1. Ai là người có quyền ly hôn?

Theo quy định tại Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người được quyền yêu cầu ly hôn có các trường hợp sau:

- Thuận tình ly hôn

Đây là trường hợp khi hai vợ chồng thực sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận được về việc chia tài sản, quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái và các vấn đề khác liên quan đến quyền lợi của mỗi bên. Khi có sự đồng ý và thỏa thuận của hai bên, Tòa án sẽ công nhận và chấp nhận yêu cầu ly hôn này.

- Ly hôn theo yêu cầu của một bên

Một trong hai người có quyền yêu cầu ly hôn mà không cần sự đồng ý của người còn lại trong các trường hợp sau:

+ Hành vi bạo lực gia đình: Nếu một trong hai vợ chồng có hành vi bạo lực gia đình gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe và tinh thần của người kia, người bị hại có quyền yêu cầu ly hôn.

+ Vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng: Nếu một trong hai vợ chồng vi phạm nghiêm trọng các quyền và nghĩa vụ của mình, dẫn đến tình trạng trầm trọng trong hôn nhân, không thể tiếp tục cuộc sống chung và mục đích ban đầu của hôn nhân không thể đạt được, người bị vi phạm có quyền yêu cầu ly hôn.

+ Bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không thể nhận thức: Nếu cha, mẹ hoặc người thân thích khác của vợ hoặc chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, không thể kiểm soát hành vi của mình, và họ là nạn nhân của bạo lực gia đình do người còn lại gây ra và bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe và tinh thần, người bị vi phạm có quyền yêu cầu ly hôn.

Trên cơ sở các căn cứ trên, Tòa án sẽ xem xét và giải quyết yêu cầu ly hôn của người yêu cầu một cách công bằng và theo quy định của pháp luật. Như vậy, một trong hai người trong hôn nhân có quyền yêu cầu ly hôn mà không cần sự đồng ý của người còn lại. Người này có thể yêu cầu ly hôn trong các trường hợp như hành vi bạo lực gia đình, vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng, hoặc khi người còn lại bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác không thể nhận thức và không thể kiểm soát hành vi của mình.  Nếu cả hai vợ chồng đồng ý ly hôn và đã thỏa thuận được về việc chia tài sản, quyền trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cái và các vấn đề khác liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, Tòa án sẽ công nhận và chấp nhận yêu cầu thuận tình ly hôn. Quyền yêu cầu ly hôn của mỗi người trong hôn nhân được bảo đảm và có thể được thực hiện theo quy định của pháp luật.

 

2. Vụ bạo hành thai phụ tháng thứ 7, chồng có yêu cầu ly hôn được không?

Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án, theo khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Các cá nhân có quyền nhân thân trong hôn nhân và gia đình, bao gồm quyền kết hôn, quyền ly hôn, quyền bình đẳng của vợ chồng, quyền xác định cha, mẹ, con, quyền được nhận làm con nuôi, quyền nuôi con nuôi và các quyền nhân thân khác trong quan hệ hôn nhân và gia đình, theo Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha, mẹ, và cha, mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con của mình, theo Điều 39 Bộ luật Dân sự 2015.

- Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn thuộc về vợ, chồng hoặc cả hai người, và người thân thích khác trong trường hợp một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình gây ra bởi chồng, vợ của họ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ, theo Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014.

- Người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, theo Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Theo quy định tại Điều 51 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang mang thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Và trong trường hợp vợ trở thành nạn nhân của bạo hành gia đình trong thời kỳ mang thai và bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của mình, vợ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Do đó, nếu vợ trở thành nạn nhân của bạo hành trong thời kỳ mang thai và chồng gây ra tình huống đó, vợ vẫn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn dù đang ở tháng thứ 7 của thai kỳ. Tuy nhiên, việc giải quyết ly hôn sẽ phụ thuộc vào quyết định của Tòa án sau khi xem xét các tình huống và bằng chứng liên quan.

=> Như vậy, theo quy định tại Luật Hôn nhân và Gia đình, chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang mang thai, sinh con hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Nếu vợ trở thành nạn nhân của bạo hành gia đình trong thời kỳ mang thai và bị ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của mình, vợ vẫn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Trong trường hợp chồng gây bạo hành cho vợ tháng thứ 7 của thai kỳ, vợ cũng có quyền yêu cầu Tòa án xem xét và giải quyết tình huống này. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng về việc giải quyết ly hôn sẽ do Tòa án xem xét và đưa ra.

 

3. Nếu chồng cố tình nộp đơn ly hôn thì Toà án có giải quyết hay không?

Theo Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Thẩm phán có quyền trả lại đơn khởi kiện trong một số trường hợp, bao gồm:

- Người khởi kiện không có quyền khởi kiện theo quy định tại Điều 186 và Điều 187 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều này đề cập đến các quyền và điều kiện cần có để khởi kiện, bao gồm quyền và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Chưa đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật. Điều này ám chỉ việc khởi kiện trước khi đủ điều kiện khởi kiện theo quy định pháp luật, ví dụ như không tuân thủ các quy định thời hạn, thủ tục, hoặc yêu cầu về thông tin cần có.

- Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án hoặc quyết định có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Tòa án bác đơn yêu cầu ly hôn hoặc các yêu cầu khác như thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, thay đổi người quản lý tài sản, di sản, giám hộ.

- Hết thời hạn quy định mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Tòa án, trừ trường hợp miễn, không phải nộp hoặc có trở ngại khách quan, sự kiện bất khả kháng.

- Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Điều này ám chỉ rằng Tòa án không có thẩm quyền xem xét và giải quyết vụ án cụ thể mà người khởi kiện đưa ra.

- Người khởi kiện không sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện theo yêu cầu của Thẩm phán. Nếu Thẩm phán yêu cầu người khởi kiện sửa đổi, bổ sung thông tin trong đơn khởi kiện và người khởi kiện không tuân thủ, Thẩm phán có quyền trả lại đơn khởi kiện.

Trong trường hợp người chồng cố tình nộp đơn ly hôn khi vợ đang mang thai, nếu Tòa án xem xét và xác định rằng người khởi kiện không có quyền khởi kiện trong trường hợp này, Thẩm phán sẽ trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện. Thẩm phán cần có văn bản rõ ràng nêu rõ lý do trả lại đơn khởi kiện và cùng gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.

Quý khách hàng có thể tham khảo thêm nội dung bài viết sau: Hướng dẫn giành quyền nuôi con sau khi ly hôn quy định mới 2023

Công ty chúng tôi mong muốn gửi đến quý khách hàng những thông tin tư vấn hữu ích liên quan đến vụ bạo hành thai phụ tháng thứ 7. Nếu quý khách hàng cần được giải đáp thêm, hãy liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc quý khách hàng gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp thắc mắc nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đem đến sự tư vấn chuyên nghiệp, đáng tin cậy và đúng với quy định pháp luật để giúp quý khách giải quyết các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ và pháp luật một cách hiệu quả và thuận lợi.