1. Tư vấn xảy ra tai nạn giao thông khi vượt xe sai quy định?

Xin chào luật sư .Tôi xin tường thuật lại vụ tai nạn như sau:

Khi tôi đang điều khiển xe ô tô tải 5 tấn trên xe có 3 tấn hàng .vv đi trên làng đường quy định của mình gần đến nơi giao nhau có đèn tín hiệu thì bất ngờ có 1 xe tải khác vượt bên phải tôi và đi vào làn đường xe tôi mà không có tin hiệu xin vượt và sau xe tải đó là xe 7 chỗ cùng theo vượt xe tôi theo hướng bên phải xe tôi cũng không có tín hiệu xin vượt và chuyển vào làng đường của xe tôi. Lúc đó tín hiệu đèn giao thông chuyển sang đèn đỏ xe tải đi trước phanh đột ngột, và xe tải đó đã dừng vào phần đường người đi bộ, tiếp theo xe 7 chỗ va chạm vào đuôi xe tải, xe tôi va vào đuôi xe 7 chỗ. Vì xe tôi cách xe 7 chỗ 50cm nên tôi không xử lý kịp .Tôi có đạp phanh nhưng xe vẫn theo quán tính lao đến ép xe 7 chỗ vào xe tải phía trước làm xe 7 chỗ hư hỏng nặng. Sau khi tai nạn sảy ra xe tải phía trước tiếp tục đi qua khỏi nơi giao nhau mới dừng lại, sau khi làm việc cơ quan công an nhận định xe tôi sai hoàn toàn và bắt tôi đền bù hoàn toàn thiệt hại cho xe 7 chỗ

Vậy xin hỏi luật sư công an giải quyết như vậy là đúng hay sai? xin luật sư cho tôi cách giải quyết.

Cảm ơn luật sư

Tư vấn xảy ra tai nạn giao thông khi vượt xe sai quy định ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Luật giao thông đường bộ 2008 có quy định về vượt xe như sau:

"Điều 14. Vượt xe

1. Xe xin vượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc còi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.

3. Khi có xe xin vượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đã vượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

4. Khi vượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây thì được phép vượt bên phải:

a) Khi xe phía trước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái;

b) Khi xe điện đang chạy giữa đường;

c) Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể vượt bên trái được.

5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Trên cầu hẹp có một làn xe;

c) Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;

d) Nơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

đ) Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt;

e) Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ."

Theo đó, trong trường hợp này xe tải và xe 7 chỗ đã vượt xe của bạn sai quy định vì

- Thứ nhất, 2 xe đã vượt mà không có tín hiệu xin vượt đồng thời vi phạm điểm d- khoản 5 về điều kiện không được vượt xe nơi đường giao nhau

- Thứ hai, theo quy định các xe phải vượt về bên trái và chỉ vượt phải khi có đầy đủ các điều kiện quy định tại khoản 4, tuy nhiên trong trường hợp này dù không đủ điều kiện vượt phải những 2 xe vẫn vượt

Điều đó là yếu tố quan trọng đã dẫn đến việc xe tải của bạn không phản ứng kịp do sau khi vượt xe tải ở trước đã phanh đột ngột và xe 7 chỗ chỉ cách xe bạn 50cm dẫn đến việc xảy ra tai nạn giao thông được nêu ở trên. Tuy nhiên bạn cũng có lỗi trong việc điều khiển xe, do đến đoạn đường giao nhau và có các xe đang vượt, bạn cần phải giảm tốc độ của xe để có thể phản xạ kịp thời với các tình huống bất ngờ xảy ra, vì vậy đã va chạm và gây thiệt hại cho xe 7 chỗ

Tuy nhiên trong trường hợp này cơ quan công an nhận định xe bạn sai hoàn toàn và bắt bạn đền bù hoàn toàn thiệt hại cho xe 7 chỗ là không chính xác vì lí do xảy ra tai nạn là do lỗi của cả 3 xe và thiệt hại của xe 7 chỗ cũng có một phần lỗi của chính người điều khiển xe đó. Bạn có thể khiếu nại với cơ quan công an để có hướng giải quyết hợp lý và chính xác nhất.

>> Xem thêm nội dung bài viết: Mẫu đơn yêu cầu bồi thường trong vụ án hình sự viết như thế nào?

>> Xem thêm:  Khi vận chuyển hàng hóa trên đường cần phải mang theo giấy tờ gì ?

2. Gián tiếp gây tai nạn giao thông và việc bồi thường khi xảy ra tai nạn?

Xin chào luật sư, tôi có câu hỏi cần sự tư vấn của luật sư về việc gián tiếp gây tai nạn giao thông như sau: tôi điều khiển xe tải chở bùn mía lưu thông trên đường, do bửng sau bị bung nên bùn có chảy xuống đường thì có xe buýt đi phía sau bị trượt và tông vào lan can đường. Trên xe có hành khách do va chạm nên bị ngã gãy tay. Luật sư cho tôi hỏi tôi có phải chịu trách nhiệm gì không.
- Phạm D

Trả lời:

Trường hợp của bạn nếu bửng sau xe của bạn bị bung nên bùn chảy xuống đường, làm cho xe buys đi phía sau bị trượt và tông vào lan can dẫn tới 1 hành khách bị thương.

Theo Điều 601 Bộ luật Dân sự năm 2015, ôtô được pháp luật xác định là nguồn nguy hiểm cao độ: Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Vì thế, khi chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật. Tại khoản 3, Điều 601 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.

....3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.....

Trong trường hợp của bạn việc bửng xe bị bụng không phải sự kiện bất khả kháng, vì thế bạn phải bồi thường toàn bộ thiệt hại.

>> Xem thêm: Gây thiệt hại về tài sản khi tai nạn giao thông có bị truy cứu ?

>> Xem thêm:  Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước thì bị công an phạt bao nhiêu tiền ?

3. Trách nhiệm pháp lý khi sử dụng rượu bia gây tai nạn giao thông?

Em xin chào văn phòng luật minh khuê, em xin đc tư vấn về luật ạ. Nội dung như sau: Khi em điều kiền xe ô tô trên đường quốc lộ do vượt xe máy không may xe em đâm vào bánh sau xe fotuner đời 2014 xe fotuner bị văng vào cáng 1 xe đổ bê tông bên cạnh đường thiệt hại về xe là xe fotuner bị hỏng bánh sau bên lái và bẹp bên phụ.
Do lái xe fotuner và em cũng quen nhau, vì vậy khi cơ quan công an qua làm việc 2 bên xin giàn hoà và e tự sủa xe cho chủ xe fortuner. Trong quá trình điều khiển xe em có sử dụng rượu bia, nhưng khi cơ quan công an tới làm thì e xin không thổi và không làm biên bản, 2 bên chỉ viết giấy viết tay và bên xe bê tông ký vào giấy trên. Nay xe fotuner đã đưa vào hãng và làm báo giá cụ thể, thực chất báo giá sửa chữa là 150 triệu nhưng chủ xe yêu cầu hãng kê tất cả các phụ kiện kể cả chưa hỏng vào và báo giá vọt tới 250 triệu gia đình em cũng muốn dàn xếp cho xong muốn gửi chủ xe là 200 triệu là chủ xe tự sửa nhưng chủ xe nhất quyết đòi 250 triệu vậy em muốn hỏi bây giờ em giải quyết thế nào. Và nếu kiện nhau em bị những tội gì và mức phạt thế nào? E cảm ơn, mong a chị tư vấn giúp em.
- Luu Van T -

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 8, Điều 8 Luật giao thông đường bộ năm 2008 được sửa đổi bởi Luật Phòng chống tác hại của rượu bia quy định một trong các hành vi cấm "....người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn...."

Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ trong tình trạng nồng độ cồn vượt quá quy định trên mà gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ như sau:

Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

.....d) Gây thiệt hại về tài sản từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định, có sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích mạnh khác;

Trường hợp anh trai bạn đã sử dụng rượu khi tham gia giao thông là vi phạm điều cấm trong luật Giao thông đường bộ và còn có hành vi gây tai nạn làm thiệt hại đến tính mạng của người khác. Như vậy anh trai bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Ngoài việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự anh trai bạn còn phải bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại theo quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự 2015.

Điều 589. Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm bao gồm:

1. Tài sản bị mất, bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng.

2. Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản bị mất, bị giảm sút.

3. Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

4. Thiệt hại khác do luật quy định.

Như vậy trường hợp của bạn nếu như khởi kiện thì bạn phải chi trả đầy đủ các chi phí về sửa xe. Bạn vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

>> Xem thêm: Lái xe uống rượu say, điều khiển xe ô tô gây tai nạn giao thông xử lý như thế nào ?

>> Xem thêm:  Tại sao xe nhỏ đi sai, xe lớn đi đúng khi xảy ra tai nạn giao thông thì xe lớn vẫn phải đền xe nhỏ ?

4. Nhận lại xe sau tai nạn giao thông do công an huyện giữ?

Xin chào luật sư Minh Khuê, cho tôi xin hỏi một vấn đề về tai nạn giao thông, cụ thể như sau; gia đình tôi có một chiếc xe Honda nhãn hiệu WAY RSX 110 do tôi đứng tên. Hôm đó vì quá bận rộn nên tôi giao xe cho vợ tôi điều khiển để đón con đi học về, vợ tôi thì không có bằng lái, khi vợ tôi điều khiển chiếc xe tới ngã ba thì một chiếc xe Honda khác từ trong ngã ba lao ra làm cho hai chiếc xe đụng vào nhau, (tuyến đường này là tuyến đường làng có tráng nhựa, không phải tuyến đường Quốc lộ 1)

Khi tôi nhận được tin lập tức chạy ra và thấy vợ tôi ra máu phần đầu khá là nhiều, còn chủ xe bên kia chỉ sơ xát nhẹ, tôi lập tức đưa vợ tôi đến bệnh viện, khi vừa tới bệnh viện thì công an ở ngay hiện trường nơi xẩy ra tai nạn có gọi điện thoại cho tôi hỏi là: vụ việc xẩy ra như vậy thì tôi tính thế nào, hai bên dàn xếp mạnh ai lấy xe về để sửa hay là cho công an huyện xuống đem xe về huyện để công an huyện giải quyết. Nhưng trong lúc đó thì tôi ở bệnh viện rất xa hiện trường, nên tôi chấp nhận cho công an huyện đem cả hai chiếc xe về công an huyện. Sự việc là như vậy, vợ tôi thì đang còn nằm trong bệnh viện thì tôi có lên huyện xin nhận lại xe được không? Hay là phải đợi tới lúc vợ em ra viện? Còn đi nhận lại xe thì phải mang theo những giấy tờ gì? Đóng tiền là bao nhiêu?

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

Theo khoản 1, Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 thì việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp thật cần thiết sau đây:

+ Một, để xác minh tình tiết mà nếu không tạm giữ thì không có căn cứ ra quyết định xử phạt. Trường hợp tạm giữ để định giá tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt thì áp dụng quy định của khoản 3 Điều 60 của Luật xử lý vi phạm hành chính 2012;

+ Hai, để ngăn chặn ngay hành vi vi phạm hành chính mà nếu không tạm giữ thì sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho xã hội;

+ Ba, để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt theo quy định tại khoản 6 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012.

Như vậy, trong trường hợp có tai nạn giao thông xảy ra, các phương tiện giao thông có liên quan đều phải được tạm giữ để phục vụ công tác khám nghiệm, điều tra giải quyết. Và thời hạn tạm giữ phương tiện được quy định tại khoản 8 Điều 125 Luật xử lý vi phạm hành chính 2012 như sau:

“Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề là 07 ngày, kể từ ngày tạm giữ. Thời hạn tạm giữ có thể được kéo dài đối với những vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp, cần tiến hành xác minh nhưng tối đa không quá 30 ngày, kể từ ngày tạm giữ tang vật, giấy phép, chứng chỉ hành nghề.

Đối với vụ việc thuộc trường hợp quy định tại đoạn 2 khoản 1 Điều 66 của Luật này mà cần có thêm thời gian để xác minh thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn việc tạm giữ; việc gia hạn phải bằng văn bản, thời hạn gia hạn không được quá 30 ngày.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề được tính từ thời điểm tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề bị tạm giữ thực tế.

Thời hạn tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, giấy phép, chứng chỉ hành nghề không vượt quá thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Điều 66 của Luật này, trừ trường hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.”

Theo đó, kể từ thời điểm bạn bị tạm giữ phương tiện và giấy tờ thì thời hạn tạm giữ phương tiện và giấy tờ là 7 ngày, trong trường hợp cần xác minh do vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp thì người có thẩm quyền có thể báo cáo thủ trưởng trực tiếp để xin gia hạn tạm giữ, việc gia hạn phải bằng văn bản và thời hạn không quá 30 ngày. Trong trường hợp này, thời hạn giữ xe của bạn đã quá thời hạn theo quy định, bạn có thể làm đơn gửi khiếu nại lên cơ quan công an đang giải quyết hồ sơ vụ việc để yêu cầu xem xét, giải quyết việc trả lại xe cho mình theo luật định.

Trường hợp vụ tai nạn giao thông đường bộ có dấu hiệu tội phạm thì đơn vị Cảnh sát giao thông tạm giữ phương tiện có trách nhiệm bàn giao phương tiện bị tạm giữ cùng với hồ sơ vụ án cho đơn vị điều tra tội phạm về trật tự xã hội có thẩm quyền. Cơ quan công an xác định hành vi này của bạn có dấu hiệu của vụ án hình sự thì xe của bạn gây tai nạn được coi là tang vật, phương tiện phạm tội nên được xử lý theo Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về xử lý vật chứng như sau:

1. Việc xử lý vật chứng do Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn điều tra; do Viện kiểm sát quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn truy tố; do Chánh án Tòa án quyết định nếu vụ án được đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; do Hội đồng xét xử quyết định nếu vụ án đã đưa ra xét xử. Việc thi hành quyết định về xử lý vật chứng phải được ghi vào biên bản.

2. Vật chứng được xử lý như sau:

a) Vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;

b) Vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;

c) Vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy.

3. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan, người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều này có quyền:

a) Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;

b) Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án;

c) Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy;

d) Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai thì ngay sau khi có kết luận giám định phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Như vậy, thời gian giữ phương tiện gây tai nạn phụ thuộc vào quá trình giải quyết vụ án. Nếu xét thấy không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án, cơ quan có thẩm quyền sẽ trả lại phương tiện cho bạn. Trong trường của bạn thì nếu nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông là lỗi của phía người đi xe máy mà bạn không có hành vi vi phạm thì bạn có thể làm đơn đến phía cơ quan công an để xin nhận lại phương tiện.

Ngoài ra, căn cứ Điểm đ Khoản 5 Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ-CP quy định:

.....Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân, từ 1.600.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với tổ chức là chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự xe mô tô Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 58 của Luật Giao thông đường bộ điều khiển xe tham gia giao thông (bao gồm cả trường hợp người điều khiển phương tiện có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng)....

>> Xem thêm: Gây ra tai nạn giao thông do lỗi hỗn hợp có phải chịu trách nhiệm hình sự không ?

>> Xem thêm:  Thẩm quyền kiểm tra hành chính của Cảnh sát giao thông, Cảnh sát cơ động ?

5. Các khoản bồi thường sau tai nạn giao thông?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi cần tư vấn như sau: Cháu tôi chết trong tai nạn giao thông. Nay tôi muốn hỏi về các khoản bồi thường mà lái xe o tô phải thực hiện.

Tôi có cháu (hơn 40 tuổi) bị chết vì tai nạn ô tô, dù cháu tôi đang đi trên làn dành cho xe đạp. Cháu còn mẹ già (90 tuổi), 1 con nhỏ (10 tuổi) và vợ không có công ăn việc làm. Vừa qua, gia đình đã lo ma cho cháu hết gần 70 triệu. Nay gia đình tôi đang băn khoăn về mức bồi thường. Xin luật sư cho biết lái xe phải bồi thường tối thiểu là bao nhiêu, có bao gồm những khoản sau hay không?
- Tiền mai táng phí
- Trợ cấp nuôi con đến 18 tuổi
- Trợ cấp nuôi mẹ già
- Bồi thường tổn thất tinh thần.
Dù gia đình cũng không muốn bị coi là thiểu hiểu biết hoặc gây khó cho lái xe gây tai nạn nhưng không thể để gia đình bị nạn thiệt thòi. Rất cảm ơn sự giúp đỡ của luật sư.

Người gửi: N.V.B

Các khoản bồi thường sau tai nạn giao thông ?

Luật sư tư vấn luật dân sự về bồi thường thiệt hại, gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 601 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì:

"1. Nguồn nguy hiểm cao độ bao gồm phương tiện giao thông vận tải cơ giới, hệ thống tải điện, nhà máy công nghiệp đang hoạt động, vũ khí, chất nổ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ, thú dữ và các nguồn nguy hiểm cao độ khác do pháp luật quy định.

Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải vận hành, sử dụng, bảo quản, trông giữ, vận chuyển nguồn nguy hiểm cao độ theo đúng quy định của pháp luật.

2. Chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; nếu chủ sở hữu đã giao cho người khác chiếm hữu, sử dụng thì người này phải bồi thường, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

3. Chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ phải bồi thường thiệt hại cả khi không có lỗi, trừ trường hợp sau đây:

a) Thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cố ý của người bị thiệt hại;

b) Thiệt hại xảy ra trong trường hợp bất khả kháng hoặc tình thế cấp thiết, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì người đang chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ trái pháp luật phải bồi thường thiệt hại.

Khi chủ sở hữu, người chiếm hữu, sử dụng nguồn nguy hiểm cao độ có lỗi trong việc để nguồn nguy hiểm cao độ bị chiếm hữu, sử dụng trái pháp luật thì phải liên đới bồi thường thiệt hại."

Như vậy, trong trường hợp này người gây tai nạn giao thông dù có lỗi hay không thì vẫn phải bồi thường thiệt hại vì người đó đang điều khiển phương tiện giao thông vận tải thuộc trường hợp quy định tại Điều 601.

Theo quy định pháp luật, tính mạng bị xâm phạm bao gồm:

* Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết và thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại: tiền thuốc, tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, tiền viện phí... theo chỉ định của bác sỹ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có).

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và cho người thường xuyên chăm sóc người bị thiệt hại.
- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khoẻ bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khoẻ bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

* Chi phí hợp lý cho việc mai táng bao gồm: các khoản tiền mua quan tài, các vật dụng cần thiết cho việc khâm liệm, khăn tang...và các khoản chi khác phục vụ cho việc chôn cất hoặc hoả táng nạn nhân theo thông lệ chung. Không chấp nhận yêu cầu bồi thường chi phí cúng tế, lễ bái, ăn uống, xây mộ, bốc mộ...

* Khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết

- Chỉ xem xét khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng, nếu trước khi tính mạng bị xâm phạm người bị thiệt hại thực tế đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Những người đang được người bị thiệt hại cấp dưỡng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng tương ứng đó. Đối với những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng nhưng sau khi người bị thiệt hại bị xâm phạm tính mạng, thì những người này được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng hợp lý phù hợp với thu nhập và khả năng thực tế của người phải bồi thường, nhu cầu thiết yếu của người được bồi thường. Thời điểm cấp dưỡng được xác định kể từ thời điểm tính mạng bị xâm phạm.

- Đối tượng được bồi thường khoản tiền cấp dưỡng:

+ Vợ hoặc chồng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình và được chồng hoặc vợ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

+ Con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà cha, mẹ là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng;

+ Cha, mẹ là người không có khả năng lao động, không có tài sản để tự nuôi mình mà con là người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng;

* Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do tính mạng bị xâm phạm

- Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại.

- Trường hợp không có những người người thừa kế thuộc hàng thứ nhất của người bị thiệt hại thì người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại.

- Trong mọi trường hợp, khi tính mạng bị xâm phạm, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng và người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại (sau đây gọi chung là người thân thích) của người bị thiệt hại được bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần (thiệt hại do tổn thất về tinh thần của cá nhân được hiểu là do sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm mà người bị thiệt hại hoặc do tính mạng bị xâm phạm mà người thân thích gần gũi nhất của nạn nhân phải chịu đau thương, buồn phiền, mất mát về tình cảm, bị giảm sút hoặc mất uy tín, bị bạn bè xa lánh do bị hiểu nhầm... và cần phải được bồi thường một khoản tiền bù đắp tổn thất mà họ phải chịu). Cần căn cứ vào điều này để xác định mức độ tổn thất về tinh thần của những người thân thích của người bị thiệt hại. Việc xác định mức độ tổn thất về tinh thần phải căn cứ vào địa vị của người bị thiệt hại trong gia đình, mối quan hệ trong cuộc sống giữa người bị thiệt hại và những người thân thích của người bị thiệt hại…

- Mức bồi thường chung khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần trước hết do các bên thoả thuận. Nếu không thoả thuận được, thì mức bồi thường khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần cho tất cả những người thân thích của người bị thiệt hại phải căn cứ vào mức độ tổn thất về tinh thần, số lượng người thân thích của họ, nhưng tối đa không quá 60 tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Theo như quy định trên, trong trường hợp này người gây tai nạn giao thông sẽ phải bồi thường các khoản sau: Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết, thu nhập thực tế bị mất của người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; chi phí hợp lý cho việc mai táng; khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng trước khi chết và khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần. Như vậy, các khoản mà bạn nêu trên cũng chính là các khoản mà người gây tai nạn phải bồi thường cho gia đình cháu bạn. Còn về mức bồi thường tối thiểu thì Nhà nước không quy định này vì việc bồi thường thiệt hại phải căn cứ trên thiệt hại thực tế xảy ra.

Mọi vướng mắc vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 1900.6162 hoặc liên hệ tới văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ của luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng ./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Trường hợp nào cảnh sát giao thông sẽ tạm giữ xe người vi phạm giao thông ?