Khách hàng: Xin chào Luật Minh Khuê! Tôi có câu hỏi mong được giải đáp: A là bác sĩ đa khoa có mở phòng mạch riêng. Trong lúc khám bệnh A đã kê toa thuốc cho bé T(3 tuổi) theo toa của người lớn. Do sơ suất, A không kiểm tra toa thuốc trước khi trao cho người nhà của bé T. Người nhà của bé T đến tiệm thuốc do H đứng bán, H bán thuốc theo toa của A mặc dù trên toa thuốc có ghi tuổi của bệnh nhân là 3 tuổi. Bé T do uống thuốc quá liều mà bị tử vong. Hỏi A và H có phải chịu TNHS về cái chết của bé T không? Nếu có là do lỗi nào? 

Cảm ơn!

Câu hỏi được biên tập tư chuyên mục tư vấn pháp luật hình sự công ty Luật Minh Khuê

Xác định lỗi trong trường hợp làm người khác tử vong do dùng thuốc quá liều ?

 Luật sư tư vấn pháp luật hình sự gọi: 1900.6162

Trả lời:

Chào bạn! Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

 

Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017

 

1. Trách nhiệm hình sự của A và H

Trách nhiệm hình sự là một trong những chế định cơ bản của Luật hình sự. Các vấn đề liên quan đến trách nhiệm hình sự như cơ sở của trách nhiệm hình sự, điều kiện của Trách nhiệm hình sự, thời hiệu truy cứu Trách nhiệm hình sự, miễn Trách nhiệm hình sự,.. vì thế mà việc nghiên cứu về trách nhiệm hình sự rất quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội. Bên cạnh đó, Trách nhiệm hình sự còn thể hiện rõ các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự.

Trong BLHS của nước ta không có định nghĩa lập pháp về Trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nhìn dưới góc độ khoa học pháp lý, Trách nhiệm hình sự có một số đặc điểm cơ bản sau:

– Trách nhiệm hình sự là một dạng của trách nhiệm pháp lý, vì thế nó mang những đặc điểm chung của trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm hình sự được quy định trong bộ luật hình sự.

– Trách nhiệm hình sự là hậu quả tất yếu của của việc thực hiện tội phạm. Nguyên tắc không tránh khỏi trách nhiệm hình sự khi thực hiện tội phạm là nguyên tắc cơ bản của LHS nước ta nhằm đảm bảo công bằng và bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật. Một người đạt độ tuổi nhất định, có năng lực Trách nhiệm hình sự và có lỗi khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS thì phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi

– Bản chất của Trách nhiệm hình sự là sự lên án của nhà nước đối với hành vi phạm tội.

– Trách nhiệm hình sự được thực hiện bằng biện pháp cưỡng chế của nhà nước, đặc biệt là hình phạt. Hình phạt là biện pháp nghiêm khắc nhất của nhà nước so với các biện pháp cưỡng chế khác. Người chịu Trách nhiệm hình sự phải bị tước bỏ, hạn chế các quyền và lợi ích hợp pháp về vật chất hoặc tinh thần và được đảm bảo thực hiện bằng bộ máy cưỡng chế của nhà nước

Ngoài hình phạt còn các biện pháp cưỡng chế khác như bắt buộc chữa bệnh, tịch thu vật, tiền, trực tiếp liên quan đến tội phạm, giáo dục tại xã, phường, thị trấn, hoặc đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên phạm tội,… các biện pháp này có thể áp dụng thay thế hình phạt.

Trách nhiệm hình sự được thực hiện chủ yếu bằng hình phạt. Tuy nhiên, trong trường hợp nhất định, người phạm tội chịu TNHS không nhất thiết phải áp dụng vì các biện pháp khác cũng đủ để giúp họ cải tạo tốt, trở thành người có ích. Bên cạnh đó, người phạm tội có thể được miễn hình phạt nếu có tình tiết giảm nhẹ, được khoan hồng, qua đó thể hiện tính nhân đạo của nhà nước.

Từ các đặc điểm trên, có thể rút ra khái niệm của Trách nhiệm hình sự như sau: “Trách nhiệm hình sự là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm mà cá nhân người phạm tội phải chịu gánh chịu trước nhà nước về hành vi phạm tội của mình và được thực hiện bằng hình phạt và các biện pháp cưỡng chế khác theo quy định của Bộ luật hình sự”

Trong tình huống ta thấy: 

A và H đều phải chịu trách nhiệm hình sự về cái chết của bé T. 

Điều 128 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về tội vô ý làm chết người như sau:

"Điều 128. Tội vô ý làm chết người

1. Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.."

Như vậy, A và H phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp.

 

2. Xác định yếu tố lỗi

Xác định yếu tố lỗi trong trường hợp này. Về mặt lý luận, lỗi là thái độ tâm lý bên trong của người phạm đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra.

Một hành vi bị xem là tính có lỗi khi có đủ hai điều kiện:

- Hành vi trái pháp luật hình sự.

- Hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn và quyết định của người thực hiện hành vi khi có khả năng và điều kiện để lựa chọn và quyết định xử sự khác không trái pháp luật hình sự.

Pháp luật Hình sự thường chia lỗi thành 4 loại: lỗi cố ý trực tiếp, lỗi cố ý trực tiếp, lối vô ý vì quá tự tin, lỗi vô ý do cẩu thả. Theo đó, lỗi vô ý do cẩu thả là trong trường hợp người phạm tội đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng do cẩu thả nên không thấy trước được khả năng gây ra hậu quả đó mặc dù được điều kiện khách quan buộc họ phải thấy trước hoặc có thể thấy trước hậu quả đó.

- Về lý trí: người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây hậu quả nguy hại cho xã hội.

- Về ý chí: người phạm tội khi thực hiện hành vi đáng ra “phải thấy trước và có thể thấy trước” hậu quả nguy hiểm cho xã hội sẽ xảy ra.

Theo quy định tại Điều 10 Bộ luật Hình sự:

"Điều 11. Vô ý phạm tội

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được;

2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó."

 

3. Cấu thành tội phạm của tội vô ý làm chết người

- Chủ thể: Người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

- Khách thể: Quyền sống của con người.

- Mặt chủ quan: Người thực hiện hành vi phạm tội dưới lỗi vô ý bao gồm: vô ý do cẩu thả và vô ý do quá tự tin.

+ Làm chết người do vô ý vì quá tự tin là trường hợp người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (khoản 1 Điều 11 BLHS)

+ Làm chết người do lỗi vô ý do cẩu thả là trường hợp người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó. (khoản 2 Điều 11 BLHS)

- Mặt khách quan:

Ở đây cần chú ý: Một số hành vi vi phạm quy tắc an toàn thuộc một số lĩnh vực có thể được quy định là tội phạm ở những điều luật riêng khác. Trong trường hợp như vậy, hành vi vi phạm quy tắc an toàn không còn là hành vi khách quan của tội vô ý làm chết người mà là hành vi khách quan của những tội phạm khác đó. Ví dụ: Hành vi vi phạm quy tắc an toàn giao thông (Điều 260, Điều 267, Điều 272… Bộ luật Hình sự), hành vi vi phạm quy tắc an toàn lao động (Điều 295 Bộ luật Hình sự)…

Hành vi vô ý làm chết người được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động. Hậu quả chết người là dấu hiệu bắt buộc đối với tội vô ý làm chết người.

 

4. Dấu hiệu mặt khách quan của tội phạm 

Dấu hiệu hành vi khách quan

Hành vi khách quan của tội vô ý làm chết người được quy định là hành vi vi phạm quy tắc an toàn. Đó là những quy tắc nhằm bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khoẻ cho con người. Những quy tắc đó thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã được quy phạm hoá hoặc có thể chỉ là những quy tắc xử sự xã hội thông thường, mọi người đều biết và thừa nhận.

Ở đây cần chú ý: Một số hành vi vi phạm quy tắc an toàn thuộc một số lĩnh vực có thể được quy định là tội phạm ở những điều luật riêng khác. Trong trường hợp như vậy, hành vi vi phạm quy tắc an toàn không còn là hành vi khách quan của tội vô ý làm chết người mà là hành vi khách quan của những tội phạm khác đó. Ví dụ: Hành vi vi phạm quy tắc an toàn giao thông (Điều 260, Điều 267, Điều 272… Bộ luật Hình sự), hành vi vi phạm quy tắc an toàn lao động (Điều 295 Bộ luật Hình sự)…

Dấu hiệu hậu quả của tội phạm

Hậu quả của tội phạm được xác định trong cấu thành tội phạm là hậu quả chết người. Hậu quả này có nguyên nhân là hành vi vi phạm quy tắc an toàn hay nói cách khác, cấu thành tội phạm đòi hỏi dấu hiệu thứ ba là:

Dấu hiệu quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm quy tắc an toàn và hậu quả chết người.

Quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm quy tắc an toàn và hậu quả chết người đã xảy ra là dấu hiệu của cấu thành tội phạm. Người có hành vi vi phạm quy tắc an toàn chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết người đã xảy ra khi hành vi vi phạm của họ và hậu quả chết người có quan hệ nhân quả với nhau.

 

5. Dấu hiệu mặt chủ quan và hình phạt của tội phạm

Lỗi của người phạm tội được xác định trong cấu thành tội phạm là lỗi vô ý. Có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả.

Trong trường hợp vô ý vì quá tự tin, người phạm tội nhận thức hành vi vi phạm của mình là nguy hiểm cho xã hội, có thể gây ra hậu quả chết người nhưng đã quá tự tin là hậu quả đó sẽ không xảy ra nhưng thực tế hậu quả đó vẫn xảy ra. Còn trong trường hợp vô ý do cẩu thả, người phạm tội không thấy trước hậu quả chết người mà hành vi của mình gây ra mặc dù với địa vị cụ thể của mình họ phải thấy trước và có đủ điều kiện thấy trước hậu quả đó. Về hình phạt

Điều luật quy định hai khung hình phạt chính.

Khung hình phạt cơ bản có mức phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Khung hình phạt tăng nặng có mức phạt tù từ 03 năm đến 10 năm được quy định cho trường hợp phạm tội làm chết 02 người trở lên.

 

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

 Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email:Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

 Rất mong nhận được sự hợp tác!

 Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp Luật Hình sự