban Hoằng pháp TW tổ chức các khoá đào tạo, bồi dưỡng, hội thảo nghiệp vụ cho Giảng sư đoàn TW cũng như đoàn Giảng sư các tỉnh; tổ chức các Hội thi giáo lý cho Cư sĩ, Phật tử; thuyết giảng tại các đạo tràng, hướng dẫn Phật tử tu tập Bát quan trai...

Trong những năm qua công tác hoằng pháp của GHPGVN đã hướng dẫn được đông đảo Phật tử tu học theo đúng chính pháp của Đức Phật, góp phần nâng cao nhận thức giáo lý Phật giáo cho Phật tử, bài trừ tệ nạn lợi dụng tín ngưỡng Phật giáo để hành nghề mê tín dị đoan và giữ gìn sự đoàn kết, ổn định trong một bộ phận xã hội.

- Hoạt động hướng dẫn Phật tử: Công tác hướng dẫn Phật tử được chia thành 2 phần chính: hướng dẫn Cư sĩ, Phật tử và hướng dẫn Gia đình Phật tử. Công tác hướng dẫn Cư sĩ, Phật tử nổi bật nhất là thông qua hướng dẫn hoạt động của các đạo tràng như: Pháp Hoa, Dược sư, Tịnh độ, tu Thiền… cho các giới nam, nữ Phật tử tại các cơ sở tự viện của GHPGVN trong toàn quốc. Công tác hướng dẫn Gia đình Phật tử sinh hoạt trong các nhà chùa cũng được quan tâm.

- Hoạt động văn hoá: Đến tháng 6/2010, GHPGVN đã có 6 ấn phẩm Phật giáo được phép xuất bản, đó là: Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Văn hoá Phật giáo, Tạp chí Khuông Việt, Tạp chí Nguyên Thuỷ, Tuần báo Giác Ngộ và Nguyệt san Giác Ngộ. Bên cạnh đó, hàng năm GHPGVN ở TW và địa phương đã xin xuất bản hàng trăm đầu kinh sách và băng, đĩa để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu, đọc tụng, học tập, nâng cao sự hiểu biết về văn hoá Phật giáo gắn với văn hoá dân tộc cho Tăng Ni, Phật tử trong và ngoài nước.

- Hoạt động kinh tế tài chính: GHPGVN với chủ trương tự chủ về kinh phí hoạt động và góp phần xây dựng đất nước, do đó kinh phí được Giáo hội huy động tập trung từ một số nguồn cơ bản: vận động các cơ sở thờ tự tạo nguồn kinh tế nhà chùa; thành lập Công ty kinh doanh các ấn phẩm Phật giáo và tổ chức các tour du lịch Phật giáo trong và ngoài nước; vận động Tăng Ni, Tự viện đóng góp… và thực tế đã chứng minh, trong gần 3 thập kỷ qua GHPGVN đã tồn tại, phát triển và có nhiều đóng góp cho đất nước trong các công tác từ thiện, nhân đạo … bằng chính nội lực của mình.

- Hoạt động từ thiện xã hội: Công tác từ thiện xã hội là những hoạt động Phật sự mang tinh thần nhân đạo, thể hiện sự nhập thế của Phật giáo Việt Nam, là một trong những công tác trọng tâm của Giáo hội. GHPGVN hiện có 126 Tuệ Tĩnh đường và phòng phát thuốc từ thiện; hàng trăm phòng thuốc chẩn trị y học dân tộc; trên 1000 lớp học tình thương; nhiều cơ sở nuôi dạy trẻ mẫu giáo bán trú, trẻ mồ côi, khuyết tật; nhiều trường dạy nghề miễn phí, hàng chục cơ sở chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS… và rất nhiều các hoạt động khác. Chỉ riêng nhiệm kỳ V (2002 - 2007), GHPGVN đã tổ chức cứu trợ đồng bào bị thiên tai, dịch bệnh và các hoạt động nhân đạo từ thiện khác với tổng số kinh phí trên 400 tỷ đồng. Bên cạnh đó, GHPGVN còn tham gia các hoạt động ủng hộ, cứu trợ nhân dân thế giới bị ảnh hưởng bởi các cuộc thiên tai, bão lũ …

- Hoạt động Phật giáo quốc tế: Trong xu thế toàn cầu hoá, với tinh thần hoà bình, hữu nghị, hợp tác với Phật giáo các nước trên thế giới, hoạt động Phật giáo quốc tế của GHPGVN đã ngày càng phát triển và đạt được nhiều kết quả tốt đẹp. GHPGVN luôn tích cực tham gia các tổ chức và hoạt động Phật giáo tiến bộ trên thế giới, như:

+ Tham gia là thành viên của tổ chức ABCP (Asian Buddhist Confrence for Peace - Tổ chức Phật giáo Châu Á vì hoà bình). Mục tiêu của ABCP là đấu tranh vì hoà bình, hạnh phúc cho con người, chống chiến tranh.

+ GHPGVN tham gia các kỳ Đại lễ Vesak (ngày tam hợp đức Phật: ngày Phật sinh, ngày Phật thành đạo và ngày Phật nhập Niết bàn). Đại Hội đồng Liên hợp quốc tại phiên họp thứ 54, mục 174 của chương trình nghị sự (ngày 15 tháng 12 năm 1999) đã chính thức công nhận Đại lễ Vesak là một lễ hội văn hóa, tôn giáo quốc tế của Liên hợp quốc, tôn vinh giá trị đạo đức, văn hóa, tư tưởng hòa bình, đoàn kết hữu nghị của Đức Phật. Năm 2008, Chính phủ Việt Nam đã đăng cai và tổ chức thành công Đại lễ Vesak Liên Hợp quốc với sự tham gia của Phật giáo 74 quốc gia và vùng lãnh thổ.

+ Tham gia tổ chức Ni giới thế giới: Đây là tổ chức hoạt động nhằm khẳng định quyền bình đẳng nam nữ, tạo cơ hội cho nữ giới trong các hệ phái Phật giáo tu học, hoạt động vì mục tiêu hòa bình và công bằng xã hội. GHPGVN đã đăng cai tổ chức Hội nghị Ni giới thế giới lần thứ 11 tại Việt Nam (vào tháng 12/2009) đạt kết quả tốt.

+ Tham gia là thành viên của Hội nghị Thượng đỉnh Phật giáo thế giới (tên đầy đủ là Hội Phật giáo Thế giới truyền bá chánh pháp).

Ngoài ra, GHPGVN có quan hệ ngoại giao, thân hữu với rất nhiều nước có Phật giáo như: Srilanca, Thái Lan, Myanmar, Campuchia, Lào, Trung Quốc, Ấn Độ, Pháp, Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Singapore, Indonesia... Tăng Ni GHPGVN còn có các quan hệ cá nhân hoặc trong sơn môn, pháp phái với Tăng Ni, Phật tử người Việt Nam đang định cư ở nước ngoài, tập trung ở một số nước như: Mỹ, Pháp, Canada, Ba Lan, Ucraina, ...

Hiện nay đã có trên 300 ngôi chùa Việt Nam ở gần 30 nước trên thế giới.

- Hoạt động nghiên cứu Phật học: Tập trung vào một số lĩnh vực: nghiên cứu, phiên dịch và xuất bản kinh sách, Tạp chí Phật học; tổ chức và tham dự các cuộc hội thảo, hội nghị, các hoạt động Phật giáo trong nước và quốc tế (ví dụ: giới thiệu về lịch sử Phật giáo và Phật giáo Việt Nam; phối hợp với Viện Nghiên cứu Tôn giáo thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt Nam tổ chức hội thảo về các vị danh tăng thuộc Phật giáo Việt Nam có công với đạo Pháp và dân tộc …); tổ chức các thư viện, phòng đọc sách phục vụ nhu cầu nghiên cứu và học tập của Tăng Ni, Phật tử;…

Hoạt động nghiên cứu Phật học của GHPGVN đã góp phần vào làm phong phú kho tàng tri thức của Phật giáo Việt Nam và có những đóng góp nhất định vào sự tìm hiểu mối tương quan giữa văn hoá Phật giáo với văn hoá dân tộc Việt Nam.

- Hoạt động nghi lễ của GHPGVN: GHPGVN được hợp thành bởi 9 tổ chức, hệ phái Phật giáo khác nhau và mỗi tổ chức, hệ phái lại có những đặc thù và truyền thống riêng, do đó với tinh thần tôn trọng sự biệt truyền của từng hệ phái GHPGVN khó có thể đưa ra một quy định nghi lễ thống nhất trong toàn Giáo hội, tuy nhiên GHPGVN đã có hướng dẫn các địa phương, các hệ phái tổ chức những ngày lễ trọng của Phật giáo (như: Lễ Phật đản, Lễ Vu Lan Báo hiếu, Lễ Tưởng niệm …) trên tinh thần chung là bảo tồn nét văn hoá truyền thống của Phật giáo Việt Nam, đó là đoàn kết, trang nghiêm, đảm bảo nếp sống văn hoá mới, giữ gìn an ninh trật tự và không trái với quy định của luật pháp nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy, các nghi lễ trong lễ hội Phật giáo cũng như các hoạt động khác của Giáo hội đã góp phần làm phong phú thêm cuộc sống tinh thần của một bộ phận đồng bào theo đạo, đồng thời có những đóng góp vào truyền thống văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Ngoài các hoạt động nêu trên, GHPGVN còn có rất nhiều hoạt động khác để “dưỡng đạo”, “hành đạo” và “quản đạo”, không ngừng củng cố tổ chức Phật giáo từ TW đến các địa phương; tổ chức các kỳ Hội nghị, Đại hội; phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển … chức sắc tôn giáo; xây, sửa cơ sở thờ tự;…

5. Hoạt động hợp tác quốc tế

Phục vụ công tác hợp tác quốc tế, Giáo hội có Ban Phật giáo Quốc tế, thuộc Hội đồng Trị Sự. Giáo hội là thành viên sáng lập Hội Liên hữu Phật giáo thế giới từ năm 1950 tại thủ đô Columbo, Srilanka, Hội Phật giáo Châu Á vì Hòa Bình (ABCP), Thành viên sáng lập Liên minh Phật giáo Thế giới (Ấn Độ), Hội Phật giáo Thế giới Truyền bá Chánh pháp, Hội Đệ tử Như Lai Tối thượng (Sri Lanka), Ủy ban Quốc tế Đại lễ Vesak Liên Hợp Quốc (Thái Lan), Ủy ban Đại học và Cao đẳng Phật giáo Thế giới tại Thái Lan, Thành viên Hội Sakyadhita Thế giới cũng như lãnh đạo Hội Phật tử Việt Nam tại Pháp và châu Âu... Giáo hội đã có những hoạt động mở rộng mối quan hệ, liên kết thân hữu, hợp tác trao đổi kinh nghiệm tu tập giữa Giáo hội, tăng, ni, phật tử Việt Nam với Giáo hội, các truyền thống hệ phái Phật giáo và tăng, ni, phật tử các nước trong khu vực ASEAN, châu Á, châu Âu, châu Mỹ và các quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Giáo hội tham gia nhiều hội nghị, hội thảo quốc tế về tôn giáo, đóng góp những hoạt động của mình vào thành công chung của các hội nghị. Bên cạnh đó, Giáo hội đã tổ chức thành công Lễ Phật đản Liên hợp quốc (Vesak) các năm 2008, 2014 và 2019. Tham dự Đại lễ có hàng nghìn đại biểu đến từ hàng chục vùng quốc gia, lãnh thổ khác nhau. Trong năm 2011, Giáo hội đã tổ chức thành công Hội nghị Ni giới Phật giáo Thế giới lần thứ 11.

Bên cạnh đó, hoạt động hợp tác quốc tế về đào tạo cũng được GHPGVN chú trọng. GHPGVN đã chủ động tăng cường mở rộng mối quan hệ, liên kết thân hữu, hợp tác trao đổi kinh nghiệm tu tập giữa Giáo hội, tăng, ni, phật tử Việt Nam với Giáo hội, các truyền thống hệ phái Phật giáo và tăng, ni, Phật tử các nước trong khu vực ASEAN, châu Á, châu Âu, châu Mỹ và các quốc gia, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Thượng toạ Thích Thọ Lạc - Uỷ viên Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Trị sự Phật giáo tỉnh Ninh Bình cho biết, GHPGVN đã đặc biệt chú trọng việc đào tạo nguồn nhân lực bằng việc đưa nhiều tăng, ni ra nước ngoài học tập nghiên cứu và đào tạo tại: Ấn Độ, Trung Quốc, Đài Loan, Myanmar, Nhật Bản, Mỹ, Srilanka, Thái Lan,… hàng trăm tăng, ni đã hoàn thành chương trình thạc sĩ và tiến sĩ về nước đảm đương các công tác Phật sự.

(Luật Minh Khuê sưu tầm)

Trên đây là tư vấn của chúng tôi. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.