- 1. Có các biện pháp ngăn chặn tội phạm, người bị buộc tội nào?
- 2. Quy định về mời Luật sư trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ
- 2.1 Đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam:
- 2.2 Đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp:
- 3. Tạm giam, tạm giữ là gì?
- 4. Khi nào thì bị tạm giam, tạm giữ?
- 5. Chế độ tạm giữ, tạm giam
1. Có các biện pháp ngăn chặn tội phạm, người bị buộc tội nào?
- Để kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm thi hành án, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong phạm vi thẩm quyền của mình có thể áp dụng biện pháp giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bắt, tạm giữ, tạm giam, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm, cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh.
- Các trường hợp bắt người gồm bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bắt người phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã, bắt bị can, bị cáo để tạm giam, bắt người bị yêu cầu dẫn độ.
2. Quy định về mời Luật sư trong thời gian bị tạm giam, tạm giữ
Khi tiếp nhận người bị bắt, giao Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, Quyết đỉnh tạm giữ cho người bị tạm giữ, Quyết định khởi tô' bị can cho bị can, người thực hiện lệnh, quyết định, tiếp nhận người bị bắt phải đọc, giải thích rõ về quyền, nghĩa vụ của họ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và ghi vào biên bản giao nhận. Trong biên bản phải ghi rõ ý kiến của họ về việc có nhờ Luật sư hay không và đề nghị thông báo cho người đại diện, người thân thích. Việc thực hiện quyền nhờ Luật sư như sau:
2.1 Đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam:
- Nêu người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam có đơn yêu cầu Luật sư (đích danh) thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi nhận đươc đơn yêu cầu người bào chữa của người bị bắt, bị tạm giữ, cơ quan điều tra, cơ sở giam giữ đang quản lý họ (cơ quan có thẩm quyền đang quản lý) có trách nhiệm chuyển đơn này cho Luật sư được yêu cầu đích danh, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ không nêu đích danh Luật sư thì cơ quan có thẩm quyền đang quản lý phải chuyển đơn này cho ngưòi đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ Luật sư.
- Nếu người bị tạm giam có đơn yêu cầu Luật sư (đích danh) thì trong thời hạn 24 giò kể từ khi nhận được đơn yêu cầu người bào chữa của người bị tạm giam, cơ quan có thẩm quyền đang quản lý người bị tạm giam có trách nhiệm chuyển đơn này cho Luật sư được yêu cầu đích danh, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp người bị tạm giam không nêu đích danh Luật sư thì phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc người thân thích của họ để những người này nhờ Luật sư.
- Nếu người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam có đơn yêu cầu nhờ Luật sư thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo ngay cho người bị bắt, người bị tạm giữ, người bị tạm giam để có ý kiến về việc nhờ Luật sư.
Trường hợp người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam chưa yêu cầu nhờ Luật sư thì trong lần đầu tiên lấy lời khai người bị bắt, người bị tạm giữ, lần đầu tiên hỏi cung bị can, điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra phải hỏi rõ người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can có nhờ Luật sư hay không và phải ghi ý kiến của họ vào biên bản. Nếu họ có yêu cầu nhò Luật sư thì điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra hướng dẫn họ viết đơn nhờ Luật sư và chuyển đơn này cho Luật sư, người đại diện hoặc ngưòi thân thích của họ. Trường hợp họ không nhờ Luật sư thì trong thồi hạn 12 giờ sau khi lấy lòi khai người bị bắt, người bị tạm giữ, 24 giờ kể từ khi hỏi cung bị can lần đầu, điều tra viên hoặc Cán bộ điều tra đã lấy lời khai, hỏi cung có trách nhiệm thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam.
2.2 Đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp:
- Trường hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp có đơn yêu cầu Luật sư thì trong thồi hạn 12 giờ kể từ khi nhận được đơn yêu cầu (đích danh) Luật sư, cơ quan nhận đơn của họ có trách nhiệm chuyển đơn này cho Luật sư được yêu cầu đỉch danh, người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp họ không nêu đích danh Luật sư thì cơ quan nhận đơn phải chuyển đơn này cho người đại diện hoặc ngưèổ. thân thích của họ để những người này nhò Luật sư. Việc chuyển đơn được thực hiện qua đưòng bưu chính hoặc trực tiêp tại trụ sở cơ quan đang quản lý người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp nêu Luật sư, người đại diện hoặc người thân thích có nhu cầu nhận trực tiếp.
Việc chuyển đơn có thể được thực hiện cùng vối việc thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trong quá trình thực hiện việc chuyển đơn, nếu người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp bị áp dụng biện pháp tạm giữ thì việc tiến hành các thủ tục đăng ký bào chữa tiếp tục được thực hiện, không phải làm các thủ tục đăng ký đối với người bị tạm giữ.
- Trưòng hợp người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp không yêu cầu Luật sư thì trong thời hạn 12 giờ kể từ khi lập xong biên bản giao nhận Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp, cơ quan đang quản lý người bị giữ phải thông báo cho người đại diện hoặc người thân thích của họ. Trường hợp họ bị tạm giữ thì việc tiến hành các thủ tục yêu cầu Luật sư được thực hiện như trường hợp đôi với người bị bắt, ngưòi bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam đã nêu ỏ trên.
Lưu ý: Trường hợp cần giữ bí mật điều tra đốĩ với các tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viên kiểm sát có thẩm quyền quyết định để Luật sư tham gia tô' tụng từ khi kết thúc điều tra. Điều tra viên hoặc cán bộ điều tra phải thông báo cho người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can biết quyết định của Viện trưởng Viện kiểm sát.
3. Tạm giam, tạm giữ là gì?
Theo Điều 109 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, cơ quan có thẩm quyền chỉ áp dụng các biện pháp bắt giữ người khi:
- Muốn kịp thời ngăn chặn tội phạm
- Khi có căn cứ chứng tỏ người bị buộc tội sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử
- Khi có căn cứ cho rằng người bị buộc tội sẽ tiếp tục phạm tội
- Đảm bảo cho thi hành án
Khi đó, tạm giam, tạm giữ là hai trong số các biện pháp ngăn chặn này; chúng giúp quá trình điều tra của cơ quan có thẩm quyền được diễn ra thuận lợi, nhanh chóng hơn.
Theo đó, người bị tạm giữ là người đang bị quản lý tại cơ sở tạm giữ trong thời gian bị tạm giữ, gia hạn tạm giữ.
Người bị tạm giam là bị can, bị cáo, người bị phạt tù, người bị kết án tử hình mà bản án chưa có hiệu lực pháp luật hoặc đang chờ thi hành án, người bị tạm giam để thực hiện việc dẫn độ.
4. Khi nào thì bị tạm giam, tạm giữ?
Điều 117 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định tạm giữ là biện pháp ngăn chặn được sử dụng để bắt giữ người phạm tội trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú hoặc theo quyết định truy nã.
Theo đó, thời gian tạm giữ không quá 03 ngày. Trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn nhưng không quá 03 ngày. Đặc biệt, trong một số tình huống đặc thù, người ra quyết định có thể gia hạn lần thứ hai nhưng không quá 03 ngày.
Tạm giam được quy định tại Điều 119 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Theo đó, tạm giam được áp dụng với bị can, bị cáo về tội đặc biệt nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng.
Ngoài ra, cơ quan có thẩm quyền còn có thể áp dụng biện pháp tạm giam trong các trường hợp sau đây:
- Đối với tội nghiêm trọng, tội ít nghiêm trọng mà hình phạt tù trên 02 năm khi:
+ Đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng vẫn vi phạm
+ Không có nơi cư trú rõ ràng hoặc không xác định được lý lịch của bị can;
+ Bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã hoặc có dấu hiệu bỏ trốn;
+ Tiếp tục phạm tội hoặc có dấu hiệu tiếp tục phạm tội;
+ Có hành vi mua chuộc, cưỡng ép, xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật;
+ Tiêu hủy, giả mạo chứng cứ, tài liệu, đồ vật của vụ án, tẩu tán tài sản liên quan đến vụ án;
+ Đe dọa, khống chế, trả thù người làm chứng, bị hại, người tố giác tội phạm và người thân thích của những người này.
- Đối với tội ít nghiêm trọng mà hình phạt tù đến 02 năm nếu tiếp tục phạm tội hoặc bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã.
5. Chế độ tạm giữ, tạm giam
Việc áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam không phải nhằm trừng trị người phạm tội mà là để ngăn chặn tội phạm và hành vi trốn tránh pháp luật, gây khó khăn cho việc giải quyết vụ án của người phạm tội. Vì vậy, người bị tạm giữ, tạm giam không phải chấp hành chế độ của người thi hành hình phạt tù mà chỉ chấp hành các quy định về chế độ đi lại, sinh hoạt, nhận quà, liên hệ với gia đình trong thời gian bị tạm giữ, tạm giam.(1)
- Những biện pháp bảo hộ của pháp luật đối với thân nhân và tài sản của người bị tạm giữ, tạm giam
Điều 120 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định khi áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam, nếu người bị tạm giữ, tạm giam có người thân thích là người tàn tật, già yếu, có nhược điểm về tâm thần mà không có người chăm sóc thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam giao người đó cho người thân thích khác chăm nom; trường hợp không có người thân thích thì cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam giao những người đó cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú chăm nom. Việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em là con của người bị tạm giữ, tạm giam thực hiện theo quy định của Luật thi hành tạm giữ, tạm giam.
Trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam có nhà ở hoặc tài sản khác mà không có người bảo quản thi cơ quan ra quyết định tạm giữ, lệnh hoặc quyết định tạm giam phải áp dụng những biện pháp bảo quản.
Sau khi đã áp dụng những biện pháp bảo hộ đối với thân nhân và tài sản, cơ quan đã ra quyết định tạm giữ, lệnh tạm giam phải thông báo cho người bị tạm giữ, tạm giam biết những biện pháp đã được áp dụng.
MK LAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)
Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê đã sưu tầm và biên soạn. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng.