1. Xác minh khi người tố cáo đang ở nước ngoài thực hiện như thế nào?
Khi có người tố cáo ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành xác minh theo quy trình sau đây. Tuy nhiên, do Luật Tố cáo 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định cụ thể về việc xử lý tố cáo từ người tố cáo ở nước ngoài, nên trường hợp này sẽ tuân theo quy định chung. Trước tiên, theo khoản 1 Điều 29 Luật Tố cáo 2018, nếu tố cáo đáp ứng điều kiện thụ lý, cơ quan sẽ tiếp nhận và ra quyết định thụ lý tố cáo theo quy định.
- Trong quá trình xác minh, cơ quan có thể thực hiện theo các quy định sau đây, căn cứ vào khoản 1 và 2 Điều 30 Luật Tố cáo 2018:
+ Thời hạn giải quyết tố cáo không vượt quá 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận tố cáo.
+ Đối với vụ việc phức tạp, có thể gia hạn giải quyết tố cáo một lần, nhưng không quá 30 ngày.
+ Đối với vụ việc đặc biệt phức tạp, có thể gia hạn giải quyết tố cáo hai lần, mỗi lần không quá 30 ngày.
+ Người giải quyết tố cáo sẽ quyết định việc gia hạn giải quyết tố cáo và thông báo cho người tố cáo, người bị tố cáo, cơ quan và tổ chức, cá nhân liên quan qua văn bản.
+ Các quy định chi tiết về thời hạn giải quyết tố cáo sẽ được Chính phủ quy định.
- Ngoài ra, theo điểm d khoản 2 Điều 3 Nghị định 31/2019/NĐ-CP, thời hạn giải quyết tố cáo cũng có các quy định như sau:
Vụ việc phức tạp là vụ việc có một trong các tiêu chí sau đây:
+ Có nhiều đối tượng liên quan.
+ Gây ảnh hưởng lớn đến lợi ích quốc gia, hoặc đặc biệt quan trọng.
+ Liên quan đến các công ty, tổ chức có liên doanh, liên kết, hoặc có sự tham gia của nhà nước.
+ Tố cáo có yếu tố nước ngoài: người tố cáo ở nước ngoài hoặc là người nước ngoài; hành vi bị tố cáo xảy ra ở nước ngoài; nội dung tố cáo phải xác minh ở nước ngoài.
Vì vậy, khi người tố cáo ở nước ngoài, cơ quan có thể gia hạn thời hạn giải quyết tố cáo theo quy định trên. Ngoài ra, theo khoản 3 Điều 11 Nghị định 31/2019/NĐ-CP, trong trường hợp không thể làm việc trực tiếp với người tố cáo do lý do khách quan, người giải quyết tố cáo hoặc người ra quyết định thành lập Tổ xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh có thể yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng để làm rõ nội dung tố cáo. Nếu người tố cáo ở nước ngoài không thể làm việc trực tiếp, người giải quyết tố cáo hoặc người ra quyết định thành lập Tổ xác minh hoặc Tổ trưởng Tổ xác minh có thể yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng để làm rõ nội dung tố cáo qua văn bản.
Tóm lại, khi có người tố cáo ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền sẽ xác minh tố cáo theo quy định chung của Luật Tố cáo 2018 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Thời hạn giải quyết tố cáo không vượt quá 30 ngày và có thể gia hạn tùy theo độ phức tạp của vụ việc. Nếu không thể làm việc trực tiếp với người tố cáo, cơ quan có thể yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng qua văn bản. Trường hợp tố cáo có yếu tố nước ngoài, quy trình xử lý tố cáo sẽ tuân theo các quy định tương ứng.
2. Thành phần nội dung làm việc với người tố cáo có bắt buộc phải lập thành biên bản không?
Theo quy định tại Điều 11 Nghị định 31/2019/NĐ-CP, khi tiến hành làm việc với người tố cáo, việc lập thành biên bản là bắt buộc. Trong quá trình này, người giải quyết tố cáo hoặc Tổ xác minh sẽ tiến hành làm việc trực tiếp với người tố cáo. Họ sẽ yêu cầu người tố cáo cung cấp thông tin, tài liệu và bằng chứng mà họ có được để làm rõ nội dung tố cáo. Người tố cáo có trách nhiệm trình bày một cách trung thực về nội dung tố cáo, hợp tác và cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung tố cáo mà mình có được.
- Nội dung của quá trình làm việc với người tố cáo phải được ghi chép và lập thành biên bản. Biên bản này cần có chữ ký của người tố cáo và người chủ trì làm việc với người tố cáo. Thông thường, biên bản sẽ được lập thành ít nhất hai bản, trong đó một bản sẽ được giao cho người tố cáo (nếu người tố cáo yêu cầu), và một bản sẽ được lưu trữ trong hồ sơ giải quyết tố cáo.
- Nếu người tố cáo không ký biên bản làm việc, thì người chủ trì làm việc với người tố cáo và các thành viên khác của Tổ xác minh sẽ ký biên bản và ghi rõ việc người tố cáo không ký.
- Quy trình lập biên bản làm việc phải tuân thủ theo Mẫu số 08 được quy định trong Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định nêu trên.
- Việc lập biên bản trong quá trình làm việc với người tố cáo nhằm tạo ra một bằng chứng về nội dung tố cáo và các thông tin liên quan, đồng thời đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong quá trình giải quyết tố cáo.
3. Biên bản làm việc với người tố cáo mới nhất sử dụng mẫu nào?
Mẫu biên bản làm việc với người tố cáo là một văn bản quan trọng trong quá trình xác minh thông tin và thu thập bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo. Để đảm bảo tính chính xác, minh bạch và đầy đủ thông tin, việc điền đúng mẫu biên bản làm việc là rất quan trọng. Hiện nay, biên bản làm việc được thực hiện theo Mẫu số 08 tại Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định 31/2019/NĐ-CP.
- Đầu tiên, biên bản cần ghi rõ tên cơ quan, tổ chức ban hành Quyết định thành lập Đoàn (Tổ) xác minh. Điều này giúp xác định nguồn gốc và trách nhiệm của bản biên bản. Tiếp theo, cần ghi rõ địa danh, nơi mà biên bản được thực hiện.
- Phần tiếp theo của biên bản là ghi rõ tên biên bản, ví dụ như "Biên bản làm việc trực tiếp với người tố cáo, người bị tố cáo" hoặc "Biên bản làm việc với cơ quan, tổ chức, cá nhân, để thu thập thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung tố cáo...". Điều này giúp xác định mục đích và phạm vi của cuộc làm việc.
- Tiếp theo, cần ghi rõ họ, tên, chức danh, địa chỉ và số điện thoại liên hệ (nếu có) của những người cùng làm việc. Những người này có thể là người tố cáo, người bị tố cáo, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có liên quan. Thông tin này giúp xác định danh tính và vai trò của các bên tham gia.
- Phần quan trọng tiếp theo của biên bản là ghi nội dung làm việc. Nội dung này bao gồm các thông tin liên quan đến cuộc làm việc, những tài liệu, thông tin và bằng chứng thu thập được. Ngoài ra, cần ghi lại ý kiến của những người cùng làm việc và thành viên Đoàn (Tổ) xác minh. Điều này giúp ghi nhận các quan điểm và ý kiến của các bên liên quan đối với nội dung tố cáo và quá trình làm việc.
Cuối cùng, cần ghi rõ tên cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân liên quan được Đoàn (Tổ) xác minh giao biên bản. Điều này giúp xác định người nhận và trách nhiệm của họ đối với biên bản. Trong trường hợp có người không ký, cần ghi rõ thông tin này trong biên bản để đảm bảo tính toàn vẹn và minh bạch của tài liệu. Cuối cùng, đại diện Đoàn (Tổ) xác minh nội dung tố cáo cần ký vào từng trang của biên bản. Điều này chứng thực tính chính xác và trách nhiệm của Đoàn (Tổ) xác minh đối với nội dung biên bản.
Quý khách có thể tham khảo thêm bài viết sau của Luật Minh Khuê >>> Người nước ngoài gửi quà về Việt Nam thì người nhận có phải nộp thêm phí gì không?
Quý khách có thể liên hệ trực tiếp đến hotline của chúng tôi qua số điện thoại: 1900.6162. Đội ngũ nhân viên chúng tôi luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp mọi thắc mắc của quý khách. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu và cung cấp thông tin chính xác, đáng tin cậy để giúp quý khách giải quyết vấn đề một cách hiệu quả. Ngoài ra, quý khách cũng có thể liên hệ với chúng tôi qua email: lienhe@luatminhkhue.vn. Qua email, quý khách có thể gửi chi tiết về vấn đề của mình và chúng tôi sẽ phản hồi lại trong thời gian sớm nhất. Chúng tôi cam kết bảo mật thông tin của quý khách và sử dụng nó chỉ để giải quyết vấn đề mà quý khách đang gặp phải.