1. Vượt xe ô tô như thế nào là đúng quy định ?

Thưa luật sư, trên đoạn đường 2 chiều có vạch trắng đứt đoạn phân làn ở giữa, mỗi chiều có thêm nét trắng liền phân làn cho xe máy, ô tô và xe thô sơ, xe máy và ô tô di chuyển cùng 1 làn đường. Tôi điều khiển xe máy di chuyển đúng làn đường, đúng tốc độ. Khi đang di chuyển có 1 ô tô phía trước chạy chậm lại, tôi vượt phải ô tô đó.
Nhưng ngay trên đó có một đội Cảnh sát giao thông, họ giữ tôi lại và yêu cầu nộp phạt 500.000 đồng vì tôi vượt sai quy định. Theo Cảnh sát giao thông thì tôi phải vượt về bên trái ô tô (tức là đè lên vạch trắng đứt đoạn và lấn sang làn đường ngược chiều) . Điều này rất nguy hiểm vì làn ngược chiều có rất nhiều xe ô tô lưu thông.
Vậy theo luật sư phải xử lý như thế nào. Và Cảnh sát giao thông xử phạt tôi như vậy là có đúng luật không ?
Cảm ơn và mong nhận được sự hướng dẫn của luật sư!
Trả lời:
Theo quy định tại Điều 14, Luật giao thông đường bộ năm 2008:
Điều 14. Vượt xe
1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.
2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.
3. Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt
4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:...
Trong Luật Giao thông đường bộ 2008 không định nghĩa rõ "Thế nào là vượt?". Mọi mô tả ở Điều 14 Chương II của Luật gần như chỉ quy định cho kiểu vượt
Còn lại luật chưa quy định về hành vi chuyển làn phải, vượt lên, chuyển làn cũ như bạn đang nhắc đến là vượt bên phải.
Dẫu vậy, Cảnh sát giao thông có thể sẽ lấy riêng khoản 4 quy định:
"Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái..."
Như vậy theo như quy định trên bạn vẫn phải chịu phạt về hành vi vượt sai của mình.
Xử phạt hành chính về hành vi vượt xe không đúng quy định
Theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 6 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt như sau:
"3. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với người điều khiển xe thực hiện một trong các hành vi vi phạm sau đây
h) Vượt bên phải trong trường hợp không được phép;"
Như vậy trường hợp này cơ quan cảnh sát giao thông phạt bạn với mức 500.000 đồng là đúng luật.
Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn và giải đáp cụ thể.

2. Tư vấn về lỗi đi sai làn đường vi phạm giao thông ?

Xin chào luật sư, tôi có câu hỏi thắc mắc mong được giải đáp. Ngày 17/01/2020 tầm 22h10 tôi có đi từ bên nội thành về trường Học Viên Nông Nghiệp Việt Nam. Từ trên cầu Thanh Trì đi xuống, tôi có đi theo làn đường của ô tô (vòng cua to) và đi sát vào vạch kẻ liền phía dưới chân cầu. Và tôi bị bắt phạt vì lỗi đi sai làn đường.
Xin hỏi: Như vậy có đúng không ? Nếu sai thì tôi nên đi như thế nào ạ ?
Cảm ơn!
Trả lời:
Căn cứ theo Điều 13 Luật giao thông đường bộ 2008 về Sử dụng làn đường:
"1. Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.
2. Trên đường một chiều có vạch kẻ phân làn đường, xe thô sơ phải đi trên làn đường bên phải trong cùng, xe cơ giới, xe máy chuyên dùng đi trên làn đường bên trái.
3. Phương tiện tham gia giao thông đường bộ di chuyển với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải."
Như vậy, khi chuyển làn đường, bạn chú ý quan sát và có tín hiệu báo trước, đi về bên phải các xe di chuyển có tốc độ cao hơn xe của bạn.
Trong trường hợp đi ở nút giao cầu Thanh Trì bạn phải chú ý đi theo làn đường quy định, theo sự hướng dẫn của biển báo hiệu giao thông.
Bạn có thể tham khảo hướng đi từ cầu Thanh Trì đi các điểm
- Nếu đi Bắc Ninh, bạn cần đi thẳng về hướng Bắc Ninh theo biển dẫn cụ thể.
- Nếu đi Hải Phòng, bạn sẽ phải đi vào nhánh 4 xuống Quốc lộ 5 đi Hải Phòng, từ quốc lộ 5 có thể đi đến ngã tư Trâu Quỳ rồi đi thẳng đến Học Viện Nông nghiệp Việt Nam.
- Đi cầu Chui, bạn sẽ phải rẽ phải theo biển chỉ dẫn đi vào nhánh C xuống Quốc lộ 5 đi cầu Chui.

3. Mức xử phạt lỗi vượt đèn đỏ vi phạm giao thông ?

Thưa Luật sư! Ngày 14/03/2020, tôi có bị phạt trên đường Nguyễn Chí Thanh vì lỗi vượt đèn đỏ. Khi dừng phương tiện, 1 đồng chí tham gia giao thông đã ra nói lỗi của tôi, đồng thời tôi có lỗi không mang bảo hiểm xe. Đồng chí đó đã phạt tôi 700 nghìn vì lỗi vượt đèn đỏ, không có bảo hiểm xe máy, phí đường bộ và lỗi không chấp hành đúng đèn tín hiệu. Đồng chí đó có hỏi tôi phạt luôn hay giữ phương tiện.
Đồng chí đó nói rất nhanh không để tôi trình bày và giục tôi đóng tiền. Theo tôi được biết là năm 2020 là không thu phí đường bộ xe máy. Không biết lỗi vượt đèn đỏ có bị gộp thêm lỗi không chấp hành đèn tín hiệu không? Tôi có hỏi thì đồng chí đó cứ khăng khăng như vậy và cũng không viết giấy phạt cho tôi. Và theo tôi được biết là chỉ dưới 250 nghìn mới phạt tại chỗ mà đồng chí này phạt tôi 4 lỗi tôi không biết đúng hay sai và 700 nghìn không hề viết giấy phạt và nói nếu không sẽ giữ phương tiện 30 ngày. Hơn nữa theo tôi tìm hiểu có nếu công an giao thông đi 1 mình sẽ có thể coi là đi ăn mảnh phi pháp vì thường phải có 2 người.
Xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Tại buổi họp phiên thường kỳ tháng 9 của Chính phủ sáng 30/09/2015, các thành viên Chính phủ đã nhất trí đề xuất tạm dừng thu phí sử dụng đường bộ đối với xe máy. Thảo luận Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc tạm dừng thu phí sử dụng đường bộ trên đầu phương tiện đối với xe máy, các thành viên Chính phủ đã nhất trí đề xuất tạm dừng thu phí sử dụng đường bộ đối với xe máy trên cả nước từ ngày 1-1-2016 của Bộ GTVT.

Điểm e khoản 4 Điều 6, Nghị định 100/2019/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực giao thông đường bộ đường sắt quy định:

"Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

e) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông".

Như vậy, riêng đối với hành vi vượt đèn đỏ sẽ bị phạt tiền từ 600.000 đồng đến 1,000.000 đồng và tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 1 tháng đến 3 tháng đối với người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự xe mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy căn cứ Điểm e Khoản 4 va Điểm b Khoản 10 Điều 6 Nghị định 100/2019/ND-CP

Tại khoản 1 điều 56 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản như sau:

"Xử phạt vi phạm hành chính không lập biên bản được áp dụng trong trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đồng đối với cá nhân, 500.000 đồng đối với tổ chức và người có thẩm quyền xử phạt phải ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tại chỗ. Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì phải lập biên bản".

Như vậy, trong trường hợp của ban, nếu số tiền phát trên 250.000 đồng thì cảnh sát giao thông phải lập biên bản.

Về vấn đề cảnh sát giao thông có được xử phạt khi đi một mình hay không, Nghị định 100/2019/ND-CP quy định về thẩm quyền xử phạt, theo đó, Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đường sắt có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại điểm khoản 4 điều 6 Nghị định này. Do đó, trong trường hợp của bạn, cảnh sát giao thông có thẩm quyền xử phạt. Tuy nhiên đối với quy trình thực hiện xử lý vi phạm hành chính của cảnh sát giao thông là không đúng bạn có thể thực hiện khiếu nại hành vi này đến thủ trưởng cơ quan người này đang công tác để tiến hành giải quyết.

4. Tư vấn vi phạm giao thông đường bộ gây tai nạn ?

Thưa luật sư tôi có một thắc mắc như sau mong luật sư giải đáp ạ: Vào hồi 21 giờ ngày 7/6/2015, tôi lái xe con đi trên đường thành phố, chuẩn bị rẽ trái, trước khi rẽ đã quan sát phía trước không vướng gì, phía sau có 2 đèn xe ô tô cách tôi khoảng trên 200m.

Cách điểm rẽ khoảng 20m tôi giảm tốc độ đến khoảng 5Km/h, xe đi cách lề phải khoảng 3m, bật đèn xin đường và từ từ đánh lái, đến cách điểm rẽ khoảng 5m, thì bất ngờ 1 xe máy từ phía sau tông vào đít xe tôi, vết tông cách phía trái đít xe khoảng 30cm, xe máy đi tốc độ khoảng trên 60km/h, không có hiện tượng phanh. (có clip hiện trường, do camera an ninh nhà cạnh đường quay được, kèm theo đoạn từ 8h59m7s).

Công an đo đạc hiện trường, vết bánh xe xa nhất là 6,8m, mặt đường rộng 14m (tức là xe tôi vẫn bên phần làn đường bên phải), thử nồng độ cồn bằng không, giấy tờ đầy đủ, xe chính chủ. Theo biên bản hiện trường của công an, công an đã khám xe và chụp ảnh vết xe bị tai nạn.

Xin hỏi Luật sư.

- Công an được phép giữ xe và giấy tờ tối đa là bao nhiêu ngày khi mà 2 bên không thương lượng được.

- Nếu không có bên nào kiện cáo, thì cảnh sát giao thông xử lý thế nào, bao lâu phải thụ lý hồ sơ và tòa xét xử.

- Công an có quyết định được bên đúng sai không, và nếu mình không thỏa mãn thì sẽ phải làm thế nào?

- Nếu mình đúng công an xử mình sai thì Bảo hiểm trách nhiệm dân sự có đền thay mình không.

- Hiện tại người đi xe máy đang nằm viện, vì thủng ruột phải mổ để vá và bị nhiễm trùng vết mổ, thời gian người bị đau nằm viện có ảnh hưởng đến thời gian giữ xe và giấy tờ không?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

- Bạn điều khiển xe ô tô, chuẩn bị rẽ trái quan sát, 20m giảm tốc độ, bật đèn xin đường và từ từ đánh lái, đến cách điểm rẽ khoảng 5m, không sử dụng chất kích thích khi điều khiển xe thì bất ngờ 1 xe máy từ phía sau tông vào đít xe, với những thông tin bạn cung cấp hiện tại có thể khẳng định bạn không vi phạm pháp luật giao thông đường bộ. Vụ việc của bạn đã có sự can thiệp của cơ quan công an, có camera ghi hình ảnh, do đó bạn căn cứ vào biên bản điều tra sẽ xác định rõ hơn chính xác bên nào vi phạm giao thông.

- Hai bên không thương lượng được:

+) Về thời hạn tạm giữ phương tiện:

Căn cứ quy định tại khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính thì:

" Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này."

- Hành vi cấu thành tội quy định điều 260 tại bộ luật hình sự năm 2015:

- Với thông tin bạn cung cấp có hai trường hợp xảy ra:

+) Không cấu thành tội phạm quy định tại điều 260, hậu quả không nghiêm trọng, theo đó cơ quan công an tiến hành cho hai bên thương lượng mức bồi thường thiệt hại, nếu không thỏa thuận được về mức bồi thường, cơ quan công an hướng dẫn cho hai bên tới tòa án để xác định mức thiệt hại

+) Cấu thành tội phạm khi vụ việc xảy ra gây hậu quả được hiểu mức độ "gây thiệt hại nghiêm trọng " căn cứ theo nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP

- Nếu như không có bên nào kiện cáo thì trường hợp này của bạn vẫn bị truy tó trách nhiệm hình sự cho bên vi phạm bởi vì căn cứ quy định của pháp luật bộ luật tố tụng hình sự, thì điều 260 không thuộc trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại:

- Luật tố tụng hình sự cũng quy định khi phát hiện dấu hiệu tội phạm cơ quan công an tiến hành điều tra xác định tội phạm.

"Điều 13. Trách nhiệm khởi tố và xử lý vụ án hình sự

Khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định để xác định tội phạm và xử lý người phạm tội."

- Thời hạn điều tra tùy thuộc vào vụ việc cụ thể, nếu như có tính chất phức tạp có thể gia hạn điều tra. Cơ quan công an tiến hành điều tra theo quy định của luật, xác định đủ căn cứ mới tiến hành khởi tố tại tòa.

- Vụ việc của bạn căn cứ vào biên bản điều tra hiện trường và những bằng chứng thu lại được để xác định bên vi phạm, bên nào có lỗi bên nào vi phạm pháp luật trong điều khiển phương tiện giao thông đường bộ. Theo đó, cơ quan công an có thẩm quyền kết luận bên nào vi phạm, bên nào có lỗi. Nếu như không đồng ý với kết quả điều tra bạn có thể làm đơn khiếu nại quyết định đó lên cơ quan cấp trên trực tiếp của cán bộ công an đó.

- Về việc tham gia bảo hiểm trách nhiệm dân sự theo Thông tư 126/2008/TT-BTC: Quy định Quy tắc, điều khoản, biểu phí và mức trách nhiệm bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới:

-> Như vậy dù chủ xe cơ giới có lỗi hay không thì bảo hiểm trách nhiệm dân sự sẽ bồi thường theo mức độ lỗi của họ.

- Hiện tại người đi xe máy đang nằm viện, vì thủng ruột phải mổ để vá và bị nhiễm trùng vết mổ, thời gian người bị đau nằm viện không ảnh hưởng đến thời gian giữ xe và giấy tờ. Như đã trình bày trên tại luật xử lý vi phạm hành chính thì thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Nếu bạn còn vướng mắc Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được luật sư tư vấn và giải đáp cụ thể!

>> Xem thêm:  Công an xử phạt lỗi vi chạy quá tốc độ nhưng không chứng minh lỗi vi phạm có đúng luật ?

5. Mức phạt lỗi vi phạm khi không có bằng lái A1 ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có câu hỏi nhờ Luật sư tư vấn giúp: Em có bằng lái xe a2 nhưng không có bằng a1. Vậy khi em tham gia giao thông, trong trường hợp chạy xe thường (dưới 175 phân khối) thì có bị phạt hay không ?
Em xin cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ theo khoản 1 Điều 28 của Thông tư số 46/2012/TT-BGTVT "Quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ" quy định:

"Điều 28. Phân hạng giấy phép lái xe

1. Hạng A1 cấp cho:

a) Người lái xe để điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xy lanh từ 50 cm3 đến dưới 175 cm3;

b) Người khuyết tật điều khiển xe mô tô ba bánh dùng cho người khuyết tật.

2. Hạng A2 cấp cho người lái xe để điều khiển xe mô tô hai bánh có dung tích xy lanh từ 175 cm3 trở lên và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng A1.

3. Hạng A3 cấp cho người lái xe để điều khiển xe mô tô ba bánh, bao gồm cả xe lam, xích lô máy và các loại xe quy định cho giấy phép lối xe hạng A1.

4. Hạng A4 cấp cho người lái xe để điều khiển các loại máy kéo nhỏ có trọng tải đến 1000 kg."

Theo quy định trên, người được cấp giấy phép lái xe hạng A2 được phép điều khiển xe mô tô có dung tích từ 175 cm3 trở lên và các loại xe của hạng A1 như xe mô tô hai bánh có dung tích xi lanh từ 50 cm3 đến dưới 175 cm3. Do đó, trong trường hợp của bạn, bạn đã có bằng lái xe hạng A2, đồng nghĩa với việc bạn được phép điều khiển các loại xe có dung tích dưới 175 cm3 và không bị phạt gì.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật giao thông - Công ty luật MInh Khuê

>> Xem thêm:  Tại sao xe nhỏ đi sai, xe lớn đi đúng khi xảy ra tai nạn giao thông thì xe lớn vẫn phải đền xe nhỏ ?